Enlightenment and Liberation

Enlightenment and Liberation This page show YOU how to ENLIGHTEN and LIBERATE by the Buddha, using the books of Nguyễn Nhân Editor.

03/08/2022
31/07/2022

THÁI ĐỘ TÂM LINH CỦA ĐẠO PHẬT
Tỳ-kheo THÍCH MINH CHÂU
Bài diễn thuyết tại Đại Học Văn khoa Sài Gòn ngày 6 tháng 4 năm 1967.

Kính thưa quý vị,

Giữa thời thế điêu linh này, sự hiện diện của quý vị trong buổi nói chuyện hôm nay đã nói lên ý thức mở rộng của quý vị trước một đề tài mà có thể có người cho rằng không mấy hấp dẫn lắm. Trước những tin tức dồn dập của chính trường quốc tế và chiến sự Việt Nam, trước những biến thiên dữ dội của đời sống xã hội thời loạn, một đề tài nói chuyện nhan đề “Thái độ tâm linh của đạo Phật” có tính cách không được thiết thực lắm và dễ trở thành một đề tài trí thức thông thường của đời sống Đại Học hoặc cũng dễ trở thành một bài thuyết pháp nặng mùi tín điều tôn giáo mà người nói chỉ là người truyền đạo đứng trên cao nhìn xuống cuộc đời dưới kia.

Không phải thế. Chúng tôi không nghĩ vậy. Nơi diễn đàn hôm nay, chúng tôi sẽ cố gắng trình bày vài ba điểm cần thiết để đánh tan những ngộ nhận có thể có được của người xa lạ với tư tưởng chính yếu của đạo Phật. Trước hết, chúng tôi xin vào đề ngay rằng đạo Phật không phải là một tôn giáo, dù nghĩa “tôn giáo” hiểu theo truyền thống Tây phương hay Đông phương. Nói đến “tôn giáo” là nói đến “tín ngưỡng”, “giáo hội”, “giáo quyền”, “thần quyền”, “thần khải”, v.v... Đạo phật gồm có đủ những điều vừa kể, nhưng điều quan trọng nhất là tất cả chúng ta cần phải lưu tâm: Những điều vừa kể không làm đạo phật trở thành đạo phật, mà chỉ là những hình thức tất yếu xuất phát từ sự thoái hóa tinh thần của những người tự nhận là theo đạo Phật. Đạo phật không phải là “tôn giáo” mà cũng không phải là “triết lý” hay “triết học”. Tư tưởng triết lý của đạo Phật chỉ là hậu quả tất yếu của sự sinh thành biện chứng trong sinh hoạt tâm linh của người theo đạo Phật.

Người ta thường hay nhấn mạnh đến khía cạnh thực tế, thực tiễn của đạo Phật trước những vấn đề quan trọng của đời sống; vì thế có người cũng đã từng cho rằng đạo Phật là một chủ nghĩa thực nghiệm, một thứ “positivisme” gần gần như Auguste Comte, một thứ “empirisme” hay “Phénoménisme” gần gần như David Hume, một thứ “Pragmatisme” gần gần như William James. Rồi cũng có người đem so sánh phật giáo với những hệ thống triết lý đi ngược lại với những thứ triết lý duy thực, duy nghiệm: họ nói Phật giáo gần gần với triết lý hiện sinh của Jean-Paul Sartre, gần gần với phương pháp trị liệu của phân tâm học hiện đại theo điệu Carl Jung hay Erich Fromm, v.v.... Nói tóm lại thì họ đã mang đến đạo Phật những nhãn hiệu hoàn toàn mâu thuẫn đối nghịch nhau và hoàn toàn xa lạ hẳn với tinh túy của đạo Phật.

Tất cả những sự việc lạ lùng trên chỉ nói lên sự ngộ nhận ngay từ căn bản của những người có thiện chí đi đến với đạo Phật. Sự ngộ nhận này xuất phát từ một thái độ sai lầm của người muốn tìm hiểu đạo Phật, dù người muốn tìm hiểu ấy có thiện chí hay thiếu thiện chí, dù đứng bên trong truyền thống Phật giáo hay đứng bên ngoài. Sự ngộ nhận ấy xuất phát từ một sự ngộ nhận thái độ. Thái độ của người tìm hiểu đã sai lầm ngay nền tảng, vì thế đạo Phật chỉ là một đề tài cho sự hiếu kỳ trí thức và hình thức của đạo Phật lại trở thành quan trọng hơn tinh thần sống động của đạo Phật: Người ta chỉ tìm hiểu đạo Phật để so sánh, để thỏa mãn óc hiếu kỳ, để khai triển trí thức, để ca tụng hoặc chống đối, để nhận là của mình hay không phải của mình; người ta không nhìn đạo Phật như là đạo Phật, mà lại nhìn đạo Phật như là tôn giáo vô thần hoặc hữu thần, như là triết lý duy thực hoặc duy tâm, như là tín ngưỡng hoặc tín điều.

Thế nào là nhìn đạo Phật như là đạo Phật?
Đạo Phật như thế thì mình nhìn như là thế. Chữ kinh Phật thường thường mở đầu là: “Như thị ngã văn”. “Như thị ngã văn” có nghĩa là “tôi nghe như vậy”; đó là lời đức Phật dạy ông Ưu-ba-ly và A-nan phải mở đầu các kinh bằng bốn tiếng ấy (cf. Trí Độ Luận). “Như thị ngã văn”. Có nghĩa là tôi nghe như thế nào thì tôi nghe đúng như vậy, tôi nghe đạo Phật như là đạo Phật. Nghe đạo Phật như là đạo Phật cũng đồng nghĩa với việc nhìn thấy đạo Phật như là đạo Phật. Muốn nhìn thấy cho đứng đắn và trung thực thì phải có một thái độ đứng đắn và trung trực, Đứng giữa cuộc đời, mỗi người đều có một thái độ nào đó; “Thái độ” cũng đồng nghĩa với “quan điểm”; “quan điểm” là điểm, chỗ mình thấy. “Quan”, là thấy, nhìn thấy, dịch lại chữ Pali chính là “dassana”. Biết nhìn thấy là điều quan trọng trong đời sống; đạo Phật thường hay nhấn mạnh đến sự nhìn thấy: chúng ta thường thấy những chữ “kiến”,”quan” (quán) rải rác trong tất cả Kinh luận Phật giáo. “Chánh kiến” (sammā diṭṭhia) là con đường đầu tiên, con đường thứ nhất trong tám con đường chân chính (bát chính đạo), tất cả ý nghĩa của Thiền tông xoay về nơi hai chữ Kiến tánh, tất cả ý nghĩa của tất cả những tông phái của Phật giáo có thể thu gọn trong câu: “Khiến tà kiến thành chơn chánh” (mà chữ Pali gọi là: “Diṭṭhijjukamma”).

