Chăm sóc bệnh ung thư tại nhà

Chăm sóc bệnh ung thư tại nhà Bác sĩ chuyên khoa điều trị bệnh ngay tại nhà! Quên đi nỗi đau bệnh tật

UNG THƯ CỔ TỬ CUNGPhần 3: TẦM SOÁT UNG THƯ CỔ TỬ CUNG THẾ NÀO CHO ĐÚNGẤn thích trang để cập nhật nhiều hơn!1. Vì sao cần...
30/11/2021

UNG THƯ CỔ TỬ CUNG
Phần 3: TẦM SOÁT UNG THƯ CỔ TỬ CUNG THẾ NÀO CHO ĐÚNG
Ấn thích trang để cập nhật nhiều hơn!
1. Vì sao cần tầm soát ung thư cổ tử cung:
Ung thư cổ tử cung là ung thư thường gặp ở phụ nữ, đứng hàng thứ 2 sau ung thư vú. Tại Việt Nam, ước tính cứ 100.000 phụ nữ thì có 20 trường hợp mắc bệnh ung thư cổ tử cung và 11 trường hợp tử vong. Với những tiến bộ của y khoa hiện đại, bệnh này được chữa khỏi gần 100% các trường hợp nếu bệnh được phát hiện sớm. Tuy nhiên, nếu không được phát hiện sớm, ung thư cổ tử cung lại rất khó chữa.
• Đâu là thủ phạm gây ung thư cổ tử cung?
Thủ phạm hàng đầu gây ung thư cổ tử cung là nhiễm virus HPV. Một số yếu tố được xem là tăng nguy cơ nhiễm HPV và phát triển ung thư cổ tử cung như:
- Phụ nữ quan hệ tình dục sớm (trước 18 tuổi) hoặc quan hệ với nhiều người.
- Dùng thuốc tránh thai kéo dài.
- Sinh đẻ nhiều (từ trên 4 lần); hút thuốc lá;
- Tình trạng suy giảm miễn dịch như nhiễm HIV, mắc các bệnh lây qua đường tình dục, đặc biệt là viêm sinh dục do nhiễm Trichomonas, Chlamydia trachomatis, Herpes simplex virus type 2 (HSV2)…
- Các yếu tố khác như: nghèo nàn, lạc hậu, vệ sinh kém, thực phẩm nghèo chất dinh dưỡng (sinh tố A, acid folic, trái cây, rau tươi…).

Việc tầm soát sẽ giúp phát hiện sớm ung thư cổ tử cung, từ đó ngăn chặn tỷ lệ mắc và tỷ lệ tử vong do bệnh. Kể từ khi xét nghiệm tầm soát ung thư cổ tử cung (xét nghiệm tế bào học cổ tử cung hay còn gọi là xét nghiệm Pap) ra đời và ứng dụng rộng rãi trong cộng đồng thì tỷ lệ ung thư cổ tử cung đã giảm một cách đáng kể.

2. Làm thế nào để phát hiện sớm ung thư cổ tử cung?
Để phát hiện sớm ung thư cổ tử cung, điều quan trọng nhất đối với chị em phụ nữ là phải khám phụ khoa định kỳ ở các cơ sở y tế chuyên khoa để tầm soát và phát hiện sớm ung thư cổ tử cung với các phương pháp sau:
+ Pap smear - phết tế bào cổ tử cung:
Xét nghiệm nhanh, đơn giản, không đau để tìm tế bào bất thường ở bề mặt cổ tử cung. Có thể phát hiện dấu hiệu sớm của bệnh để can thiệp kịp thời. Tuy nhiên Pap smear đơn thuần dễ bỏ sót vì tỷ lệ âm tính giả cao, không phát hiện được nhiễm HPV nguy cơ cao gây ung thư.
Pap smear khó tầm soát ung thư biểu mô tuyến. Có đến 33% ung thư cổ tử cung xảy ra ở phụ nữ có kết quả xét nghiệm phết tế bào cổ tử cung bình thường.
+ Xét nghiệm DNA HPV
Từ khoảng 10 năm qua, tiến bộ trong việc tầm soát ung thư cổ tử cung là sự xuất hiện của xét nghiệm tìm DNA HPV trong dịch âm đạo, cổ tử cung. Trên thị trường đến nay đã có rất nhiều loại xét nghiệm tầm soát nhiễm HPV, từ loại chỉ đơn thuần phát hiện có nhiễm HPV đến những loại phát hiện được các týp nguy cơ cao gây ung thư cổ tử cung. Độ nhạy của các xét nghiệm tìm DNA HPV lên tới 90-95%, và điểm đáng chú ý là do có thể phát hiện nhiễm HPV trước khi có những biểu hiện bất thường trên tế bào, những đối tượng nhiễm HPV sẽ được theo dõi chặt chẽ nhờ đó sẽ được chẩn đoán và điều trị bệnh sớm hơn.
+ Soi cổ tử cung:
Là một biện pháp được áp dụng để phát hiện sớm ung thư cổ tử cung, được tiến hành khi thấy cổ tử cung có tổn thương bất thường hoặc với những phụ nữ trên 40 tuổi. Khi soi người ta sử dụng bằng máy soi có độ phóng đại từ 10-30 lần, có thể nối với tivi để xem, nối với máy vi tính để lưu hình ảnh và in ra thành bức ảnh để làm bằng chứng cho bệnh nhân thấy hoặc được lưu lại để theo dõi sau này.
+Sinh thiết cổ tử cung: Sinh thiết là phương tiện sau cùng và cho kết quả chính xác hơn cả, người ta tiến hành bằng cách lấy mô tại nơi soi cổ tử cung có tổn thương nghi ngờ rồi soi qua kính hiển vi để tìm tế bào ác tính.

