CAU LAC BO DAO MAU VIET NAM

CAU LAC BO DAO MAU VIET NAM dành cho tất cả các bạn thanh đồng đạo quan pháp sư cung văn tay quỳnh tay quế... Theo tín ngưỡng tâm linh thờ Tam Tứ phủ của người việt

Xin vĩnh biệt Bác 🙏🙏🙏
19/07/2024

Xin vĩnh biệt Bác 🙏🙏🙏

1.-Tam quang chiếu bao la thế giớiMây lành bay rời rợi thiên khôngMột vùng bát ngát xa trôngSông soi bóng núi, núi chồng...
17/07/2023

1.-Tam quang chiếu bao la thế giới
Mây lành bay rời rợi thiên không
Một vùng bát ngát xa trông
Sông soi bóng núi, núi chồng đá nghiêng.

2.-Đỉnh Áng Sơn thiêng liêng cao tọa
Động Hoa Lư mây tỏa khói lan
Nước non non nước giang san
Như tiên cảnh đọa trần gian yêu kiều.

3.-Văn Lang quốc, Hùng triều thập bát
Dưỡng Vũ hương, bộ hạt Quận Ninh
Làng Xuân Vũ chính quê sinh
Dấu thiêng còn giữ, miễu linh hãy truyền

4.-Thánh Cao Sơn tương liên tương ngộ
Đức Nguyệt Nga Công Chúa, nên duyên
Vợ chồng luyện đạo tu tiên
Bao năm dẹp giặc giữ yên quê nhà.

5.-Nhậm sắc lệnh Vua Cha giữ cõi
Trấn Tây Nam vòi vọi núi sông
Hoa Lư non nước trập trùng
Muôn năm mở cõi, một vùng khai cơ.
🙏🙏🙏 mùng 1 xin Chúa độ cho con nhang đệ tử bách gia trăm họ phước duyên thấy hình chúa Bà được đắc tài sai lộc một tháng mới làm ăn phát tài phát lộc gặp nhiều may mắn thuận lợi 🙏🙏🙏