Thấy và thấy đúng, đó là ý nghĩa giản dị và phức tạp của đạo Phật. Thấy và thấy đúng, đó là con đường của tất cả mọi con đường. Đạo Phật mở mắt chúng ta để thấy. Thấy sự vật như là sự vật, thấy sự vật đúng với sự thật; kinh luận Pali gọi sự thấy ấy là Vipassanā (quán): Thiền định, Bhāvanā có hai loại: Samatha (chỉ) và Vipassanā (quán); nhờ tu samatha mà chứng được Abhiññā (thắng trí thần thông); còn nhờ vipassanā (quán) mà chứng được thánh quả.

Điểm thứ nhất mà khi đề cập tới thái độ tâm linh của đạo Phật chúng tôi cần phải lưu ý quý vị là sự quan trọng của việc thấy trong đời sống nội tâm và ngoại giới của chúng ta. Chúng ta có mặt, nhưng chúng ta vẫn không thấy, và nếu có thấy chăng thì chỉ thấy sai; chữ nhà Phật gọi là “Tà kiến” (Micchādiṭṭhi diṭṭhigata). Tà kiến là tai họa lớn nhất trong đời sống; tà kiến còn nguy hiểm và khó trị hơn là chiến tranh, đói rách và thiên tai. Tà kiến khiến con người trở thành một con thú bần tiện nhất trên đời. “Kiến điên đảo” là thấy sự vật đảo ngược lại, chấp hư làm thực, chấp vọng bỏ chân; “kiến phược”, “Kiến thủ kiến” (chữ phạn: Drstipāmārsa), “kiến chướng”, “kiến kiến”, “kiến võng”. “Kiến trọc” (Drsti-kasāya) “kiến ái”, “kiến tư”, “kiến độc” là những chữ thông dụng trong kinh luận đạo Phật để chỉ sự thấy sai của con người, để chỉ sự nô lệ của ý thức, sự sa đọa của kiến thức, sự sa lầy của con người trên con đường trở về Tự do An lạc.

Hai tông phái quan trọng trong những tông phái quan trọng nhất của Phật giáo như Tam Luận tông và Thiền tông cũng đưa con người trở về sự thấy chân chính: yếu chỉ của Tam luận tông (cũng gọi là Trung quán luận, Mādhya-mika) cũng xoay quanh trong việc phá bỏ tất cả những sự thấy sai lầm, những “kiến” (drsti) phá bỏ những giáo thuyết tín điều (drsti-vāda) những thứ “ngã kiến” (ātma-drsti satkāya-drsti) “vô kiến” (vibhava-drsti), "hữu kiến" (bhava-drsti) để thể nhập Chân không (sūnyatà); yếu chỉ của Thiền Tông đã được cô đọng trong câu “kiến tánh thành Phật” nghĩa là thấy tự tánh mình vốn vẫn thanh tịnh. “Kiến tánh” cũng đồng nghĩa với “kiến Phật”. Trong Pāli Abhidhamma, có nói đến Dhammacakkhu (pháp nhãn). Nói đến quả của sắc giới thiện nghiệp, hành giả có niệm (sāti) mãnh liệt, lấn át các đức tánh khác, thì được sanh vào cõi “thiện kiến thiên” (Pāli: Sudassa); chữ “Thiện kiến thiên” ở đây mang ý nghĩa tượng trưng cho kết quả của sự thấy chân chính.

Nơi đây, không phải là chỗ để chúng tôi trưng dẫn kinh điển và một mớ thuật ngữ Phật giáo bằng Phạn ngữ, Pāli và Hán ngữ. Chúng tôi chỉ muốn trình bày sơ lược đôi thí dụ cụ thể để cho quý vị thấy rằng vai trò quan trọng của Pháp nhãn (Dhammacakkhu) trong thái độ tâm linh của đạo Phật. Ngày xưa, những vị thiền sư cũng thường gọi Đạo Phật là “chánh pháp nhãn tạng”, như việc tổ sư trao truyền “chánh pháp nhãn tạng” lại cho đệ tử. Thấy đúng nghĩa là thấy thì có nghĩa là thấy đúng sự thật, thấy sự thật như là sự thật. Tất cả ý nghĩa của thái độ tâm linh trong đạo Phật có thể tóm gọn vào việc thấy. Trong tư tưởng hiện đại ở Tây phương, không ai mà không nghe đến tên tuổi của linh mục Pierre Teilhard de Chardin, một nhà bác học và một tư tưởng gia nổi danh khắp thế giới. Trong cuốn Le Phénomè Humain, Teilhard de Chardin cũng thường đặt tất cả sự quan trọng vào động từ “voir”. Đối với Teilhard de Chardin thì tất cả đời sống chỉ thu gọn vào việc thấy: “Voir. On pourrait dire que toute la vie est là” (cf. Le Phénomè Humain, Édition du Seuil, 1957, p25). Teilhard de Chardin lại còn nói mạnh hơn: “Voir ou périr” (cf. op. cit. p 25). Sự thống nhất nhân loại chỉ có thể được hình thành nhờ sự khai triển rộng lớn phạm vi ý thức của con người, mà mở rộng ý thức chính là khai mở thị quan (Teilhard de chardin: “L'Unité ne grandit que supportée par un accrois-sement de conscience; c'est à dire de vision”; cf. op. cit. p.25). Các “vũ trụ hội tụ” (l'univers convergent, cf. op.cit. p. 344) mà Teilhard de Chardin muốn đưa tới thì cũng chỉ là sự đồng nhất giữa khách thể và chủ thể trong việc biến chuyển hỗ tương để đưa đến kiến tri toàn diện: “Con Người tự tìm lại mình và tự nhìn mình trong tất cả những gì mình thấy (Objet et subjet s'éspousent et se transforment mutuellement dans l'acte de connaissan-ce. Bon gré mal gré, dès lors, l'Homme se retrouve et se regarde lui même dans tout ce qu'il voit” cf. op. cit. p. 26).