+ Khi nào bắt đầu tầm soát
- Phụ nữ nên bắt đầu tầm soát lúc 21 tuổi. Không nên tầm soát nếu dưới 21 tuổi,
- Từ 21 đến 29 tuổi thực hiện Pap smear mỗi 3 năm. Không xét nghiệm HPV ở phụ nữ 21-29 tuổi vì tần suất nhiễm chủng HPV sinh ung ở tuổi này khoảng 20%, hầu hết trường hợp HPV sẽ biến mất mà không cần can thiệp. Phát hiện nhiễm HPV sẽ gây ra lo lắng, tốn chi phí tái khám và xử trí không cần thiết.
- Phụ nữ tuổi 30-64 nên thực hiện bộ đôi xét nghiệm (Pap smear và HPV) mỗi 5 năm, hoặc có thể Pap smear mỗi 3 năm.

+ Khi nào ngưng tầm soát
Khi bệnh nhân trên 65 tuổi với tầm soát âm tính đầy đủ trước đó và không có CIN2+ (u biểu mô mức độ 2 và các tổn thương mức độ cao hơn) trong vòng 20 năm gần nhất. Tầm soát âm tính đầy đủ tức là có 3 lần Pap smear liên tục âm tính hoặc 2 bộ đôi xét nghiệm liên tục âm tính trong 10 năm với lần xét nghiệm cuối cùng trong vòng 5 năm.

+ Chủng ngừa HPV
Chủng ngừa giúp hệ miễn dịch cơ thể nhận diện và tiêu hủy virus HPV trước khi virus xâm nhập vào cổ tử cung gây bệnh, hoặc trước khi bệnh tiến triển hoàn toàn. Văcxin ngừa HPV hiện nay dành cho phụ nữ 9 đến 26 tuổi, tốt nhất là khi chưa quan hệ tình dục. Phụ nữ muốn chích ngừa có thể đến các bệnh viện, trung tâm y tế chuyên khoa như Bệnh viện Ung Bướu, Bệnh viện Từ Dũ, Bệnh viện Hùng Vương…

Hiện nay Bệnh viện Ung Bướu Thành phố Hồ Chí Minh có đầy đủ các trang thiết bị y tế hiện đại để tầm soát, phát hiện sớm và điều trị ung thư cổ tử cung. Các xét nghiệm tầm soát ung thư cổ tử cung như Phết tế bào cổ tử cung (Pap test hay Pap smear), đặc biệt là Phết tế bào cổ tử cung bằng dung dịch (Khi mẫu tế bào được thu thập, các bác sĩ sẽ nhúng vào một lọ chất lỏng, thay vì trải ra một lam kính, giúp giảm đáng kể tỷ lệ xét nghiệm âm tính giả, đặc biệt tăng tỉ lệ phát hiện các tổn thương của tế bào biểu mô tuyến, giúp chẩn đoán chính xác giai đoạn sớm); xét nghiệm HPV (Phát hiện sớm phụ nữ có nguy cơ cao bị ung thư cổ tử cung). Đồng thời còn có các phương pháp phát hiện sớm và điều trị các tổn thương tiền ung hoặc ung thư giai đoạn sớm như Soi cổ tử cung, sinh thiết cổ tử cung bằng dao hoặc bằng vòng đốt điện (Leep), phẫu thuật cắt tử cung và cổ tử cung tận gốc bằng nội soi…
Nếu có bất cứ thắc mắc gì, người dân có thể liên hệ đường dây nóng tư vấn ung thư của bệnh viện hoặc đến Khoa tầm soát phát hiện sớm ung thư hoặc Khoa Ngoại 1 để được tư vấn.

Bs CKII NGUYỄN VĂN TIẾN
Trưởng Khoa Ngoại 1 - Ung Thư Phụ Khoa - BVUB TP. HCM












CÓ THỂ PHÁT HIỆN SỚM UNG THƯ BUỒNG TRỨNG HAY KHÔNG?Chỉ có khoảng 20% trường hợp ung thư buồng trứng được ...
10/11/2021

