13/11/2016
⚡ CÁC NGUYÊN TỐ VI LƯỢNG CẦN CHO CUỘC SỐNG
Thiếu sắt thì thiếu máu, thiếu kẽm làm chậm phát triển, suy giảm chức năng sinh lý, thiếu canxi thì gây nên 147 chứng bệnh, thiếu iốt gây bứu cổ, thiếu đồng thì cản trở quá trình trao đổi chất còn thiếu selen lại khiến cơ thể lão hóa, và dễ mắc bệnh ung thư…
Nhu cầu tuy không nhiều nhưng nếu muốn có sức khỏe tốt thì không thể thiếu các nguyên tố vi lượng này. Qua quan sát biểu hiện của cơ thể cũng có thể phát hiện ra sự thiếu hụt các chất này, từ đó bổ sung kịp thời qua thực phẩm hoặc dưới dạng thực phẩm chức năng.
===
🌿 Tập đoàn Siberian Health đã phát triển dòng sản phẩm đặc biệt “ELEMVITALS” cung cấp CÁC NGUYÊN TỐ CỦA SỰ SỐNG. Được sản xuất theo công nghệ sinh học biến chuyển đặc biệt: các phân tử khoáng chất được liên kết gắn với các phân tử hữu cơ của a-xít citric, a-xít ascorbic, a-xít lactic, chúng cũng được liên kết với các men tế bào và vi tảo spirulina. Với công nghệ này chúng ta nhận được không chỉ đơn giản là các liên kết hữu cơ các khoáng chất, mà còn là các phân tử “sống” tương tự như các liên kết trong cơ thể người, điều này đảm bảo cho việc các khoáng chất được hấp thu tối đa.
===
➡ SẮT (FE)
Từ đầu thế kỷ 19, sắt đã được dùng trong y học dưới dạng mỡ để chữa bệnh hói đầu và bổ sung vào rượu vang để phục hồi sinh lực cho nam giới. Sắt tham gia cấu tạo nên hồng cầu, tác nhân vận chuyển oxi đi nuôi tế bào khắp nơi trong cơ thể. Ngoài ra sắt cũng tham gia vào trong nhiều enzyme quan trọng khác nhau.
Người bị thiếu sắt thường có da xanh xao, thậm chí tái mét, mệt mỏi, hay hồi hộp, tim có tiếng thổi, khó thở, sức đề kháng kém. Trẻ em cũng là đối tượng dễ bị thiếu sắt do vận động nhiều, phát triển liên tục. Trường hợp này trẻ có thể có biểu hiện khó ngủ, khó thức dậy vào buổi sáng và khi dậy có biểu hiện mệt mỏi do ngủ không ngon.
Thiếu máu do thiếu sắt cũng là căn bệnh khá phổ biến trên thế giới, đặc biệt ở các nước kém phát triển do chế độ dinh dưỡng nghèo nàn.
Nhu cầu sắt hàng ngày (khuyến cáo của RDI – Mỹ):
– 3-6 tháng: 6.6 mg
– 6-12 tháng: 8.8mg
– 1-10 tuổi: 10mg
– Nam 10-18 tuổi: 12mg
– Nam giới trưởng thành: 10mg
– Nữ giới trưởng thành: 15mg
– Nữ giới sau mãn kinh: 10mg
– Phụ nữ có thai: 45mg
➡ SELEN (SE)
Chức năng chủ yếu của Selen (Se) là tham gia vào thành phần của men glutathione peroxidase, men này hoạt động cùng với vitamin e nhằm ngăn ngừa và bảo vệ sự tổn thương màng tế bào bởi các gốc tự do. Nồng độ selen thấp là yếu tố nguy cơ cao của bệnh ung thư, bệnh tim mạch, bệnh viêm nhiễm và nhiều tình trạng bệnh lý khác có liên quan đến các tổn thương do tăng gốc tự do oxy hóa, gồm cả lão hóa sớm và hình thành đục thủy tinh thể.