Thái độ tâm linh của đạo Phật bắt đầu bằng “chánh kiến”. Chánh kiến là thấy mọi sự đúng như thật, và Tứ Diệu Đế giải thích sự thấy như thật ấy. “Chánh kiến” tức là thấy hiểu Tứ Diệu Đế: đó là thấy được Thực tại tối hậu. Bất cứ người nào tự nhận là Phật tử thì ít nhất cũng có một kiến thức sơ đẳng, thu gọn trong Tứ niệm xứ:

1. - Quán thân bất tịnh;
2. - Quán thọ thị khổ;
3. - Quán tâm vô thường;
4. - Quán pháp vô ngã;

Chữ “quán” (thấy) nằm trong “tứ niệm xứ”; “tứ niệm xứ” mở ra “tứ vô lượng tâm”, con đường dứt trừ dục ái, sân hận, nhiễm ô và đạt đến tự tại.

Đó là nền tảng sơ đẳng cho thái độ của đạo Phật. Gọi là thái độ tâm linh, vì thái độ ấy đưa con người đến đời sống tâm linh. Một điểm quan trọng chúng tôi thấy cần phải nêu lên là “tâm linh” ở đây không có nghĩa như chữ La tinh "Spiritus", “animus”, “anima”, “ratio”, “transcendens”, v.v..., như trong ý nghĩa của truyền thống kinh viện Trung cổ ở Tây phương. Ở đây, “Tâm linh” được hiểu theo nghĩa “Tâm” trong chữ “Citta” của Kinh điển Phật giáo: đạo Phật không hề tách rời phân chia “Tâm” (citta) và “sắc” (Rūpa), vì cả hai đều liên đới dính líu tương quan. Đó là sự khác nhau căn bản giữa chữ “Tâm” trong đạo Phật và chữ “Tâm” trong những hệ thống tôn giáo triết lý Tây phương. Tâm lý học Phật giáo như môn học Abhidhamma không phải là học về “tâm” theo nghĩa "psyché" của Hy-lạp mà lại học về “sắc giới tâm”, “vô sắc giới tâm”, “siêu thế tâm”, tức là những vấn đề vượt ra ngoài sự hiểu biết hiện tại nông cạn và có giới hạn của chúng ta.

Điểm quan trọng khác trong đạo Phật mà chúng ta nên lưu tâm đặc biệt là “kinh nghiệm tâm linh” (tạm dịch là chữ Pháp cho dễ hiểu là “réalisation métaphysi-que”, “réalisation spirituelle”, “expérience spirituelle”, “expérience mystique”). Tất cả những tông phái Phật giáo đều hướng chúng ta đến cứu cánh duy nhất là kinh nghiệm tâm linh; nói khác đi là không phải chỉ lý thuyết thôi mà phải sống theo lý thuyết bằng thực tế và kinh nghiệm, “Trí đức song tu”. Đạo Phật không phải là hình thức giáo điều mà là hướng dẫn trên một phương hướng phương pháp, đưa đến một sự chứng cá nhân (réalisation de soi, vérité-pour-soi); đạo Phật không chối bỏ siêu hình, nếu siêu hình được khám phá bằng con đường kinh nghiệm cá nhân, đạo Phật chuyển hóa siêu hình thành kinh nghiệm thành thái độ, gọi tắt là thái độ tâm linh. Thái độ tâm linh ấy là tu quán (gọi lại chữ Pāli là: vipassanā), tu chính sắc giới tâm và vô sắc giới tâm với những phương pháp thiền định của sắc giới tâm và vô sắc giới tâm. Mỗi đối tượng có một phương pháp riêng và mỗi phương pháp đều có tính cách uyển chuyển, tùy cơ, tùy thời.

Thái độ tâm linh của đạo Phật không phải nằm trên bình diện siêu việt tính (plan transcendantal), nghĩa là không dính líu gì với đời sống này. Thái độ tâm linh của đạo Phật không phát sinh từ ý thức về một đấng Phạm Thiên, một Thực thể tối cao, siêu việt. Ngược lại, thái độ tâm linh của đạo Phật nằm trong con người, do con người, bởi con người và cho con người. Nói như thế, không có nghĩa là đạo Phật chỉ nằm trong bình diện “tại thể tính” (plan immanent); nói như danh từ thần học Thiên chúa giáo. Không phải thế. Những ý niệm như “siêu việt tính” (transcendance) và “tại thể tính” (imma-nence) không thể áp dụng vào đạo Phật; đạo Phật đứng bên ngoài những ý niệm có tính cách phân biệt của ngôn ngữ thần học. Đạo Phật xuất hiện cho con người, nhưng nói thế không có nghĩa là đạo Phật đặt con người làm trung tâm điểm vũ trụ, hiểu theo chữ “anthropocentrisme”. Hiểu như thế thì chỉ giới hạn đạo Phật vào một hoàn cảnh giới hạn của con người, chỉ thấy hiện thể mà chối bỏ tiềm thể và phân ly chia rẻ con người ra ngoài tính cách nhất thể của vũ trụ; thái độ tâm linh của đạo Phật là trả con người lại cho con người và con người chỉ là con người khi con người không còn chấp vào nhân tính, chấp ngã, chấp nhân; nói gọn lại thì con người phải tự chuyển tánh để đạt đến Phật tính. Đạo Phật không phải là chủ nghĩa nhân bản (humanisme) và cũng không phải là một chủ nghĩa phi nhân bản (anti-humanisme), vì tất cả chủ nghĩa nhân bản (hay phi nhân bản) đều được thành lập căn cứ trên một quan điểm cố định về bản chất con người (essence humaine, nature humaine). Phi nhân bản cũng là nhân bản, vì phủ nhận nhân bản này để chấp nhận nhân bản khác; tất cả chủ thuyết nhân bản đều nhìn nhận rằng con người (homo) chỉ là người khi con người trở lại chất người, trở lại nhân tính (humanitas) trả con người (homo) lại bản vị làm người (humanus). Chủ nghĩa phi nhân bản chối bỏ nhân tính (homo humanus) để ca tụng phi nhân tính (homo non-humanus), nhưng cả hai trường hợp đều đồng một quan điểm là lập luận trên một cứ điểm về bản chất, bản tính của con người (essence, nature humaine). Đạo Phật không nhận bằng con người có một bản chất, bản tính, hiểu theo nghĩa “substance” “nature” hay “essence” hay “ego”, vì lý do quá rõ ràng là đạo Phật nhấn mạnh về tính cách vô ngã của con người. Tất cả chủ nghĩa nhân bản và phi nhân bản đều nhận rằng con người có ngã tính (ego); tất cả thái độ tâm linh của đạo Phật chỉ là phá bỏ kiến chấp, tức là phá ngã và phá chấp, đưa con người vượt lên trên con người để vươn đến Phật tính; thái độ ấy là chuyển nhân bản thành Phật bản.