24/06/2021
09/01/2021

Chư tổ nói người ngộ thì độ , kẻ si mê không ngộ thì có muốn độ cũng không độ được . Tổ Huệ năng không biết chữ chỉ làm nghề đốn củi mà nghe bài kệ trong kinh kim cang đã ngộ đạo , quyết chí đi tìm thầy học đạo , tới tìm ngũ tổ , ngũ tổ tổ thấy là người ngộ đạo nhưng chưa thích hợp để chao chuyền y bát nên chỉ cho giã gạo ở nhà sau chùa . Lục tổ giã gạo mà lòng không oán trách , trách móc hay so bì với bất cứ một ai , tâm hoan hỷ làm hết mọi việc được sai bảo , khống đố kị ngạo mạn hay kiêu căng về sự giác ngộ của mình . Dù không biết chữ nhưng sự giác ngộ kinh sách của chư phật dậy chỉ cần nghe một lần người khác đọc mà giác ngộ không phải nhờ ai chỉ dậy . Khi ngũ tổ thấy nhân duyên đã đủ , tới gặp lục tổ đang say gạo mà hỏi rằng " gạo đã trắng chưa " .
Lục tổ đáp : " gạo đã trắng mà còn đang chờ người sàng sẩy "
Thấy lục tổ đã ngộ đạo ngũ tổ gõ vào đầu lục tổ 3 cái gậy rồi bỏ đi . Lục tổ hiểu ý ngũ tổ , nửa đêm canh ba chọn lúc mọi người ngủ hết mới đến bên ngũ tổ xin chỉ dậy . Ngũ tổ chao chuyền ý bát song căn dặn lục tổ rằng phải lánh thân chờ ngày đủ duyên khơi thì mới được đi giảng pháp độ đời và sau lục tổ sẽ không chuyền y bát cho ai nữa, vì y bát chỉ là vật tượng chưng cho sự hiện diện của chư tổ ấn chứng của chư tổ , chứ không thể làm con người ta giác ngộ được . Khi ngũ tổ bảo lục tổ Huệ Năng lên thuyền để ngài đưa lục tổ qua sông , Lục tổ nói với ngũ tổ " xin tổ để cho con tự chèo qua sông , khi con mê thì nhờ tổ độ , khi con giác ngộ thì tự con độ con "
Viếc ở đời và đạo cũng vậy , kẻ ngộ đạo thì chỉ khai thị một câu là thấu hiểu mọi sự , kẻ không ngộ đạo có đọc thuộc trăm bài kinh kệ , trì trăm bài chú cũng không tỏ ngộ được điều gì . Đạo phật coi lời giáo huấn của sư trưởng như lời phật dậy mà y giáo phụng hành không cãi một cậu không mảy may nghĩ động phạm một từ .
Đạo mẫu ta mang tiếng là quốc đạo , là đạo thờ cúng ông bà tổ tiên , mà cái gốc thì không bền chắc , sự học đạo còn phiến diện hình thức , coi trọng cái áo bên ngoài , hình thức bên ngoài mà không coi trọng cái tâm ý ở bên trong , môn đồ thì đấu đá lẫn nhau , rồi coi khinh thầy tổ , không tôn trọng thánh trọng thầy , chỉ cốt lợi mình , mà không nghĩ cho đạo . Sự học ít mà ba hoa đủ ngôn chữ , giác ngộ chưa đạt tới , mà tự đề cao mình , lấy cái tôi của mình làm trọng , ý thánh , ý thầy bỏ ngoài tai , chạy theo cái hư danh của cải vật chất bên ngoài , mà quên cái trách nhiệm phải hoàng dương chánh đạo , tu tâm dưỡng tính , tu học đạo tới khi giác ngộ mới độ đời .
Thật khó thay ,khó thay , sưa các cụ thử thách 12 năm mới luyện đủ một thanh đồng đạo quan lính thánh , bây giờ chưa đủ 3 năm đã tự phong mình là đạo cao chức cả , múa miệng khen hay , lấy tiền ra để mua danh bán tiếng , chạy theo đồng tiền để khổ luy cho đạo về sau .