Thiếu hụt selen trầm trọng có liên quan đến bệnh keshan, một rối loạn tim nặng nề chủ yếu ở trẻ con và phụ nữ trong tuổi sinh đẻ. Bệnh keshan xuất hiện ở một số vùng của trung quốc nơi có nồng độ selen trong đất trồng rất thấp. Thiếu hụt selen có thể gây những rối loạn ở tim và bệnh lý của cơ. Tuy nhiên những tình trạng thiếu selenium trầm trọng như vậy rất hiếm gặp. Thông thường hơn là dạng thiếu selen trong chế độ ăn lâu dài là nguy cơ ung thư, bệnh tim và suy giảm miễn dịch.
Nhu cầu selen hàng ngày (khuyến cáo của RDI – Mỹ):
– Dưới 6 tháng tuổi: 10mg
– 6-12 tháng: 15mg
– 1-6 tuổi: 20mg
– 7–10 tuổi: 30mg
– Nam 11–14 tuổi: 40mg
– Nam 15–18 tuổi: 50mg
– Nam trên 19 tuổi: 70mg
– Nữ 11–14 tuổi: 45mg
– Nữ 15–18 tuổi: 50mg
– Nữ trên 19 tuổi: 55mg
– Phụ nữ có thai: 65mg
– Phụ nữ cho con bú: 75mg
➡ MAGIE (MG)
Magie tham gia vào trên 300 phản ứng chuyển hóa khác nhau. Cơ thể thiếu magie dễ bị loạn nhịp tim, hay run rẩy, đau đầu, tăng huyết áp, suy nhược cơ thể, chán ăn. Thiếu magie làm tăng tế bào tuyến ức và gây viêm tế bào, đặc biệt là bạch cầu ưa eosin. Chuột lang ăn khẩu phần thiếu magie tăng nguy cơ choáng phản vệ
Những người dễ thiếu magie: người hay bị tiêu chảy, nôn trớ, mắc bệnh đái tháo đường, mức kali và canxi trong máu thấp, người già.
Nhu cầu magie hàng ngày (khuyến cáo của RDI – Mỹ):
– Nam giới: 350mg
– Nữ giới: 280mg
– Trẻ em 0-6 tuổi: 40-60mg
– Trẻ 7-10 tuổi: 170mg
– Nữ 11-18 tuổi: 280-300mg
– Nam 15-18 tuổi: 270-400mg
– Phụ nữ có thai: 320mg
– Phụ nữ cho con bú: 340-355 mg
➡ KẼM (ZN)
Nguyên tố kim loại này được tìm ra từ năm 1509. Kẽm tham gia vào rất nhiều chuyển hóa của cơ thể thông qua việc có mặt trong hơn 200 loại enzyme khác nhau. Thông thường kẽm không được dự trữ, do đó chỉ cần thiếu kẽm trong thời gian ngắn khoảng 2 ngày là đã có những biểu hiện ra bên ngoài, ví dụ như mệt mỏi, ngủ kém, lơ đễnh mất tập trung. Nếu kéo dài thêm nữa thì thấy móng gãy, tóc rụng, miệng lở, mụn nhọt nổi lên, suy giảm chức năng sinh lý và miễn dịch… Thiếu kẽm có thể gây dị dạng ở thai nhi, tổn thương hệ thần kinh, làm trẻ em tăng trưởng chậm, học hành kém tập trung.
Nhu cầu kẽm hàng ngày (khuyến cáo của RDI – Mỹ):
– 0-6 tháng : 2mg
– 7 tháng – 3 tuổi: 3mg
– 4-8 tuổi: 5mg
– 9-13 tuổi: 8mg
– Nam > 14 tuổi: 11mg
– Nữ > 14 tuổi: 8-9 mg
– Phụ nữ mang thai và cho con bú: 11-13mg
Khi sống trong tình trạng stress thường xuyên, bị chấn thương, bị viêm nhiễm, người hút thuốc thì nhu cầu về kẽm có thể tăng gấp đôi.