Muốn đưa nhân bản đến Phật bản thì phải thấy sự thật như là sự thật, nghĩa là thấy Tứ Diệu Đế. Muốn thấy được sự thật trên thì phải tự mình thấy cho mình, không thể nhờ người khác thấy thế cho mình, không thể nô lệ vào tín điều, vào ý kiến, vào quan điểm, vào một đấng tối cao ở trên cao hoặc ở dưới cuộc đời này.

Đạo Phật mời chúng ta hãy tự lên đường, không hành lý, không vướng bận nô lệ vào thần quyền hay nhân quyền; đạo Phật mời chúng ta hãy đứng lên tự gánh lấy trách nhiệm của riêng mình trước đời sống; con đường của đạo Phật là con đường đưa dẫn đến sự thấy chân chính, “khiến tà kiến thành chân chánh” (Ditthijjukamma), đó là con đường duy nhất đưa đến một đời sống tâm linh cao đẹp, mà thể hiện rõ ràng nhất là tinh thần Vô tâm được thể hiện trên nụ cười trác việt của đức Phật, nụ cười thầm lặng của Đông phương trước những cơn vũ bão tàn phá của cơ khí Tây phương, nụ cười kín đáo ấy chứa đựng tất cả ý nghĩa phong phú của đạo Phật, thái độ tâm linh của đạo Phật trước nỗi phân ly đau đớn của quê hương hiện nay.

Kính chào quý vị.
TỲ kheo Thích Minh Châu
Trích: Tạp chí Tư Tưởng 8 năm 1967

24/07/2022

SỐ NÀO ĐẸP NHẤT?
==============

Nghiên cứu những chữ số trong toán học, tôi càng thấy cuộc sống trở nên bí ẩn và khó hiểu, số phận mỗi người luôn gắn với sự may mắn, khả năng thực tế, mỗi chúng ta cần hiểu về bản thân và thế giới xung quanh một cách khoa học, để không gây ra những hậu quả tàn phá theo thời gian.

Toán học là ngôn ngữ chung của vũ trụ.

Bản chất của toán học không không phải là môn khoa học, vì thế mà toán học không phải là phát minh của con người, mà nó chỉ là một khám phá của con người. Thực tế cuộc sống có nhiều hiện tượng huyền bí. Đời người cũng vậy. Rất nhiều sự việc xảy ra mà chúng ta chưa thể giải thích được. Nhưng bằng thống kê và xác suất, toán học cho phép chúng ta đúc kết được nhiều sự trùng lặp như vận may rủi, hiện tượng thần thánh kì lạ, cho đến thuật tướng số của đời người.

5k năm trước người Sumer biết đếm thập phân.

Đó là hệ đếm cơ số 10 phổ biến mà chúng ta dùng hôm nay, do người Sumer sử dụng 10 ngón tay của hai bàn tay, họ dùng ngón cái đập lên các đốt của bốn ngón tay còn lại. Hệ đếm cơ số 10, ban đầu có chín chữ số từ 1 đến 9, gần ba ngàn năm sau mới thêm chữ số 0.

1 – 2 – 3 – 4 – 5 – 6 – 7 – 8 – 9

Từ xa xưa, loài người đã nhận ra rằng chín chữ số này không bằng nhau, nó chứa rất nhiều bí ẩn, được chia làm ba tầng.

9
3 – 6
1 – 2 – 4 – 8 – 7 – 5

Số 9 ở tầng cao nhất, 3 – 6 ở tầng thứ hai, cả ba chữ số này không có trong đơn vị cấu tạo sự sống, mà nó thuộc về vũ trụ, thuộc về thế giới siêu hình bí ẩn.

Tầng thấp nhất gồm các số 1 – 2 – 4 – 5 – 7 – 8, đây cũng là quy luật của sự sống, trong đó có thế giới loài người, cũng như động thực vật sinh sôi nảy nở trên toàn trái đất này.

Tại sao lại như vậy?

Sinh học cơ bản đãn chỉ ra rằng, sau khi thụ tinh từ một hợp tử ban đầu, quá trình gián phân xảy ra lần 1 sẽ tạo ra 2 tế bào, lần 2 sẽ là 4, lần 3 sẽ là 8, lần 4 sẽ là 16, lần 5 sẽ là 32, cứ như vậy các số tiếp theo là 64, 128, 256, 512, 1024, 2048, 4096… 2^n (2 luỹ thừa n).

Cộng các chữ số ta sẽ có:

2^0 = 1
2^1 = 2
2^2 = 4
2^3 = 8
2^4 = 16 = 1+6 = 7
2^5 = 32 = 3+2 = 5
------
2^6 = 64 = 6+4 = 10 = 1+0 = 1
2^7 = 128 = 1+2+8 = 11 = 1+1 = 2
2^8 = 256 = 2+5+6 = 13 = 1+3 = 4
2^9 = 512 = 5+1+2 = 8
2^10 = 1024 = 1+2+0+4 = 7
2^11 = 2048 = 2+0+4+8 = 14 = 1+4 = 5


Như vậy, ta thấy quy luật sẽ tuân theo tổng các chữ số cộng lại đến cuối cùng, thứ tự sẽ là (1 – 2 – 4 – 8 – 7 – 5), cứ thế lặp đi lặp lại, đây là lí do để sáu chữ số này ở tầng thấp nhất.

Không thấy có sự xuất hiện của (3 – 6 – 9), có nghĩa là hầu hết các sinh vật trong thế giới của chúng ta đều liên quan đến sáu chữ số (1 – 2 – 4 – 8 – 7 – 5), nhưng không liên quan đến (3 – 6 – 9).