Tiếc thay cho câu trên kính thánh dưới trọng thầy , trên theo thánh dưới theo thầy . 12 năm chưa trải đủ , oan gia trái chủ trưa trả song , mà đã mong hưởng quả , thật nhọc lòng chư thánh chư tổ cũng bằng không . Kêu quỳ tấu lậy , chỉ mong an mình mà không mong an người , lệ lậy cho nhiều cũng chỉ mong lộc nhiều tiền lắm , chứ mảy may chưa nghĩ tới viêc lớn của đạo là đi cứu người " cứu dân độ thế " " cứu người khổ độ người mê " . Như tổ Đạt Ma rũ tay áo ngồi thiền 6 năm không nói lời nào , không giảng cho ai vì ngài biết căn cơ của người đời chỉ đam mê vinh hoa phú quý , chứ đâu mốn giác ngộ đạo mà ngài nói ra đâu . Nên có nói có giảng cũng bằng thừa , uổng công khai thị thuyết pháp mà không ngộ gia lấy một chữ một câu nào , thời mạt pháp ma vương nhiều hơn phật , kẻ ngộ đạo thì ít , người cầu danh lợi vinh hoa phú quý thì nhiều , nên trên thì phật dưới thờ thánh mà tâm ma hiển hiện đâu có chỗ nào cho phật cho thánh ngự nơi tâm mình , đâu có chỗ nào có chữ có lời thầy dậy lưu ở trong tâm trong ý . Sưa tìm thầy học đạo khó , giờ tìm người học đạo còn khó hơn , nên đến đời Lục Tổ bỏ việc chuyền y bát cũng là nguyên do đó thôi , thờ phật mà tâm không có phật thì cũng là không thờ thôi , thà không thờ mà tâm có phật còn lợi lạc phước đức không cùng , còn thờ thánh thờ phật mà tâm hoài nghi , ý hoài nghi , tâm không có phật , lúc có lúc không , thì người đó không nên thờ phật vì không có phật thánh trong tâm thì có thờ cũng là vô ích .
Thật buồn cho đạo và đời , buồn cho hàng lính ghế bốn phủ , buồn cho hàng con nhang đệ tử , bước vào đạo mà không chịu tu sửa , chỉ mong có lợi có danh , tiền tài vật chất , của cải đầy mình , chỉ mong cầu sự sung sướng mà không mong cầu sự giác ngộ ... Vô minh mãi mãi trong sự vô minh

“Tấm áo đỏ nhà Ngài đâu dễ mặc/Chốn sập hầu đâu phải chỗ mua vui”. Đọc được câu thơ trên mạng Faceb...
30/12/2020

“Tấm áo đỏ nhà Ngài đâu dễ mặc/Chốn sập hầu đâu phải chỗ mua vui”. Đọc được câu thơ trên mạng Facebook, bỗng nhận ra và tự hỏi vậy " Hầu đồng là gì và Hầu đồng như thế nào cho đúng phép tắc?”.

Hầu đồng, hầu bóng, lên đồng là nghi thức chính không thể thiếu trong thực hành tín ngưỡng Tứ Phủ, tín ngưỡng thờ Đức Thánh Trần. Về bản chất đây là nghi thức giao tiếp với thần linh thông qua các ông /bà đồng. Người ta tin rằng các vị Thần linh có thể nhập hồn vào thân xác các ông/bà đồng nhằm phán truyền, diệt trừ tà ma, chữa bệnh, ban phúc, ban lộc cho bản thân và các con nhang, đệ tử. Khi đó các ông/ đồng không còn là chính mình nữa mà là hiện thân của vị Thần nhập vào họ.