CÓ THỂ PHÁT HIỆN SỚM UNG THƯ BUỒNG TRỨNG HAY KHÔNG?
Chỉ có khoảng 20% trường hợp ung thư buồng trứng được chẩn đoán ở giai đoạn sớm. 94% trường hợp ung thư buồng trứng giai đoạn sớm có thể được điều trị khỏi. Do đó, có rất nhiều nghiên cứu đã và đang được thực hiện để tìm ra phương pháp chẩn đoán được ung thư buồng trứng ở giai đoạn sớm.
Những yếu tố làm tăng nguy cơ ung thư buồng trứng
• Lớn tuổi
• Có một hoặc nhiều ngườu thân họ hàng bị ung thư buồng trứng
• Có mang đột biến ở gen BRCA1 và BRCA2
• Có mang gen liên quan đến Hội chứng ung thư đại trực tràng không polyp có tính gia đình (hay còn gọi là Hội chứng Lynch)
• Không sinh con
• Béo phì
Các phương pháp để phát hiện sớm ung thư buồng trứng
Khám phụ khoa thường xuyên
Khi khám phụ khoa, bác sĩ có thể đánh giá được kích thước, hình dạng cũng như mật độ của buồng trứng và tử cung. Việc thăm khám vùng chậu có thể phát hiện sớm ung thư phụ khoa ở giai đoạn sớm; tuy nhiên, phần lớn các bướu buồng trứng có kích thước nhỏ rất khó phát hiện dù được thăm khám bởi các bác sĩ chuyên ngành giàu kinh nghiệm.
Đi khám sớm nếu có triệu chứng nghi ngờ
Ung thư buồng trứng ở giai đoạn sớm thường không có triệu chứng gì. Ở giai đoạn muộn, bệnh thường có biểu hiện các triệu chứng vay mượn của các cơ quan khác. Các triệu chứng thường gặp bao gồm: cảm giác bụng to dần hoặc căng tức vùng bụng (do bướu lớn hoặc dịch ổ bụng gây ra), đau bụng, ăn uống khó tiêu hoặc tiểu lắt nhắt. Tuy nhiên các triệu chứng này còn có thể gặp trong nhiều bệnh lý khác.
Trước khi xuất hiện triệu chứng, bướu có thể đã lan ra khỏi buồng trứng. Ngoài ra, một số loại ung thư buồng trứng có thể lan tràn, gieo rắc các cơ quan lân cận rất nhanh. Việc phát hiện sớm các triệu chứng vẫn có thể giúp chẩn đoán ung thư buồng trứng ở giai đoạn sớm. Nếu các bạn có các triệu chứng trên kéo dài trên vài tuần và không thể giải thích bằng các bệnh lý khác thì bạn phải đi khám ngay, đặc biệt là khám phụ khoa.
Các xét nghiệm dùng để tầm soát ung thư buồng trứng
Các xét nghiệm và khám tầm soát được dùng để phát hiện bệnh trước khi có các triệu chứng lâm sàng. Hiện nay đã có nhiều nghiên cứu được thực hiện để phát triển các xét nghiệm tầm soát ung thư buồng trứng nhưng đến nay vẫn chưa có nhiều kết quả khả quan. Siêu âm qua ngã âm đạo và định lượng CA-125 trong máu là hai xét nghiệm thường được sử dụng để tầm soát ung thư buồng trứng.
Siêu âm qua ngã âm đạo là kỹ thuật sử dụng sóng siêu âm phát ra từ đầu dò đặt trong âm đạo để khảo sát tử cung, vòi trứng và buồng trứng. Kỹ thuật này có thể phát hiện được bướu buồng trứng nhưng đôi lúc lại không thể phân biệt đây là bướu lành hay bướu ác. Do đó nếu dùng siêu âm để tầm soát ung thư buồng trứng sẽ phát hiện nhiều trường hợp bướu lành hơn là ung thư.
CA-125 là một protein có trong máu. CA-125 thường tăng cao ở những bệnh nhân ung thư buồng trứng. Xét nghiệm này thường có ích trong việc theo dõi sau điều trị ung thư buồng trứng vì nồng độ CA-125 trong máu thường giảm sau điều trị và sẽ có khuynh hướng tăng trở lại khi bệnh tái phát. Tuy nhiên, định lượng CA-125 trong máu không phải là một xét nghiệm có giá trị trong tầm soát ung thư buồng trứng. Nguyên nhân là do CA-125 có thể tăng trong một số bệnh lý khác ngoài ung thư buồng trứng, bao gồm: lạc nội mạc tử cung, bướu sợi tử cung, xơ gan, viêm nhiễm vùng chậu hoặc trong các bệnh lý ung thư khác như ung thư nội mạc tử cung, vú, phổi và tụy.. Ở những phụ nữ không có bướu buồng trứng thì việc tăng CA-125 trong máu thường là do các nguyên nhân khác chứ không phải do ung thư buồng trứng. Ngược lại, không phải tất cả bệnh nhân ung thư buồng trứng đều có nồng độ CA-125 tăng cao.
Các nghiên cứu cho thấy việc sử dụng siêu âm qua ngã âm đạo và định lượng CA-125 trong máu để tầm soát ung thư buồng trứng ở những người có nguy cơ trung bình sẽ dẫn đến việc thực hiện nhiều xét nghiệm và phẫu thuật không cần thiết nhưng lại không làm giảm tỉ lệ tử vong do ung thư buồng trứng. Vì những lý do nói trên, hiện nay hầu hết các tổ chức y khoa danh tiếng trên thế giới đều không khuyến cáo sử dụng hai xét nghiệm trên để tầm soát ung thư buồng trứng. Một số chuyên gia khuyến cáo có thể sử dụng các xét nghiệm trên để tầm soát ung thư buồng trứng ở những người có nguy cơ cao như có tiền căn gia đình bị ung thư vú, buồng trứng, đột biến gen BRCA1-2 và Hội chứng Lynch.
ThS BS CKI: Đoàn Trọng Nghĩa

Ấn thích Fanpage để cập nhật!

CARCINOMA TUYẾN GIÁP DẠNG TỦY (medullary thyroid cancer-MTC)(Thích trang để cập nhật và được tư vấn)Làm BS thỉnh thoảng ...
06/11/2021

CARCINOMA TUYẾN GIÁP DẠNG TỦY (medullary thyroid cancer-MTC)
(Thích trang để cập nhật và được tư vấn)

Làm BS thỉnh thoảng sẽ gặp loại bệnh mà mình không có kiến thức hoặc có mà rất ít về nó. Làm sao bây giờ. Nhưng cũng không nên để lộ cho bệnh nhân biết, họ sẽ lo thêm; lại càng không nên tỏ ra hiểu biết rồi điều trị đại, hậu quả rất tai hại. Tuần rồi ở có một bệnh hiếm. Bệnh án như sau:

Bn nam 26 tuổi được chẩn đoán ung thư tuyến giáp và đã được cắt giáp gần trọn và nạo hạch cổ 2 bên. GPB carcinoma dạng tủy (10/1014). Khoảng 1 tháng nay bn khàn tiếng và khó thở, CT ngực cho thấy có nhiều hạch trung thất quanh carina từ 2-4cm. Calcitonin/máu 2000pg/ml.
Tuy chưa có GPB của hạch trung thất nhưng cũng có thể coi hạch này có liên quan đến carcinoma dạng tủy (MTC) vì bn này không tái phát tại vùng cổ nhưng lại có calcitonin tăng rất cao.
Bn này khó thở nhẹ, không cần cấp cứu, có thể trì hoãn 2-3 ngày để về đọc sách nghiên cứu cái đã!
Từ uptodate.com có thể tóm tắt như sau:
Ung thư tuyến giáp dạng tủy (medullary thyroid cancer-MTC) là loại ung thư tuyến giáp hiếm gặp và rất đặc biệt.
Hiếm gặp là vì nó chiếm chỉ có 4% các loại carcinoma tuyến giáp.
Đặc biệt là vì xét về khía cạnh giải phẫu bệnh nó là loại bướu thần kinh nội tiết, nguồn gốc từ tế bào C quanh nang tuyến giáp. Phôi thai học, tế bào C này gốc từ mào thần kinh.
Chính vì vậy mà loại ung thư này ít ảnh hưởng đến chức năng tuyến giáp; đặc biệt là ung thư này tiết nhiều calcitonin và CEA nên có thể xem hai chất này như là dấu hiệu theo dõi.
Có hai thể lâm sàng: di truyền và không di truyền
(1) Thể không liên quan di truyền:
- Chiếm 80% MTC
- Hơn 50% di căn hạch cổ lúc chẩn đoán.
- 15% gây khó nuốt, khàn tiếng
- 5% đã có di căn xa: gan, xương, phổi.
- Bướu tiết calcitonin nên gây triệu chứng tiêu chảy, đỏ mặt
- Bướu cũng có thể tiết ACTH gây hội chứng Cushing
(2) Thể di truyền:
Thường kèm theo hội chúng MEN2: pheochromocytoma, cường cận giáp
Điều trị toàn thân cho MTC di căn xa:
Do có nguồn gốc từ tế bào thần kinh nội tiết nên MTC không bắt Iode phóng xạ và vì vậy không thể điều trị MTC bằng Iode phóng xạ
Xạ trị ngoài cũng không hiệu quả.
Điều trị bằng thuốc thì được chấp nhận:
Hóa trị hoặc TKIs.
Hóa trị dựa trên phác đồ có dacarbazine được nghiên cứu nhiều hơn những thuốc khác.
MTC có thụ thể RET giống như EGFR của ung thư phổi, RET cũng có phần trong màng tế bào có vị trí mang tyrosine kinase.
Hai thuốc có thể ức chế RET ở vị trí tyrosine kinase là vandetanib và carbozantinib được nghiên cứu cho thấy có tỉ lệ đáp ứng từ 25-50%. Hai thuốc này cò có một tác động chống sinh mạch qua việc ức chế tyrosine kinase của VGFR thuộc tế bào nội mạc mạch máu. Nexavar cũng được đề nghị ở những quốc gia không có sẵn 2 thuốc trên.

Posted by Nguyễn Tuấn Khôi at 12:49 PM












ĐIỀU TRỊ NỘI TIẾT UNG THƯCác loại ung thư chịu ảnh hưởng của nội tiết tố là ung thư vú, ung thư nội mạc tử  cung, ung th...
05/10/2021

ĐIỀU TRỊ NỘI TIẾT UNG THƯ

Các loại ung thư chịu ảnh hưởng của nội tiết tố là ung thư vú, ung thư nội mạc tử cung, ung thư tiền liệt tuyến.

Ấn thích Fanpage của chúng tôi- trung tâm cấp cứu chăm sóc ung thư tại nhà UB115

1. Ung thư vú và estrogen

- Estrogen là gì ?
Là những chất có nhiệm duy trì ngoại hình nữ tính của phụ nữ: ngực, mông phát triển hơn nam giới; ngoài ra chúng còn giúp phát triển cơ quan sinh dục nữ.
Estrogen tên gọi chung của một nhóm gồm hai chất: estron, estradiol. Hai chất này được buồng trứng sản xuất ra rồi tiết vào trong máu rồi đi khắp cơ thể để tác động đến các cơ quan khác.

- Estrogen tác động lên những cơ quan nào ? (hình 1)

Vì là một nội tiết tố sinh dục nên estrogen tác động chính yếu lên hai cơ quan sinh dục là vú và tử cung.
Ngoài ra estrogen còn tác động lên não, tim, gan, xương.

- Vì sao estrogen lại chỉ tác động đến các cơ quan nói trên ?

Vì chỉ có những tế bào của các cơ quan nói trên mới có nơi tiếp nhận estrogen. Nơi tiếp nhận này y học gọi là thụ thể estrogen. Các cơ quan khác không có thụ thể này nên không bị ảnh hưởng bởi estrogen.

- Thụ thể estrogen là gì ?

Thụ thể estrogen là một thành phần nằm trong nhân tế bào, dọc theo chuỗi DNA. Khi thụ thể estrogen bị kích thích, tế bào sẽ sản sinh ra các chất làm thay đổi hoạt động của các tế bào.(hình 2)

VD: + Tế bào gan khi bị estrogen kích thích sẽ tạo ra cholesterone

+ Khi có thai, lượng estrogen tăng cao, các tế bào của tuyến sữa của vú khi bị estrogen kích thích nhiều sẽ tăng sinh thêm nhiều tế bào chuẩn bị cho sự tạo sữa sau khi sanh.

- Estrogen có liên quan gì đến ung thư vú ?

Estrogen kích thích tế bào ung thư của vú tăng sinh nhiều hơn (hình 3). Tuy nhiên không phải tế bào ung thư vú nào cũng có thụ thể estrogen cả nên không phải bệnh nhân ung thư vú nào cũng có khối u vú bị estrogen kích thích phát triển. Y khoa có cách lấy khối u của bệnh nhân làm xét nghiệm để biết có thụ thể estrogen hay không.

- Vậy thì nếu có một loại thuốc cản trở hoạt động của estrogen thì ung thư vú sẽ ngừng phát triển ?