Phải chăng, nhóm (3 – 6 – 9) là hư ảo, nó thuộc về một thứ gì đó cao hơn thực tế!

Nhà phát minh Nikola Tesla đã tuyên bố: “Nếu bạn hiểu được vẻ đẹp của những chữ số 3, 6 và 9, bạn nắm trong tay chìa khóa của vũ trụ - If you only knew the magnificence of the 3, 6, and 9, then you would have a key to the universe.”

Vương quốc của các vị thần được chia thành 3 phần.

Ví dụ, trong Đạo Mẫu nếu chúng ta đến các đền, điện, phủ sẽ thấy tam toà Thánh Mẫu gồm ba vị, Mẫu Đệ Nhất Thượng Thiên cai quản bầu trời, Mẫu Đệ Nhị Thượng Ngàn cai quản mặt đất, Mẫu Đệ Tam Thoải Phủ cai quản sông nước.

Hy Lạp cổ đại, con người quan niệm thế giới bao gồm bầu trời, đại dương và âm phủ; bầu trời do thần Zeus cai quản, đại dương được cai quản bởi Poseidon, âm phủ do Hades cai quản; cả ba vị thần đều là anh em.

Công giáo và Cơ đốc giáo đều nói về Đức Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần; còn gọi là Chúa là Ba Ngôi. Chúa Cha là chính Thiên Chúa, Đấng Tạo Hóa. Chúa Con là Chúa Giêsu, thuộc về thế gian; Chúa Thánh Thần là ý muốn của Thiên Chúa, vô hình, nhưng có thể đi vào lòng thế giới và dẫn dắt con người được tái sinh.

Con người có 6 giác quan, bao gồm thị giác (mắt), thính giác (tai), khứu giác (mũi), vị giác (lưỡi), xúc giác (thân), linh giác (tâm). Phụ nữ với thiên chức làm mẹ, nên phần trên cơ thể thuộc về trời có 9 lỗ tự nhiên tương đương 9 vía (gồm 7 lỗ hấp thu sinh khí trời đất là 1 miệng, 2 lỗ mũi, 2 mắt, 2 tai cùng với 2 vú tiết sữa nuôi con). Có câu: “Lành hiền thể hiện ở khuôn mặt – Dị tật thể hiện ở tay chân”. Bàn tay người có 3 đường, gồm sinh đạo, tâm đạo, trí đạo; chỉ cần nhìn vào ba đường này chúng ta có thể biết sinh, lão, bệnh, tử của mỗi người.

Thử nhìn một chút vào quốc gia, chúng ta có Lục Đầu Giang là địa linh nhân kiệt ở phía Bắc, hay Cửu Long Giang ở phía Nam là nguồn sống cho người Việt. Các núi như Tam Đảo, Tam Điệp, Ba Vì chính là ba ngọn núi tạo thế chân kiềng, chữ Tam cũng mang nghĩa là số 3, đây là những huyệt đạo quan trọng, trong đó Ba Vì có Thánh Tản Viên là huyệt đạo quan trọng số 1 của quốc gia, nơi hội tụ 3 nếp gấp trái đất, gồm dãy thứ nhất là Hy Lạp Sơn nóc nhà của thế giới, dãy thứ hai gồm những ngọn núi cao ở các tỉnh phía Bắc chạy đến dãy Thằn Lằn, dãy thứ ba là dải Trường Sơn hùng vĩ dọc theo đất nước. Các nếp gấp của trái đất bị dồn ép đến vô cực, tạo nên ba dãy núi và những thung lũng, những dòng sống; từ đó hình thành huyệt đạo cực kì quan trọng. Từ núi Ba Vì, nhìn xuôi ra Biển Đông, sẽ thấy những đường long mạch chạy qua tam giác châu thổ sông Hồng, chia miền Bắc thành ba vùng (đồng bằng, trung du, miền núi) có những đặc điểm văn hoá khác biệt. Tam giác châu thổ có đỉnh là Việt Trì, nơi hội tụ của 3 dòng sông huyết mạch, gồm sông Thao, sông Lô, sông Đà. Dòng sông Thao chảy xuôi xuống hạ lưu, đổi tên thành sông Hồng, đến kinh thành Thăng Long hình thành nên huyệt đạo quan trọng thứ 2 của đất nước, đó là Hồ Tây, có dịp tôi sẽ viết sâu hơn. Như vậy, Ba Vì và Hồ Tây cùng với 7 huyệt đạo quan trọng nữa, tổng cộng là 9 đã tạo nên một quốc gia Việt Nam rất đặc biệt.

Ai mê xem Kim Dung sẽ biết Cửu âm chân kinh, hoặc ít nhất của biết cửu trùng thiên tức là 9 tầng trời, 18 tầng địa ngục (18 cũng liên quan đến 3 – 6 – 9). Trong truyện thần thoại hay cổ tích, chúng ta vẫn thấy cáo 9 đuôi, mèo 9 kiếp, voi 9 ngà, gà 9 cựa, ngựa 9 hồng mao.

Y học cũng liên quan đến số 3 – 6 – 9.

Nhịp tim của người thường là 90 lần mỗi phút, huyết áp 90 – 120, nhịp thở 18 lần; những chữ số cộng lại đều là 9 hoặc bội số của 3. Mỗi lần ngồi bên đại dương, tôi thường đếm từng con sóng vỗ, điều kì lạ rằng mỗi phút có 18 con sóng, đúng bằng số nhịp thở của tôi. Khi khám bệnh, bác sĩ thường lặp lại 3 lần, ví dụ đếm nhịp thở, mạch, huyết áp ba lần. Kê đơn thuốc hẹn 3 ngày nếu không có kết quả phải khám lại ngay, bệnh ổn hẹn 3 hoặc 6 tháng sau khám lại. Cơm 3 bát, áo 3 manh, thuốc 3 thang; đó là những điều cơ bản nhất.

Người trước khi chết thường ngáp 3 cái.

Cáo chết 3 năm quay đầu về núi, con người cũng vậy chết 3 năm đoạn tang cải mả muốn trở về, giống như thế giới tự nhiên có 3 quy luật gồm nước chảy chỗ trũng, lá rụng về cội, chim bay về tổ. Các lễ nghi đều xoay quanh con số 3 – 6 – 9. Ví dụ bố mẹ lúc chết, con trai cả phải gọi tên ba lần, hạ thổ 3 lần trước lúc nhập quan, con cháu đi ba vòng xung quanh quan tài, láng giềng xổ tóc 3 ngày.