Người tham gia hầu đồng có thể vì duyên nợ từ kiếp trước đến kiếp này nên có duyên/căn đồng được chư Thánh chọn cắt cử ra để cứu nhân, độ thế. Chứ đâu phải ra đồng để hầu vui, xin lộc, hưởng cầu. Ra đồng không phải trò đùa mà để trả nghiệp, để tu, để “ trên lo việc Thánh dưới gánh việc trần”, hoằng dương vinh danh Đạo Mẫu. Các ông/bà đồng luôn đội Phật Thánh trên đầu. Nói ra nghe có vẻ bình thường, bởi lẽ phàm là người đã trình đồng mở phủ, có ai mà không tâm niệm như vậy. Ấy thế mà lại là chuyện vẫn cần nói, cần bàn. Trước khi ra đồng mọi người hãy tìm hiểu thật kỹ để rồi định. Đã xác định ra “ cắt tóc làm tôi nối đời làm con phụng sự cửa Thánh” thì phải nhất tâm nhất tính không lượn lẹo đơm sai, không sái tâm loạn trí mà mắc tội. Nếu đúng duyên, đúng căn thì mới trình đồng nhập đạo và để mà nhất tâm tu đạo. Còn đã không có căn thì chỉ cần lo tu sửa tâm tính cầu mong cải thiện đời sống, đừng cố ép thành “có căn” rồi vội vàng ra trình đồng mở phủ, Nhập đạo mà không tu đạo thì chỉ có tích nghiệp rồi khổ mình, khổ gia đình, khổ con cháu. Không căn quả vẫn có thể tu theo Đạo Thánh, nhưng với những trường hợp này đường tu kéo dài và gian nan nên vì thế hay bị nhãng tâm nản chí. Thờ Mẫu không chỉ là hầu đồng mà còn phải tu dưỡng ”theo chính đạo, hướng đến an ngôi chính vị. Được nhận về đúng cung đúng cửa, hợp với căn mệnh của mình để tiếp tục rèn đồng., luyện đồng. “Lênh đênh qua cửa Thần Phù / Khéo tu thì nổi, vụng tu thì chìm." và "Đã mang lấy nghiệp vào thân /Cũng đừng trách lẫn trời gần trời xa". Cụ Nguyễn Du đã nói rất sâu sắc cái nghĩa của chữ Nghiệp trong đạo Phật Thánh

Thử thách đường tu ngày một gian truân, phức tạp. Nhà Thánh dùng hầu đồng để Thiền là lấy động chế tĩnh tiếp thu nạp năng lượng tu trì. Thiền đã được thực hiện từ thời cổ đại như là một phần của nhiều tôn giáo và niềm tin truyền thống. Nó thường liên quan đến một nỗ lực nội tại của con người để tự điều chỉnh tâm trí theo một cách nào đó. Trong ba năm đầu dù là theo lối cổ Tam côi hay Bách nhật thì cũng phải hầu tạ. Những năm tiếp theo mỗi năm buộc phải ít nhất hầu một vấn, nhiều nhất không nên quá ba vấn. Sau 3 năm khi tạ tam niên chốn tổ phải đi hầu tỏa bóng luyện lính trình tòa nơi cha nơi mẹ, cửa Thánh cai đồng thủ mệnh, rồi đi hầu tỏa bóng tại các cung các tòa các đền sở khác. Khi mệnh đã yên bóng đã đứng, biết đạo biết đời mới được cấp sắc tạ 12 niên bước sang luyện đồng. Trong thử thách có cả thử thách về xử sự trọn vẹn lễ nghĩa với Đồng thầy.
Về Đồng thầy có trách nhiệm hầu đỡ bóng đỡ quả cho con nhang để kêu thấu, tấu nổi được. Khi đã chấp nhận mở phủ, Đồng thầy không chỉ tốn công tốn sức, tốn thời gian, tiền bạc, mà thậm chí phải đem cả công đức lực và tâm lực của bản thân ra để đỡ bóng, kêu cầu tấu đối, phân định nghiệp lực oan gia cho con đồng. Vì vậy, các thầy thường phải gánh một phần nghiệp của đồng con ảnh hưởng đến cả vận số, sức khoẻ, tài vận của Đồng thầy. Vì Thủ nhang, Đồng thầy là phải hầu khai ấn, quấn cờ, đầu năm khai cuối niên tạ, hầu khai tiệc, hầu tiệc Thánh thủ điện, thủ đền. Đồng thầy còn phải hầu vấn tung khăn rước bóng hết các giá mà con nhang mình đỡ bóng.Dù thế nhưng cũng nên hầu có cữ, có hạn dành thờ gian khai tâm, dưỡng trí, tu trì, luyện đồng.

Ngoài những quy định trên ông/ bà đồng thực hành tâm linh còn tuân thủ việc kiêng cữ vì “có thờ có thiêng, có kiêng có lành”. Trường hợp nhà có tang có bụi, có thai, mới sinh, ốm đau bệnh tật không được hầu Thánh. mà nhờ người khác kêu thay, khấn đỡ. Đối với Thủ nhang phải là người không tàn tật, không can án, không có tang, không góa vợ, vợ có chửa phải nghỉ để người khác làm. Không được mặc đồ trắng, trừ khi bắc ghế hầu mặc bộ hạ y. Không để đầu trần khi ra ngoài, không đi chân đất trong mọi lúc. Không ăn thịt chó, thịt trâu, thịt rắn, thịt hổ, thịt cá sấu, thịt ba ba, lươn trạch.; Không ăn lòng động vật, tiết canh, cá mè, trứng vịt lộn, không ăn tỏi, không ăn cỗ đám ma, cau trầu nhà đám. Trường hợp buộc cần phúng viếng thì phải biện lễ trầu rượu tạ Thánh trước khi đi đám, khi về phải tắm gừng, không được bước qua dây phơi quần áo , lời nói phải đoan chính không được thô tục , hiểm ác . Nghiêm cấm sinh hoạt nam nữ trước 7 ngày khi làm lễ tế Thánh, Hầu Thánh .