Đúng vậy! Nhưng nhớ là chỉ đối với những khối u có chứa những tế bào có thụ thể estrogen mà thôi. Các khối ung thư vú đều được xét nghiệm xem có thụ thể estrogen hay không. Nếu để ý ta sẽ thấy kết quả xét nghiệm thường có chữ viết tắt như sau: ER (+), ER (++), ER (+++). ER viết tắt của tiếng Anh là estrogen receptor nghĩa là thụ thể estrogen. Dấu cộng là dương tính có nghĩa là có thụ thể estrogen trong khối bướu, càng nhiều dấu cộng thì thụ thể estrogen càng nhiều.

-Các thuốc loại này là những thuốc nào ?

Có nhiều loại thuốc, cơ chế chung là cản trở hoạt động của estrogen tại tế bào ung thư vú nhưng cách cản trở thì có khác nhau.

(1) Tamoxifen:

Ở bệnh nhân ung thư vú, estrogen được tiết ra bởi buồng trứng hoặc tuyến thượng thận sẽ lưu hành trong máu đi khắp nơi trong cơ thể. Tại khối ung thư vú, estrogen sẽ gắn kết vào tế bào ung thư tại thụ thể estrogen của tế bào này làm kích thích tế bào ung thư phát triển.

Thuốc tamoxifen cũng gắn kết vào thụ thể estrogen nhưng lại không kích thích tế bào ung thư phát triển và vì vậy tamoxifen trở nên một “đối thủ cạnh tranh” của estrogen và làm cho estrogen không có cơ hội kích thích ung thư vú phát triển. (hình 1)

(2) Thuốc ức chế aromatase:

Thuốc này làm cản trở việc sản xuất estrogen của cơ thể. Như đã biết, estrogen được sản xuất chủ yếu từ buồng trứng, ngoài ra nó còn được sản xuất từ các cơ quan khác như tuyến trên thận. Thuốc này không cản trở sự sản xuất estrogen từ buồng trứng mà nó chỉ cản trở sự sản xuất estrogen tạt các cơ quan khác như thượng thận.

Phụ nữ đã mãn kinh, buồng trứng giảm khả năng tạo ra estrogen nên lọai thuốc này được dùng để điều trị ung thư vú ở phụ nữ đã mãn kinh.

Các thuốc thuộc nhóm này gồm: anastrazole (Arimidex®), exemestane (Aromasin®), letrozole (Femara®).

2. Ung thư tiền liệt tuyến và androgen

- Tiền liệt tuyến là gì ?

Là một tuyến nhỏ chỉ có ở nam giới, bao quanh đường tiểu (niệu đạo), dưới bàng quang.

- Androgen là gì ?

Androgen là từ để chỉ một nhóm gồm các nội tiết tố của nam giới gồm: testosterone dihydrotestosterone (DHT)…

Những nội tiết tố này giúp hình thành nam tính: tạo tinh trùng, phát triển cơ bắp.

Adrogen được tạo ra từ tinh hoàn, tuyến trên thận cũng tạo ra androgen nhưng rất ít.

- Androgen kích thích ung thư tiền liệt tuyến phát triển như tế nào ?

Androgen được tạo ra từ tinh hoàn rồi từ tinh hoàn chúng được đưa vào máu để đi khắp nơi trong cơ thể. Tế bào ung thư của tiền liệt tuyến có thụ thể androgen nên androgen gắn kết tại đó.

Sau khi gắn kết chúng sẽ kích thích bộ gen của tế bào ung thư hoạt động để tạo ra các protein đặc biệt. Các protein đặc biệt này giúp tế bào ung thư sinh sản, phát triển nhanh.

- Các thuốc điều trị nội tiết chống ung thư tiền liệt tuyến hoạt động ra sao ?

Muốn hiểu rõ về hoạt động của các thuốc này thì trước tiên cần phải biết androgen được hình thành như thế nào.

Như ở trên đã nói, androgen được tạo thành từ hai tinh hoàn và ha tuyến trên thận.

Tuy nhiên ít ai ngờ rằng việc tạo ra androgen lại được điều khiển từ tận trên não!

Thật vậy, trên não có hai vùng làm việc này:

Vùng dưới đồi có tuyến tùng tạo ra chất LHRH, chất này tác động đến vùng thứ hai của não là tuyến yên, làm cho tuyến yên tạo ra chất LH. Chất LH sẽ theo dòng máu đến tinh hoàn hoặc tuyến trên thận, kích thích tế bào của cơ quan này tạo ra androgen.

Như vậy việc tạo ra androgen diễn ra ở nhiều cơ quan theo kiểu dây truyền tín hiệu, do nhiều cơ quan đảm trách. Thuốc chống ung thư tiền liệt tuyến cũng theo các yếu tố trong dây truyền đó mà tác động.

(1) Thuốc đồng phân của LHRH:

Thuốc này có cấu trúc hóa học giống LHRH, sự hiện diện ở nồng độ cao của thuốc này trong máu làm cho tuyến tùng dừng tiết LHRH. Giảm nồng độ LHRH trong máu sẽ làm cho tinh hoàn giảm tiết androgen và vì vậy tế bào ung thư không còn bị kích thích phát triển bởi androgen nữa.

Nhóm thốc này gồm leuprolide, goserelin, and buserelin. Các thuốc này được bào chế dưới dạng tiêm vào cơ thể hoặc cấy dưới da.

(2) Thuốc đối vận LHRH:

LHRH là một nội tiết tố được tiết ra bởi tuyến tùng trong não. Chất này theo máu đến kích thích tuyến yên tiết ra LH.

Thuốc đối vận LHRH ngăn cản không cho LHRH gắn kết với tế bào tại tuyến yên, do vậy tuyến yên không thể tăng tiết LH được. Degarelix là thuốc thuộc nhóm này.

(3) Thuốc kháng androgen:

Androgen được tinh hoàn tiết vào máu rồi theo dòng máu đến tiền liệt tuyến bám vào thụ thể và kích thích tế bào của ung thư của tiền liệt tuyến phát triển. Thuốc kháng androgen cạnh tranh với androgen làm cho androgen không có cơ hội để bám vào tế bào ung thư của tiền liệt tuyến.
Nhóm này gồm các thuốc: flutamide, enzalutamide, bicalutamide, and nilutamide.