Cuộc đời chúng ta như một vòng tròn.

Sinh cát bụi, chết trở về cát bụi, vòng tròn cuộc đời có 360 độ, 21600 phút, những chữ số này cộng lại đều bằng 9. Nếu trong vòng tròn cuộc đời đó, chúng ta chi ra thành các phần bằng nhau, thì cộng lại cũng đều là một trong ba chữ số 3 – 6 – 9. Ví dụ chia hai phần thì mỗi phần 180 độ, chia ba phần thì được 120, chia bốn phần thì được 90 độ, chia năm phần thì được 72 độ, chia 6 phần thì được 60 độ… cộng lại các chữ số ra đúng quy luật tôi vừa nói.

Dường như, 3 – 6 – 9 liên quan đến thần thánh, ma quỷ, thế giới tâm linh, là những thứ điều khiển tâm trí con người. Quy luật thống kê và xác suất chỉ ra rằng, số 3 thường nghiêng về sự sáng tạo, số 6 tượng trưng cho thế giới cảm xúc, số 9 phản ánh trí tuệ; áp dụng quy luật này để luận 3 lĩnh vực gồm nhân tướng, tử vi, bói toán. Nhân tướng dựa trên cơ sở thống kê về nhân dạng, tập trung nhiều vào khuôn mặt, ánh mắt, giọng nói, hành vi, bàn tay, dáng người. Tử vi dựa vào thống kê ngày tháng năm sinh và giờ sinh. Bói toán dựa vào thế giới tâm linh, thần thánh, ma quỷ.

Hàng xóm của gia đình tôi ở quê, có bà thông gia tự dưng xuất hiện 3 dấu hiệu, một là người rất mệt mỏi, hai là không ăn được, ba là bụng đau giả cách như ma làm. Bà đi khám 3 bệnh viện, mất 3 tháng trời, đều trả lời bình thường. Khi đến nhờ tôi khám, tôi phải cẩn thận khám đi khám lại 3 lần, thời gian chờ đợi mất 3 tiếng, tôi phát hiện ra ung thư ruột non thể Non Hodgkin Lymphoma. Bệnh nhân đến bệnh viện chuyên khoa, mổ cắt u làm giải phẫu bệnh đúng như tôi chẩn đoán, điều trị hoá chất đến mũi thứ 6, người kiệt quệ còn da bọc xương nên sốc phải dừng. Đến tháng thứ 6, đến nhờ tôi khám lại, xuất hiện u ở 3 vị trí, gồm ruột non, gan, hạch bạch huyết.

Bệnh nhân và gia đình khóc hết nước mắt.

Bác sĩ định truyền thêm 3 mũi hoá chất, nhưng tôi ý kiến nên dừng lại đợi 3 tháng nữa vì lượng hoá chất vẫn còn trong người. Tôi lập luận rằng, vấn đề quan trọng là bệnh nhân suy kiệt, lại ung thư hạch nên hệ miễn dịch suy giảm nghiêm trọng. Miễn dịch như đội ngũ cảnh sát, đi tuần hành thấy tế bào ung thư sẽ tiêu diệt hoặc cấm không cho hoạt động, vậy khi lực lượng cảnh sát quá yếu thì đương nhiên ung thư bùng phát và di căn. Tư vấn cho bệnh nhân, tôi nói rằng chỉ cần về nhà mỗi bữa ăn 3 bát cơm, một bát cho chồng, một bát cho con trai, một bát cho cháu đích tôn. Cũng như vậy, mỗi bữa ít nhất ăn 3 miếng thịt, mỗi tuần ít nhất 3 quả trứng. Ngày làm 3 công việc, gồm nấu cơm, dọn dẹp nhà cửa, chăm sóc cháu; cố gắng vận động 3k bước chân.

3 tháng sau khám lại ung thư bay hết.

Hiện tại bà khoẻ mạnh, da dẻ hồng hào, rất vui vẻ, cứ định kì 6 tháng đến nhờ tôi khám.

Viết đến đây, tôi muốn kết thúc bằng câu chuyện âm nhạc của nhà soạn nhạc Beethoven, cả đời chỉ viết đúng 9 bản giao hưởng, tạo nên đỉnh cao nhất của âm nhạc mà thế giới loài người không có nhạc sĩ nào vượt qua được. Nhà bác học kiêm nhạc sĩ Taniev đã phải thốt lên rằng: “Nếu có một người ngoài hành tinh đến trái đất của chúng ta, muốn chỉ trong một giờ đồng hồ, hiểu được tất cả những gì đang diễn ra trên quả địa cầu này, thì không có cách nào khác ngoài việc cho nghe bản giao hưởng số 9 của Beethoven”.

09/07/2022

A NAN THẤY BẢY ĐIỀM MỘNG
A Nan Thất Mộng Kinh

Ngài A Nan là đệ nhất đa văn, đại đệ tử của Phật Thích Ca Mâu Ni trong 27 năm. Một hôm, Phật ở tại giảng đường nơi thành Xá Vệ của Vua Ba Tư Nặc, A Nan đứng hầu, trên mặt lộ vẻ buồn lo. Phật hỏi vì sao ra như vậy? A Nan mới thưa rằng trong một đêm, Tôn giả nằm mộng thấy bảy việc kỳ lạ cổ quái khiến lòng hoang mang lo sợ. Phật liền hỏi: - Ông nằm mộng thấy bảy việc gì?

Bạch Thế Tôn:

- Giấc mộng thứ nhất, con thấy trong vũng nước, tự nhiên lửa phựt cháy ngập trời.

- Giấc mộng thứ hai, con thấy mặt trời, mặt trăng lặn mất và tinh tú cũng lặn mất.

- Giấc mộng thứ ba, con thấy Tỳ kheo xuất gia lại ở trong hầm bất tịnh, còn hàng cư sĩ tại gia leo lên đầu Tỳ kheo đi ra.

- Giấc mộng thứ tư, con thấy bầy heo đến ủi rừng Chiên Đàn.

- Giấc mộng thứ năm, con thấy đầu đội núi Tu Di mà không có cảm giác nặng.