Bài này chỉ là góp nhặt từ những bài viết, những tâm sự của các Nghệ nhân, Đồng thầy, Pháp sư để biên tập thành bài viết. Vì thế còn phiến diện, kính mong nhận được những ý kiến chỉ giáo của Quý vị "đồng cao, bóng cả" trong cộng đồng thực hành thờ Thánh Mẫu. Trong bài có điều gì không đúng, hoặc mạo phạm mong nhận được sự thông cảm và lượng thứ. Mong tiếp tục được trao đổi với Quý vị.

Đền ông Hoàng Mười hay còn gọi là Mỏ Hạc Linh Từ ở huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An. Đền ông Hoàng Mười là ngôi đền nổi t...
24/11/2020

Đền ông Hoàng Mười hay còn gọi là Mỏ Hạc Linh Từ ở huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An. Đền ông Hoàng Mười là ngôi đền nổi tiếng ở Nghệ An thờ đạo Mẫu Tứ phủ, vị thần được thờ chính là Quan Hoàng Mười

Đền được xây dựng năm 1634 từ thời hậu Lê trên diện tích hơn 1 ha ở làng Xuân Am, xã Hưng Thịnh huyện Hưng Nguyên, đền còn có tên khác là Mỏ Hạc Linh từ. Trải qua nhiều lần tu bổ, đến nay, đền có 3 toà chính: Thượng điện, Trung điện và Hạ điện.

Hàng năm vào ngày 10 tháng 10 âm lịch là ngày giỗ của ông Hoàng Mười
Có ba nơi thờ chính Đức Thánh Quan Hoàng Mười : Đền Mỏ Hạc Linh Từ ( nghệ an )
Đền Chợ Củi ( Hà Tĩnh )
Đền Cả -Đền Dinh Đô Quan Hoàng Mười ( Hà Tĩnh )
Ông Hoàng Mười hay còn gọi là Ông Mười Nghệ An. Ông là con của Vua Cha Bát Hải Động Đình, vốn là thiên quan trên Đế Đình, thần tiên trong chốn Đào Nguyên. Theo lệnh ông giáng trần để giúp dân phù đời. Về thân thế của ông khi hạ phàm thì có rất nhiều dị bản. Theo như ở vùng Nghệ Tĩnh thì ông được coi là Lê Khôi, vị tướng tài, cháu ruột và là người theo Lê Lợi chinh chiến trong mười năm kháng chiến chống quân Minh, sau làm đến nguyên thần tam triều Lê gia, phong đến chức Khâm Sai Tiết Chế Thủy Lục Chư Dinh Hộ Vệ Thượng Tướng Quân. Lại có một dị bản khác cho rằng ông giáng xuống trần là Uy Minh Vương Lí Nhật Quang, con trai Vua Lí Thái Tổ, cai quản châu Nghệ An.
Nhưng sự tích được lưu truyền nhiều nhất có lẽ là câu chuyện: Ông Mười giáng sinh thành Nguyễn Xí, một tướng giỏi dưới thời Vua Lê Thái Tổ, có công giúp vua dẹp giặc Minh, sau được giao cho trấn giữ đất Nghệ An, Hà Tĩnh (cũng chính là nơi quê nhà). Tại đây ông luôn một lòng chăm lo đến đời sống của nhân dân, truyện kể rằng có một lần xảy ra cơn cuồng phong làm đổ hết nhà cửa, ông liền sai quân lên rừng đốn gỗ về làm nhà cho dân, rồi mở kho lương cứu tế. Trong một lần đi thuyền trên sông, đến đoạn chân núi Hồng Lĩnh, thì lại có đợt phong ba nổi lên, nhấn chìm thuyền của ông và ông đã hóa ngay trên sông Lam. Trong khi mội người đang thương tiếc cử hành tang lễ, thì trời quang đãng, nổi áng mây vàng, bỗng thấy thi thể của ông nổi trên mặt nước nhẹ tựa như không, sắc mặt vẫn hồng hào tươi tắn như người đang nằm ngủ, khi vào đến bờ, đột nhiên đất xung quanh ùn ùn bao bọc, che lấy di quan của ông. Lúc đó trên trời bỗng nổi mây ngũ sắc, kết thành hình xích mã (có bản nói là xích điểu) và có các thiên binh thiên tướng xuống để rước ông về trời. Sau này khi hiển ứng, ông được giao cho trấn thủ đất Nghệ Tĩnh, ngự trong phủ Nghệ An. Nhân dân suy tôn ông là Ông Hoàng Mười (hay còn gọi là Ông Mười Củi) không chỉ vì ông là con trai thứ mười của Vua Cha (như một số sách đã nói) mà còn vì ông là người tài đức vẹn toàn, văn võ song toàn (“mười” mang ý nghĩa tròn đầy, viên mãn), không những ông xông pha chinh chiến nơi trận mạc, mà ông còn là người rất hào hoa phong nhã, giỏi thơ phú văn chương, không chỉ nơi trần thế mà các bạn tiên trên Thiên Giới ai cũng mến phục, các nàng tiên nữ thì thầm thương trộm nhớ. Sau các triều đại đã sắc tặng Ông Mười tất cả là 21 sắc phong (tất cả đều còn lưu giữ trong đền thờ ông).
Cùng với Ông Hoàng Bảy, Ông Hoàng Mười cũng là một trong hai vị Ông Hoàng luôn về ngự đồng, cũng bởi vì ông còn được coi là người được Vua Mẫu giao cho đi chấm lính nhận đồng (khác với Ông Bảy, những người nào mà sát căn Ông Mười thì thường hay hào hoa phong nhã, giỏi thi phú văn chương). Khi ngự về đồng Ông Mười thường mặc áo vàng (có thêu rồng kết uốn thành hình chữ thọ), đầu đội khăn xếp có thắt lét vàng, cài chiếc kim lệch màu vàng kim. Ông ngự về tấu hương rồi khai quang, có khi ông múa cờ xông pha chinh chiến, có khi lại lấy quạt làm quyển thư, lấy bút gài đầu để đi bách bộ vịnh phú ngâm thơ, có khi ông lại cầm dải lụa vàng như đang cùng người dân lao động kéo lưới trên sông Lam (quan niệm cho rằng đó cũng là ông kéo tài kéo lộc về cho bản đền) và ông cũng cầm hèo lên ngựa đi chấm đồng như Ông Bảy, người ta cũng thường dâng tờ tiền 10.000đ màu đỏ vàng để làm lá cờ, cài lên đầu ông. Khi ông ngự vui, thường có dâng đọi chè xanh, miếng trầu vàng cau đậu, thuốc lá (là những đặc sản của quê hương ông) rồi cung văn tấu những điệu Hò Xứ Nghệ rất mượt mà êm tai.
Đền thờ Ông Hoàng Mười là Đền Chợ Củi, chính là nơi năm xưa di quan ông trôi về và hóa, qua cây cầu Bến Thủy, bên sông Lam, núi Hồng Lĩnh, thuộc xã Nam Đàn, tỉnh Nghệ An (cũng chính là nơi quê nhà của Ông Mười). Ngày ông giáng sinh 10/10 âm lịch được coi là ngày tiệc chính của ông, vào ngày này, du khách thập phương nô nức đến chiêm bái cửa đền ông thật là tấp nập, trải dải đến tận đôi bờ sông Lam, người ta dâng ông: cờ quạt bút sách … để cầu tài cầu lộc cũng là cầu mong cho con em được đỗ đạt khoa cử, thành tài để làm rạng danh tổ tông.