Posted by Nguyễn Tuấn Khôi at 11:14 PM











UNG THƯ CỔ TỬ CUNG  HPV và CÁCH PHÒNG NGỪA UNG THƯ CỔ TỬ CUNGẤn thích Fanpage của chúng tôi- trung tâm cấp cứu chăm sóc ...
03/10/2021

UNG THƯ CỔ TỬ CUNG
HPV và CÁCH PHÒNG NGỪA UNG THƯ CỔ TỬ CUNG
Ấn thích Fanpage của chúng tôi- trung tâm cấp cứu chăm sóc ung thư tại nhà UB115!
• Virut Human Pappiloma (HPV) - tác nhân chủ yếu của ung thư cổ tử cung
Thống kê của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) mỗi năm trên thế giới hiện có trên 500.000 ca mắc mới ung thư cổ tử cung, trong đó có khoảng 250.000 ca tử vong. Tại Việt Nam, trung bình mỗi ngày có khoảng 14 ca mắc mới, trong đó khoảng 7 ca tử vong.
99,7% các trường hợp ung thư cổ tử cung có sự hiện diện của virut HPV. Vì vậy, việc nhiễm virut HPV được coi là yếu tố nguy ngơ cao dẫn đến căn bệnh ung thư nguy hiểm này.
Human Papilloma Virus (còn gọi là vi rút HPV) là loại vi rút với hơn 100 týp, trong đó có khoảng 15 týp có khả năng gây ung thư gọi là týp “nguy cơ cao” và phổ biến nhất là các týp HPV 16 và 18 gây ra hơn 70% trường hợp ung thư cổ tử cung trên toàn cầu, kế đến là týp 31 và 45.
Virut HPV lây nhiễm qua quan hệ tình dục. Ngay cả khi chỉ tiếp xúc ngoài da thì loại virut này cũng có thể bị lây nhiễm. Vì vậy, tất cả các phụ nữ có quan hệ tình dục đều có nguy cơ bị nhiễm virut HPV. Trong cuộc đời mình, mọi phụ nữ đều có nguy cơ nhiễm virut HPV khi quan hệ tình dục.
Hầu hết các trường hợp lây nhiễm virut HPV đều không có biểu hiện cụ thể. Bệnh có thể tự khỏi mà không cần điều trị sau vài tháng xuất hiện. Tuy nhiên, nếu nhiễm HPV týp có nguy cơ cao có thể tồn tại lâu dài làm biến đổi gen tế bào cổ tử cung một cách bất thường gây ra các tổn thương ở mức độ thấp và tăng dần dẫn đến ung thư. Quá trình này diễn ra âm thầm trong thời gian dài từ 10 đến 15 năm.
Ung thư cổ tử cung thường xảy ra với phụ nữ ở độ tuổi 40-60, nhưng thường gặp nhất với những người 50-55 tuổi.
Tuy vậy, mầm mống gây bệnh là vi rút HPV có thể đã âm thầm tồn tại trong cơ thể từ hàng chục năm trước đó. Một số quốc gia ghi nhận căn bệnh này có xu hướng trẻ hóa, do độ tuổi bắt đầu quan hệ tình dục của bé gái có sớm hơn 10 năm trước, dẫn đến nguy cơ nhiễm HPV và ung thư ở tuổi đời còn rất trẻ. Ung thư cổ tử cung có thể xảy ra với những người mới tuổi 20
Nếu được phát hiện từ sớm, tỷ lệ chữa khỏi bệnh ở giai đoạn tiền ung thư là 100%. Ở giai đoạn I, tỷ lệ đạt 85-90%, giảm dần đến giai đoạn II còn 50-75%, giai đoạn III chỉ 25-40% và dưới 15% người bệnh ở giai đoạn IV còn sống sau năm năm

Vậy làm thế nào để phòng ngừa việc lây nhiễm virut HPV cho phụ nữ có quan hệ tình dục?
- Tiêm vắc xin phòng chống lây nhiễm của virut HPV là biện pháp hiệu quả để giảm nguy cơ dẫn đến bệnh ung thư cổ tử cung. Tại Việt Nam, văcxin ngừa HPV đã được Bộ Y tế cấp phép sử dụng từ năm 2007, có hiệu quả phòng tổn thương tiền ung thư cổ tử cung gây ra bởi 2 chủng HPV 16, 18. Bên cạnh đó, văcxin còn tác dụng phòng mụn cóc ở cơ quan sinh dục và ung thư cơ quan sinh dục (dương vật, âm đạo, âm hộ, hậu môn...) (Tuy Nhiên dù đã chích vắc-xin phòng ngừa HPV nhưng phụ nữ có quan hệ tình dục vẫn cần được sàng lọc ung thư cổ tử cung).
- Đối tượng tiêm vắc xin phòng ngừa HPV tốt nhất là những phụ nữ từ 9 đến 26 tuổi và chưa quan hệ tình dục. Những trường hợp phụ nữ dưới 40 tuổi và đã quan hệ tình dục và đã sinh con thì hiệu quả phòng ngừa của vắc xin bị ảnh hưởng đáng kể.
- Không nên có quan hệ tình dục ở tuổi vị thành niên bởi đây là giai đoạn các cơ quan sinh dục đang phát triển và rất nhạy cảm. Do đó, việc quan hệ tình dục sớm sẽ đem đến nguy cơ cao dẫn đến việc lây nhiễm virut HPV.
- Nên sử dụng bao cao su trong các lần quan hệ tình dục để giảm nguy cơ lây nhiễm virut HPV từ bạn tình. Xây dựng đời sống tình dục lành mạnh, không nên có nhiều bạn tình và thực hiện quan hệ tình dục không an toàn nhằm giảm nguy cơ nhiễm HPV.
- Chị em phụ nữ nên vệ sinh vùng kín sạch sẽ trong các kỳ kinh hoặc sau khi quan hệ tình dục. Khi có những biểu hiện bất thường cần đến cơ sở y tế để khám và điều trị kịp thời.