➡ CANXI (CA)
Canxi là một trong số những khoáng chất đóng vai trò quan trọng nhất đối với cơ thể. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng thiếu canxi là nguyên nhân gây ra 147 chứng bệnh. Canxi là thành phần chính cấu thành nên xương và hàm răng của con người (99% canxi tập trung ở xương và răng). Ngoài ra nó còn có nhiều chức năng khác như làm đông máu, ngăn ngừa băng huyết khi mạch máu bị tổn thương; điều hòa sự co bóp của bắp thịt (đặc biệt là tế bào tim); giúp hấp thụ vitamin B12 trong ruột; hỗ trợ sự phân phát, thu nhận và dẫn truyền tín hiệu thần kinh; sản xuất một số kích thích tố như insulin...
Canxi trong máu còn giúp duy trì huyết áp và nhịp tim đập bình thường. Chính vì vậy nên việc cung cấp và bổ sung canxi là việc cần ưu tiên hàng đầu và tiến hành ngay từ giai đoạn đầu đời của mỗi trẻ nhỏ.
Nhu cầu canxi hằng ngày theo Tổ chức y tế thế giới (WHO):
– Dưới 6 tháng tuổi: 300 mg
– 7 - 12 tháng tuổi: 400 mg
– 1 - 3 tuổi: 500 mg
– 4 - 6 tuổi: 600 mg
– 7 - 9 tuổi: 700 mg
– 10 tuổi: 1000 mg
– 11- 24 tuổi: 1200 mg
– 24 - 50 tuổi : 800mg - 1000mg
– Phụ nữ có thai, người cao tuổi: cần 1200mg - 1500mg
➡ I-ỐT (I)
Trong cơ thể, iốt là một khoáng chất vi lượng, ít hơn lượng sắt 100 lần. Nhưng cái phần ít ỏi ấy lại có thể quyết định đứa trẻ thông minh hay trì độn, nguyên lành hay dị tật. Chế độ ăn hiện nay thường không đủ iốt. Nhu cầu iốt của cơ thể được tính bằng microgam (mcg) nhưng nếu thiếu nó, nhiều biểu hiện bệnh lý quan trọng sẽ xuất hiện, đặc biệt là bệnh lý tuyến giáp.
Việc thiếu iốt trong thời kỳ thiếu niên không chỉ gây ra bướu cổ mà còn dẫn đến đần độn, chậm lớn, nói ngọng, nghễnh ngãng. Phụ nữ mang thai nếu thiếu iốt có thể bị sẩy thai, thai chết lưu, đẻ non. Khi thiếu iốt nặng, trẻ sinh ra có thể bị các khuyết tật bẩm sinh như điếc, câm, lác mắt hoặc tinh thần trì trệ.
Nhu cầu iốt hằng ngày theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO):
– Trẻ sơ sinh: 50mcg
– Từ 2-6 tuổi: 90mcg
– Từ 6-12 tuổi: 120mcg
– Trên 12 tuổi: 150mcg
– Phụ nữ mang thai và cho con bú: 200mcg
Dòng Sản phẩm Cân Bằng của tập đoàn Siberian Health. Tập đoàn đã phát triển dòng sản phẩm mới “ELEMVITALS”. Nói một cách chính xác đó là - CÁC NGUYÊN TỐ CỦA SỰ SỐNG!
Dòng sản phẩm “ELEMVITALS” được sản xuất theo công nghệ sinh học biến chuyển đặc biệt: các phân tử khoáng chất được liên kết gắn với các phân tử hữu cơ của a-xít citric, a-xít ascorbic, a-xít lactic, chúng cũng được liên kết với các men tế bào và vi tảo spirulina. Với công nghệ này chúng ta nhận được không chỉ đơn giản là các liên kết hữu cơ các khoáng chất, mà còn là các phân tử “sống” tương tự như các liên kết trong cơ thể người, điều này đảm bảo cho việc các khoáng chất được hấp thu tối đa.