Ngoài lễ hội chính diễn ra vào ngày 10 tháng 10 âm lịch hằng năm còn có lễ hội khai điểm vào ngày rằm tháng 3.Lễ hội có các hoạt động hấp dẫn như rước sắc bằng thuyền từ nhà thờ họ Nguyễn ra đền, hát chầu văn, thi chọi gà, đánh cờ người… Đền Ông Hoàng Mười cũng là một trong những nơi diễn ra Đại lễ cầu siêu cho các anh hùng liệt sỹ đã hy sinh trong kháng chiến chống quân xâm lược

Một số sự tích và suất thân khác của Quan Hoàng Mười
Trong sách “Đạo mẫu Việt Nam”, GS Ngô Đức Thịnh chủ biên, Nhà nghiên cứu Phạm Văn Khiêm cũng đã liệt kê được trên 80 câu thơ về nhân vật lịch sử này. Đây cũng đồng thời là bài hát khi hầu giá ông Hoàng Mười. Điểm đặc biệt trong nội dung lời hầu giá, đó chính lai lịch, sở thích của vị tướng quân có công giết giặc giữ nước trùng với giả thuyết cho rằng, ông Hoàng Mười thực ra là vị tướng Lê Khôi.
Lời hầu giá rằng: “Cánh hồng thấp thoáng trăng thanh/ Nghệ An có đức thánh minh ra đời (Hoàng Mười)/ Gươm thiêng chống đất chỉ trời/ Đánh Đông dẹp Bắc việc ngoài binh nhung/ Thanh xuân một đấng anh hùng/ Tài danh nổi tiếng khắp vùng trời Nam”... Nội dung bài hầu giá ngoài việc ca ngợi vị tướng Lê Khôi, tức đức thánh minh không chỉ có tài kiếm cung, thao lược mà ông cũng rất phong lưu, đào hoa. Khi rảnh rỗi, ông thường cưỡi ngựa đi ngắm cảnh, làm thơ, bên cạnh lúc nào cũng năm, ba thiếu nữ theo hầu...
Lời hát khi hầu giá ông Hoàng Mười mà Nhà nghiên cứu Phạm Văn Khiêm đưa vào sách “Đạo Mẫu Việt Nam” chỉ là một trong số nhiều bài hát hầu giá khác cùng tồn tại. Điều đó nói lên sự phức tạp và có nhiều dị bản khác nhau về ông Hoàng Mười.
Giả thuyết thứ hai cho rằng rằng: Ông Hoàng Mười chính là Uy Minh Vương Lý Nhật Quang, con trai của Lý Công Uẩn, cai quản châu Nghệ An. Tuy nhiên, cho đến nay giới nghiên cứu vẫn chưa tìm ra tư liệu hay bằng chứng nào để chứng minh cho giả thuyết này. Nhưng dẫu sao thì truyền thuyết vẫn tồn tại trong một bộ phận dân chúng, người ta vẫn coi ông Hoàng Mười là con trai đức vua cha Bát Hải Động Đình và dĩ nhiên, trong bài hầu giá của mình, người ta vẫn coi ông là Uy Minh Vương Lý Nhật Quang.
Ông Hoàng Mười là Nguyễn Xí?
Trong nhiều truyền thuyết về xuất thân Thánh ông Hoàng Mười, nhiều người nghiêng về giả thuyết, ông Hoàng Mười chính là Nguyễn Xí, sống ở thời Hậu Lê.
Nguyễn Xí xuất thân tại xã Nghi Hợp, huyện Nghi Lộc, Nghệ An ngày nay. Ông là bậc đại công thần, là võ tướng, chính trị gia lỗi lạc giúp Lê Lợi chiến đấu chống giặc Minh xâm lược. Nguyễn Xí là vị quan phò tá qua 4 đời vua Lê gồm. Lê Thái Tổ, Lê Thái Tông, Lê Hiến Tông và Lê Túc Tông. Đây là giai đoạn cực thịnh của nhà Lê. Sự hưng thịnh đã đi vào ca dao rằng: “Đời vua Thái Tổ, Thái Tông/ Lúa chất đầy đồng trâu chẳng buồn ăn”, hay “Đời vua Thái Tổ, Thái Tông/ Con bế, con dắt, con bồng, con mang”...

Sinh thời, Nguyễn Xí không chỉ là một bậc quan khai quốc công thần, tài hoa lỗi lạc mà ông còn giúp nhân dân xóa đói giảm nghèo. Sau khi đánh tan giặc Minh xâm lược, ông được Lê Lợi phân công cai quản đất Nghệ An, Hà Tĩnh. Tại đây, ông đã dạy dân trồng lúa nước, đắp đê ngăn lũ, thủy lợi nội đồng... Tương truyền, trong một lần gió lớn, mưa to, nhà cửa, cây cối của người dân bị bẻ sập, Nguyễn Xí đốc thúc quân lính và đích thân lên rừng đốn gỗ về dựng lại nhà cửa cho dân, sai người mở kho lương thực cứu tế kịp thời. Nhờ đó mà nhiều người đã thoát khỏi đói rét, chết chóc vì bão lũ... Vì vậy được dân chúng khắp nơi tôn sùng, coi như hiền thánh. Sự hưng thịnh của các đời vua Lê có dấu ấn quan trọng của Nguyễn Xí và bộ máy quan đại thần hạ triều.

Sự hóa thân từ bậc khai Quốc công thần đến Thánh Hoàng Mười cũng thật ly kỳ. Chuyện kể rằng: Một lần Nguyễn Xí dạo thuyền trên sông Lam, đoạn qua núi Hồng Lĩnh thì bỗng có đợt sóng to, gió lớn nổi lên, thuyền của ông bị thủy triều, phong ba cuốn đi mất. Dân chúng biết tin liền đến bên đôi bờ Lam giang mà tỏ lòng thương tiếc, người người khóc thương vị quan hết lòng vì dân. Đúng lúc đó, bầu trời đang cuồng phong bão táp bỗng tan biến, bầu trời nổi áng mây vàng, thi thể của ông nổi lên mặt nước, sắc mặt hồng hào như người nằm ngủ. Khi dạt vào bờ, đất xung quanh bỗng bao bọc lấy di quan. Cùng lúc, trên nền trời bỗng xuất hiện mây ngũ sắc, kết thành xích mã và thiên binh đưa ông về trời.
Sau khi ông mất, người dân Nghệ An lập đền thờ ông. Bách tính suy tôn ông là Thánh ông Hoàng Mười. Việc suy tôn này mang ý nghĩa ông là con của Đức vua cha Long Hải Đại Đình đầu thai vào Nguyễn Xí mà giúp dân dẹp giặc, xây dựng cuộc sống phồn vinh...
Theo nhận định của một số nhà nghiên cứu văn hóa thì giả thuyết ông Hoàng Mười chính là Nguyễn Xí có sức nặng hơn cả. Bởi xét về lịch sử ngôi đền được xây dựng vào năm 1634, tức cùng thời của Nguyễn Xí. Hơn nữa, Nguyễn Xí lại là quan đại thần, là bậc khai Quốc công thần dưới thời Lê, có công phò vua đánh tan giặc Minh xâm lược, khi thiên hạ thái bình, ông lại cùng ăn, cùng ở với dân, giúp bách tính vượt qua khổ ải vươn đến phú quý, hưng thịnh. Xét trên công lao đó, dân chúng chí tôn ông là Thánh Hoàng Mười là điều hiển nhiên và cũng hợp với ý nguyện của muôn dân vùng Nghệ An, Hà Tĩnh.