Tóm lại, xây dựng lối sống lành mạnh là yếu tố quan trọng giúp chị em phụ nữ giảm nguy cơ lây nhiễm virut HPV - tác nhân chủ yếu dẫn đến bệnh ung thư cổ tử cung. Ngoài ra, chúng ta có thể tầm soát định kỳ nhằm phát hiện tế bào ung thư cổ tử cung và xét nghiệm để tiêu diệt virut HPV sớm nhất có thể làm giảm nguy cơ mắc bệnh. Phát hiện và điều trị những tổn thương bất thường để điều trị kịp thời. Chi phí xét nghiệm chỉ từ 350.000-800.000 đồng nhưng có giá trị bảo vệ cao. Nếu phát hiện sớm có thể điều trị khỏi hoàn toàn. Nếu để bệnh phát triển đến giai đoạn muộn thì nguy cơ tử vong rất cao.

Những nơi phụ nữ có thể đến làm xét nghiệm tầm soát ung thư cổ tử cung:
- Các bệnh viện chuyên khoa ung thư.
- Các bệnh viện sản - phụ khoa.
- Các trung tâm dịch vụ về dân số và kế hoạch hóa gia đình.

Việc phòng tránh bệnh ung thư cổ tử cung phải luôn được đặt lên hàng đầu. Chị em phụ nữ nên quan tâm đển những biểu hiện bất thường để không phải lo lắng về căn bệnh nguy hiểm này.

Bs CKII NGUYỄN VĂN TIẾN
Trưởng Khoa Ngoại 1 - Ung Thư Phụ Khoa - BVUB TP. HCM




















PHÓNG XẠ TRONG MÔI TRƯỜNG VÀ BỆNH UNG THƯLike Fanpage cấp cứu ung thư UB115 và theo dõi chúng tôi!Năm 1986 một thảm hoạ ...
27/09/2021

PHÓNG XẠ TRONG MÔI TRƯỜNG VÀ BỆNH UNG THƯ
Like Fanpage cấp cứu ung thư UB115 và theo dõi chúng tôi!
Năm 1986 một thảm hoạ hạt nhân lớn nhất trong lịch sử loài người đã xảy ra tại Checnobyl, Liện Xô, nay là Ucraina. Nhà máy năng lượng hạt nhân đã bị nổ, các chất phóng xạ được tung vào môi trường , hơn 600 công nhân đang làm trong nhà máy bị lãnh hàm lượng phóng xạ rất cao, nhiều người chết ngay, một số người nhập viện. Con số chính xác không được biết vì lúc đó Liên Xô bưng bít thông tin với truyền thông. Hậu quả của thảm hoạ này còn ảnh
hưởng lâu dài cho đến nay và nhiều năm nữa vì chất phóng xạ ngoài việc gây tử vong, thương vong ngay lập tức nó còn tiềm ẩn nguy cơ gây ung thư.

Phóng xạ là gì ?
Phóng xạ còn gọi là bức xạ ion hoá là những tia có năng lượng cao nên có thể ion hoá vật chất nên gây hại cho con người.
Phóng xạ được tạo ra từ những chất đồng vị phóng xạ khi phân rã sẽ tạo ra những tia có năng lượng rất lớn. Chất phóng xạ tại nhà máy năng lượng tại Checnobyl là I-131, Cs-137, and Sr-90.
Nguyên tử của chất đồng vị phóng xạ có hạt nhân không bền vững, hạt nhân trong nguyên tử này dễ bị phân rã, mỗi khi phân rã sẽ tạo nên năng lượng rất lớn dưới dạng tia gọi là phóng xạ.
Phóng xạ còn được tạo ra từ những máy phát phóng xạ như máy chụp X quang, CT, máy xạ trị trong y khoa.
Bức xạ (radiation) là những tia có năng lượng. Có hai loại bức xạ: bức xạ ion hoá (phóng xạ) và bức xạ không ion hoá.
Bức xạ không ion hoá có năng lượng thấp nên không đủ sức ion hoá vật chất nên không gây hại cho con người. TD: sóng điện thoại di động, sóng radio, song của lò viba …
Như vậy phóng xạ là một dạng năng lượng cao và nguy hiểm của bức xạ.

Phóng xạ có thể có trong chính căn nhà chúng ta!

Thật vậy, khí radon là một khí không màu, không mùi được tạo ra từ chất phóng xạ uranium hiện diện với một hàm lượng ít trong đất đá, trong nước ngầm, trong không khí. Con người có thể hít phải khí radon, uống phải nguồn nước có chứa uranium. Tuỳ vùng địa lý khí radon có thể nhiều hay ít. Những nơi không khí bị tù đọng như hầm mỏ khí radon tích tụ với hàm lượng cao hơn. Trong toà nhà, những vết nứt ở sàn và tường,những khoang trống ở sàn nhà là nơi thoát của khí radon. Cơ quan bảo vệ môi trường Mỹ (The U.S. Environmental Protection Agency -EPA) đánh giá khí radon là yếu tố tăng nguy cơ ung thư phổi hàng thứ hai sau thuốc lá. Trên thị trường ở Mỹ cũng có bán những bộ dụng cụ để đo lượng khí radon trong nhà. Hình 1.

Phóng xạ từ bệnh viện

Các máy xạ trị ung thư, máy chụp X quang, máy chụp CT, máy chụp PET là những máy phát ra phóng xạ ion hoá vì vậy bác sĩ sẽ cân nhắc lợi – hại khi cho bệnh nhân được thực hiện các máy trên. Hình 2.