- Giấc mộng thứ sáu, con thấy con voi lớn bỏ con voi nhỏ.

- Giấc mộng thứ bảy, con thấy các thứ hoa đẹp rải tung trên đầu của sư tử chúa, lại thấy bảy sợi lông và con sư tử ấy đang nằm chết ở dưới đất. Tất cả loài cầm thú thấy thế nên kinh hoàng sợ hãi, sau thấy trùng trong thân sư tử chui ra rồi lại ăn thịt nó.

Lúc ấy, Tôn giả A Nan đem những điềm mộng này đến hỏi Phật. Đức Thế Tôn đang thuyết pháp ở giảng đường Phổ Hội. Ngài nói pháp về Tứ đế: Khổ – Tập – Diệt – Đạo cho Vua Ba Tư Nặc nghe. Vì trông thấy trên mặt A Nan hiện ra vẻ buồn lo sầu khổ không thể nói, nên Phật bảo ông: “Những điềm mộng mà ông đã thấy đều là điềm ứng hiện của năm trược đời ác ở mai sau, không có gì tổn hại đến ông đâu! Thế thì tại sao ông phải lo buồn?”.

Đức Phật mỉm cười nhân hậu và giải thích:

Này A Nan! Bậc Thánh vốn không nói chuyện mộng mị. Nhưng mộng của ông quả thật kỳ quái.

- Thấy trong vũng nước có lửa bốc cháy ngập trời là ứng điềm các Tỳ kheo đời sau này tâm lành dần dần trở nên ít ỏi, ác nghịch mỗi lúc một lẫy lừng, lại còn giết hại lẫn nhau, thật không thể nói hết!

- Mộng thấy mặt trời, mặt trăng và tinh tú lặn mất là ứng điềm sau khi Phật nhập Niết Bàn thì tất cả các hàng Thanh Văn cũng nhập Niết Bàn theo Phật, không trụ lại nơi đời. Thật là con mắt của chúng sanh diệt mất.Để chánh pháp không bị lu mờ, Tăng đoàn sẽ yêu cầu ông tuyên dương chánh pháp.

- Mộng thấy Tỳ kheo xuất gia lại ở trong hầm bất tịnh, còn hàng cư sĩ tại gia leo trên đầu của Tỳ kheo mà đi ra là ứng điềm sau này các Thầy Tỳ kheo sẽ ôm lòng tật đố đến nỗi giết hại lẫn nhau, lại bị đạo sĩ chém đầu. Hàng bạch y thấy thế can ngăn trách móc, nhưng Tỳ kheo không chịu nghe theo. Vì thế, sau khi chết, tỳ kheo bị đọa vào địa ngục chịu khổ. Còn hàng cư sĩ vì tinh tấn tu hành nên sau khi chết được sanh lên cõi Trời hưởng thụ quả vui.

- Mộng thấy bầy heo đến ủi rừng Chiên Đàn là ứng điềm đời sau này, hàng cư sĩ tại gia vào chùa tháp phỉ báng chư Tăng,vạch tìm chỗ hay dở của họ, lại còn phá tháp hại Tăng.

- Mộng thấy đầu đội núi Tu Di nhưng không có cảm giác nặng là ứng điềm sau khi Phật Niết Bàn, A Nan sẽ làm Thầy của 1000 vị A La Hán, nói lại kinh điển không quên một câu. Người được giác ngộ cũng nhiều nên A Nan không có cảm giác nặng.

- Mộng thấy con voi lớn bỏ con voi nhỏ là ứng điềm đời sau này, bọn tà kiến dữ mạnh làm hoại nát Phật pháp. Những người có đức hạnh đều ẩn cư, không xuất hiện.

- Mộng thấy sư tử chúa chết là ứng điềm sau khi Phật Niết Bàn 1470 năm, trong thân tâm của những đệ tử vì tu hành đức hạnh nên tất cả các ác ma đều không nhiễu loạn được. Còn bảy sợi lông là ứng việc sau 700 năm vậy!

o0o

Bảy giấc mơ của Tôn giả A Nan cũng chính là lời dự ngôn cho Phật giáo trong thời mạt Pháp. Có nhiều Tăng Ni, mang danh là ‘đệ tử Phật’ nhưng không còn tuân thủ giới luật, không theo lời dạy của Phật, cũng không còn chân chính thực tu. Họ coi thường giới luật, chạy theo danh lợi, khiến giáo pháp của Phật bị hủy hoại từ bên trong.

Đó là tiếng chuông cảnh tỉnh mọi người rằng Phật Pháp SUY VI không phải do ngoại đạo hay do mạt pháp mà là do Tăng-Ni, Phật tử “MẠT TÂM”. Thực trạng Tăng lữ phá Giới, tà dâm – lợi dưỡng, buôn Kinh bán Phật, lạm dụng Phật Pháp làm kế sinh nhai… diễn ra nhan nhãn khắp nơi; còn Phật tử thì thiếu Chánh Kiến – Chánh Tín, thường hay mê tín cầu xin, lại nhẹ dạ – cả tin – thần thánh hóa tu sĩ xuất gia đến nỗi mù quáng mà không phân biệt tỏ tường bậc Chơn tu với Tà sư – giả tu, vô tình tiếp tay nuôi dưỡng cho Tà hạnh và Ma sự ngày càng phát triển ở chốn Phật môn…, tất cả tạo thành PHÁP NẠN vô cùng nhức nhối hiện nay, làm ảnh hưởng không nhỏ đến hình ảnh cao quý – giải thoát vốn có của Đạo Phật trong mắt mọi người, từ đó thiêu rụi tín tâm, duyên lành hướng về Tam Bảo, phát tâm Bồ-Đề của biết bao người muốn hướng về Phật tu hành giác ngộ.