Đền Bắc Lệ Và Thần tích Chầu Bé Bắc LệĐền Bắc Lệ là một quần thể di tích nằm trên một quả đồi giữa khu Nam của Thôn Bắc ...
10/11/2020

Đền Bắc Lệ Và Thần tích Chầu Bé Bắc Lệ

Đền Bắc Lệ là một quần thể di tích nằm trên một quả đồi giữa khu Nam của Thôn Bắc Lệ, thuộc xã Tân Thành, huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn. Hiện nay vẫn chưa xác định được chính xác thời gian ra đời của một ngôi đền, song căn cứ vào hai văn bia còn (1919 và 1932) đền Bắc Lệ từ đầu thế kỷ XX đến nay đã trải qua 5 lần tu sửa tôn tạo. Theo văn bia khắc năm Khải Định thứ 4 (1919) thì trước đó đền chỉ là một am thờ nhỏ, hay bị hỏa hoạn, sau đó nhân dân đã cung tiến xây dựng thành một ngôi nhà 3 gian gồm 3 cung: Đệ Nhất - Đệ Nhị - Đệ Tam (cung cấm) ngôi đền mang bóng dáng nghệ thuật kiến trúc điêu khắc Trung quốc. Trong đợt sửa chữa lần 2 (1933) và lần 3 (1940) ngôi nhà 3 gian cũ được quay lại và xay thêm cung Đệ Tam ở phía sau. Một cổng Tam quan to cao được xây dựng ở phía ngoài Tam cấp lên đền. Sau đó do các điều kiện, nguyên nhân khác đền Bắc Lệ còn qua một số lần sửa chữa.

Tuy trải qua nhiều lần tu bổ, nhưng ngôi đền hiện nay vẫn giữ được dáng vẻ cổ truyền, diện mạo đền hiện nay ngoài đền chính còn có một số gian thờ khác, bên phía mặt tiền của đền là một gian nhà nhỏ khoảng 10m², thờ Chầu Bé Bắc Lệ, phái trước bên trái phía Đông Bắc của mặt chính diện đền có một bàn thời Ngũ Hổ ngoài trời. Đền chính vẫn nằm trên vị trí cũ, đó là một dãy nhà 3 gian xây bằng gạch lợp ngói tây, cột gỗ, ba gian nhà này đồng thời là 3 cung, diện tích 125m².

Mặc dù đã bị thất lạc nhiều song đền vẫn giữ được một số di vật cổ và thêm các hiện vật mới được cung tiến. Hiện nay đền có 19 pho tượng lớn nhỏ chủ yếu bằng chất liệu gỗ, nhiều y môn sặc sỡ treo trên các lối đi có hai văn bia và nhiều hoành phi câu đối.

Cũng giống như bất kỳ một đền thờ Mẫu nào đền Bắc Lệ thờ Công Đồng, Tứ Phủ, thờ tất cả các vị Chư Linh ở bốn miền Vũ Trụ, thế nhưng ở đây đặc biệt coi trọng các vị thần linh gắn liền với địa phương như Mẫu Thượng Ngàn, Chầu Bé, Cô Bé... những vị thần cung cấp ban phát của cải vô biên nơi núi rừng cho con người, và trở thành biểu tượng của sự sống vĩnh hằng. Chầu Bé theo quan niệm của người dân ở đây, vốn là người có thật quê quán ở Bắc Lệ. Tại đây Chầu Bé có thể thay mặt Mẫu để thực hiện các ý đồ sáng tạo của các Mẫu.

Bên cạnh Trung tâm là Mẫu còn có các thần linh hóa thân của Mẫu như Ngũ Vị Tôn Ông, Tứ Phủ Chầu Bà, Tứ Phủ Quan Hoàn, Cô, Cậu.. được thể hiện qua việc bài di tích.

Lễ hội chính của đền Bắc Lệ được tổ chức vào ngày 20 tháng 9 âm lịch hàng năm. Việc tế lễ, rước sách tổ chức rất linh đình, thu hút một số lượng đông đảo người dân tham dự.