Không chỉ có bệnh viện, một số nhà máy có sử dụng chất phóng xạ trong quy trình sản xuất nếu không tuân thủ các nguyên tắc an toàn gây rò rỉ phóng xạ ra môi trường gây tác hại khó lường được.
Hình 3 . Nguồn phóng xạ Co-60 của nhà máy thép Pomina III tại Vũng Tàu bị mất đến nay chưa tìm được

Thuốc lá cũng có phóng xạ
Hai hoạt chất phóng xạ là polonium-210 và lead-210 có trong thuốc lá làm tăng nguy cơ ung thư phổi cho người hút và người hít phải khói thuốc. Nhựa thuốc lá phá huỷ tạo nên những lỗ nhỏ trên phổi, chất phóng xạ nói trên đọng lại trong lỗ nhỏ này với thời gian lâu dài để tăng nguy cơ gây ung thư phổi.
Phóng xạ từ các nhà máy năng lượng hạt nhân
Các nhà máy năng lượng hạt nhân sử dụng các đồng vị phóng xạ để tạo ra phóng xạ tức là năng lượng. Năng lượng này được chuyển đổi thành các dạng năng lượng khác như điện năng. Như vậy là các nhà máy này chứa đựng một lượng lớn chất phóng xạ và các chất này trải qua một quá trình phân rã để tạo ra năng lượng rất lớn tại những lò phản ứng. Quy trình kỹ thuật tại những nhà máy này rất nghiêm ngặt, tuy vậy cũng không thể tránh khỏi những tai nạn do bất cẩn, do kỹ thuật yếu kém như thản hoạ Checnobyl đã nói trên hoặc do thiên tai như vụ sóng thần kèm theo động đất năm 2011 tại Nhật Bản làm chấn động nhà máy điện hạt nhân Fukishuma I và II khiến chất phóng xạ lan ra môi trường theo đường biển và theo những đám mây đưa đi rất xa.
Phóng xạ từ vũ khí hạt nhân nếu như chúng được sử dụng trong chiến tranh
Chúng ta đã từng biết tới hậu quả của hai quả bom nguyên tử được thả tại Hiroshima và Nagashaki năm 1945.
Tia vũ trụ cũng mang năng lượng lớn, tia này tương tác với các phân tử khí ở thượng tầng khí quyển để tạo ra phóng xạ gamma
Liều phóng xạ này sẽ cao ở những vùng núi cao.

Vì sao phóng xạ ion hoá có thể gây ung thư ?

Phóng xạ ion hoá gây phản ứng ion hoá đối với DNA làm cho DNA thay đổi cấu trúc hoá học và trở thành gien bị đột biến (gien là một đọan của DNA).
Có những đột biến trực tiếp biến thành gien sinh ung thư khiến tế bào bình thường thành tế bào ung thư. Tế bào ung thư mới xuất hiện này nếu không bị cơ thể chúng ta thanh lọc từ đầu thì nó sẽ sinh sôi nẩy nở thành bệnh ung thư tiến triển nhanh. Cũng có khi tế bào ung thư mới xuất hiện này sẽ bị cơ thể loại trừ ngay từ đầu bằng cơ chế miễn dịch nên không có cơ hội để biến thành bệnh ung thư. Lại cũng có khi gien bị đột biến này lại được một gien khác của cơ thể sửa chữa nên bệnh ung thư cũng không thể xuất hiện được. Hình 4
Có những đột biến xảy ra trên những gien sửa chữa khiến cơ thể mất đi khả năng sửa chữa những đột biến của những gien khác trong đó có những gien sinh ung thư.
Như vậy phải mất một thời gian khá dài để phóng xạ gây bệnh ung thư cho con người. Đối với ung thư máu là từ 2-10 năm; đối với ung thư các cơ quan khác phải mất đến trên 10 năm mặc dù chất phóng xạ chỉ tồn tại trong môi trường với thời gian không dài lắm. TD: chất đồng vị phóng xạ I-131 có chu kỳ bán rã là 8 ngày.
Các loại phóng xạ khác nhau cũng gây ra các loại ung thư khác nhau. Chất đồng vị phóng xạ I-131 thường gây ung thư tuyến giáp vì chỉ có tuyến giáp mới bắt chất này.
Trẻ em bị ảnh hưởng bởi phóng xạ nghiêm trọng hơn người lớn vì trẻ em trong giai đoạn phát triển nên các tế bào đều phân chia rất nhanh.
Chúng ta nên làm gì nếu ở rất vùng vừa có nổ nhà máy năng lượng hạt nhân ?
Vì ở ngoài trời là nơi có lượng phóng xạ rất cao nên Trung tâm quản lý bệnh tật Hoa Kỳ (CDC) khuyên chúng ta 3 điều sau:
1. Nếu đang ở ngoài đường thì nhanh chóng vào nhà, đóng cửa lại, dùng vòi nước tắm sạch toàn thân.
2. Nếu ở trong nhà thì không được ra khỏi nhà, ngay cả dùng xe hơi để chạy xa khỏi khu vực gặp nạn cũng không nên vì xe hơi không an toàn trong việc cách ly với phóng xạ.
3. Luôn luôn giữ liên lạc với bên ngoài để chờ được nhân viên chuyên trách ứng cứu.
BS NGUYÊN DUY
Posted by Nguyễn Tuấn Khôi at 2:33 PM
Like Fanpage để cập nhật!










Address

Nguyễn Oanh
Ho Chi Minh City

Telephone

+84349823900

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Chăm sóc bệnh ung thư tại nhà posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Contact The Practice

Send a message to Chăm sóc bệnh ung thư tại nhà:

Share

Share on Facebook Share on Twitter Share on LinkedIn
Share on Pinterest Share on Reddit Share via Email
Share on WhatsApp Share on Instagram Share on Telegram