Đạo Phật chỉ nhìn vào nhân tâm chứ không nhìn vào hình thức, khoác áo Thầy tu mà chẳng chân tu thì cũng chỉ là một người bình thường mà thôi. Cũng giống như trong Lục Tổ Đàn Kinh đã viết: “Thánh nhân cầu tâm bất cầu Phật, ngu nhân cầu Phật bất cầu tâm”, nghĩa là: Bậc Thánh nhân cầu tâm chẳng cầu Phật, kẻ ngu muội chỉ cầu Phật chẳng cầu tâm…
Người thời nay học sai, hiểu sai và thực hành sai giáo pháp của Phật, cũng như học nhiều mà không thực hành chỉ nói suông nên không đủ đạo lực để cứu lấy chính mình và phá trừ ngoại đạo tà kiến, nên mới khiến cho quần chúng, Phật tử sanh nghi ngờ nơi Tam Bảo, mới dễ bị ngoại đạo thuyết phục bằng nhiều cách như tiền tài danh lợi, chạy theo tà kiến si mê lầm lạc trái nhân trái quả của họ. Thật đáng buồn thay!

Do vậy bổn phận của người đệ tử Phật là phải học cho kỹ về lời dạy của Đức Phật, chư Tổ giác ngộ đi trước, và thiện tri thức cùng minh Sư trong hiện tại, và y như pháp mà thực hành. Đệ tử tại gia hay xuất gia ai ai cũng làm tròn bổn phận của mình, hỗ trợ nhau, làm thiện tri thức của nhau trên con đường thật tu, thật ngộ của Phật. Có như vậy thì đức hạnh của mỗi người tự lan tỏa và chan hòa khắp muôn phương, chúng sanh đều được nương nhờ lợi lạc, vững tâm, chánh tín, và thành kính đối với Tam Bảo, làm đẹp cho đời cho đạo trong hiện tại và mãi tận đời vị lai.

Muốn cùng nhau lăn chuyển bánh xe chánh pháp của Phật, người đệ tử Phật phải có Tu Đức, nghĩa là mỗi người Phật tử bất luận tại gia hay xuất gia đều phải có sự thực hành và áp dụng Phật Pháp vào đời sống hằng ngày, hơn là tin và nói suông. Xuất gia thì nỗ lực học đạo tham thiền, tầm cầu minh Sư khai mở đạo nhãn, nhiếp tâm nơi chỗ một niệm chưa sanh, quyết làm tròn chí nguyện xuất gia ban đầu, tức thượng cầu giác ngộ, dưới hóa độ chúng sanh (Thượng Cầu Hạ Hóa), lấy giác ngộ giải thoát làm mục tiêu và sự nghiệp duy nhứt của đời mình (Duy Tuệ Thị Nghiệp). Tại gia thì chăm lo việc làm tròn bổn phận cho gia đình, xã hội, và bổn phận của người Phật tử tức là một đời Quy y Tam Bảo: Phật, Pháp, Tăng, quyết chẳng theo Thầy tà bạn ác, bỏ ác làm lành giữ tâm trong sạch, thân cận chư Tăng để học hỏi và trợ giúp các Ngài tu đạo, hoằng pháp, lợi sinh. Mỗi bên ai nấy đều tròn bổn phận tu đức, hỗ trợ lẫn nhau cùng nhau lan tỏa giới đức, thì mùi hương của đức hạnh tự tỏa khắp muôn phương, những ngọn đèn trí tuệ tự sẽ thắp sáng khắp những nẻo đường đen tối, khiến chúng sanh có chỗ nương về, và rồi chính họ cũng tự thắp sáng ngọn đèn trí tuệ của chính họ, được an vui giải thoát thật sự.

Tất cả những gì Đức Phật để lại, đó chỉ là những hình thức giáo dục, nhằm giáo dục cho một đối tượng nào đó, không phải là ‘chân lý’. Nhưng ngang qua những hình thái giáo dục này, sẽ cho chúng ta một đạo lý. Cái đạo lý đó là chân lý, là cái ‘bất biến’ là tinh thần giáo dục của Đức Phật. Đó là lý do tại sao trong ‘Kinh Thiện Pháp’. Đức Phật yêu cầu một người xuất gia phải hoàn thiện 7 điều kiện cần thiết này, hay nói đúng hơn một người xuất gia muốn thành tựu mục đích ‘Thượng cầu Phật đạo hạ hóa chúng sinh’ thì phải thành tựu (1) biết pháp, (2) biết nghĩa, (3) biết thời, (4) biết tiết độ, (5) biết mình, (6) biết chúng hội và (7) biết sự hơn kém của người. Nó là điều kiện cơ bản cho việc tự lợi và lợi tha, là bổn phận và trách nhiệm của người xuất gia.

Thiết nghĩ người tu Phật chúng ta, tại gia cũng như xuất gia, hãy nghiêm trì Giới luật, sống đời phạm hạnh – thiểu dục tri túc, an bần thủ đạo, tinh tấn dụng công (niệm Phật, tham thiền, trì chú), tu hành miên mật, đừng giải đãi – hý luận – buông lung – lười biếng; hãy thắp lên tinh thần Bi-Trí-Dũng để gạn đục khơi trong, hồi Tà hiển Chánh, thanh trừng bọn Tà sư – giả tu, trả lại sự tôn nghiêm cao quý nơi Tam Bảo cho thập phương chúng sanh tìm về nương tựa tu hành, như lời Phật dạy năm xưa: “Sau khi Ta nhập diệt, các con hãy lấy Giới luật làm Thầy, tự đốt đuốc Trí huệ mà đi, nương theo Diệu Pháp Như Lai mà tu hành, tự giác – giác tha – giác hạnh viên mãn. Các con, những đệ tử của Ta, hãy cùng nhau Hộ trì Phật Pháp, đừng để đoạn diệt”. Làm được vậy tức đã góp phần CHẤN HƯNG – HỘ TRÌ Phật Pháp, không phụ ƠN PHẬT, không hổ thẹn là CON PHẬT.

Mong sao những ai đang lầm đường lạc lối sớm tỉnh giác mà sám hối, ăn năn, điều phục thân tâm tu hành chơn chánh!

Mong sao tất cả chúng ta hãy chân thật tự xét lại mình, với sự tu hành và bổn phận của một người CON PHẬT đối với Đạo Pháp, đã làm tròn và xứng đáng với CHƯ PHẬT hay chưa?…

St

Address

Xã Tân Mỹ, Huyện đức Hoà, Tỉnh Long An
Ho Chi Minh City
704000

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Enlightenment and Liberation posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Contact The Practice

Send a message to Enlightenment and Liberation:

Share

Share on Facebook Share on Twitter Share on LinkedIn
Share on Pinterest Share on Reddit Share via Email
Share on WhatsApp Share on Instagram Share on Telegram