Sự tích Chầu Bé vốn gốc người Nùng, dưới thời Lê Thái Tổ, chầu giáng sinh xuống miền Bắc Lệ, Lạng Sơn. Chầu cũng là vị có công giúp dân, giúp nước. Có tài liệu cho rằng Chầu Bé tuy là một vị chầu bà người Nùng trên Lạng Sơn, nhưng chầu lại chính là do Mẫu Thượng Ngàn hóa thân, giúp vua Lê Thái Tổ trong cuộc kháng chiến mười năm chống quân Minh, và sau này được vua phong là Lê Mại Đại Vương. Vậy nên đôi khi Chầu Bé cũng được đồng nhất với Bà Chúa Sơn Trang. Chầu dạo chơi khắp chốn thắng cảnh hữu tình, dạy dân chúng trồng trọt chăn nuôi, lên rừng làm ruộng bậc thang, xuống sông suối đánh bắt cá tôm. Tương truyền, Chầu Bé có phép thần thông do Đức Thái Tổ ban quyền có thể lay núi chuyển ngàn, đôi lúc rong chơi chầu lấy tàu lá giả làm hàng bán để trêu đùa người trần gian. Tuy đành hanh sắc sảo nhưng chầu cũng hết sức nhân hậu, có việc dữ lành chầu đều mách bảo cho người trần.
Chầu Bé cùng với Chầu Đệ Nhị và Chầu Lục, là một trong ba vị Chầu Bà trên Thượng Ngàn hay về ngự đồng nhất. Tuy thứ bậc chầu gần như là cuối cùng trong hàng Tứ Phủ Chầu Bà nhưng không một ai hầu mà chầu không ngự đồng. Chầu ngự về đồng thường hay mặc áo đen (hoặc xanh chàm, còn trước đây chầu chỉ mặc quầy và áo ngắn đến hông), chân đi xà cạp, trên vai đeo gùi hoa, chầu về đồng thường khai quang rồi múa mồi. Đôi khi Chầu Bé có thể giống như Chầu Đệ Nhị và Chầu Lục: chầu về chứng tòa Sơn Trang trong đàn mở phủ, sang khăn cho tân đồng hoặc chứng mâm giầu trình.
Chầu Bé Bắc Lệ và hai hầu cận bên Chầu là Nàng "Ân", nàng "Ái".
Đền thờ chính của Chầu Bé là ngôi đền nhỏ bên cạnh đền Bắc Lệ ở xã Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn .

Thần tích và những nơi thờ Cô Chín Cô Chín trong Tứ phủ thánh cô nổi tiếng mang nhiều quyền phép, xinh đẹp, tài ba và có...
25/10/2020

Thần tích và những nơi thờ Cô Chín
Cô Chín trong Tứ phủ thánh cô nổi tiếng mang nhiều quyền phép, xinh đẹp, tài ba và có tài xem bói. Cô Chín còn được biết tới với nhiều cái tên nổi tiếng như Cô Chín Giếng, Cô Chín Sòng sơn, Cô Chín Thượng Ngàn, cô Chín Âm dương (Âm dương linh từ)….

Vậy cô Chín thực chất là ai? Hãy cùng tìm hiểu trong bài viết này nhé.

Cô Chín là ai?

Cô Chín thực chất là một vị trong Tứ phủ Thánh Cô. Cô Chín mang nhiều cái tên như trên bởi lẽ tại mỗi nơi cô giáng ngự đều được người dân đặt tên theo nơi đó, ví dụ như:

+ Cô Chín giáng ngự tại Thượng Ngàn nên được gọi là Cô Chín Thượng Ngàn;

+ Cô giáng ngự ở suối được gọi là Cô Chín Giếng;

+ Cô giáng ngự ở Sòng Sơn nên được gọi là cô Chín Sòng Sơn.

Cô Chín thường mặc áo màu hồng phớt đào phai khi ngự đồng. Cô biến hóa linh hoạt, lúc thì quạt tiến Mẫu, lúc thì múa cờ tiến vua, khi khác lại thêu hoa dệt lụa, múa cánh tiên… Khi đảo cầu, người ta thường sẽ sắm các lễ vật gồm nón đỏ, hài hoa, vòng hồng để dâng lên Cô.

Hiện nay vẫn còn rất nhiều điều bí ẩn về Cô Chín mà chưa ai có thể lý giải được. Chúng ta cùng đến với từng sự tích gắn liền với từng cái tên khác của Cô Chín nhé.

Cô Chín Sòng Sơn được thờ tại Đền Sòng Sơn (Bắc Sơn, Bỉm Sơn, Thanh Hóa). Ngày tiệc cô Chín Sòng Sơn là ngày mồng 9/9 Âm lịch.

Theo truyền thuyết kể lại, Cô Chín Sòng Sơn là một tiên nữ trên chốn Thiên Đình, vô tình làm rơi vỡ một chén ngọc nên bị giáng xuống hạ giới để hầu Mẫu Liễu Hạnh.

Trong thời gian này, cô phải bôn ba khắp trời Nam, sau lạc về đất Thanh Hóa. Do thích thú với cảnh đẹp nơi đây liền hội họp thần nữ năm ba bạn cát, lấy gỗ sung làm nhà, mắc võng cây si. Người dân cầu thấy hiển linh liền lập đền thờ Cô Chín tại đây.

Tương truyền, Cô Chín Sòng Sơn mang nhiều quyền pháp, có khả năng xem bói, chữa nhiều loại bệnh, có khả năng gọi hồn, tuy vậy khi giáng hầu cô chỉ cho dân thuốc dùng để chữa bệnh.

(Hiện nay chưa có một tài liệu nào chứng minh rằng Cô Chín giáng trần vào một nhân vật nào trên trần gian)

Sự tích Cô Chín Thượng Ngàn
Cô Chín Thượng Ngàn hay Cô Chín Thượng Thiên là tên do Cô Chín được thờ tại các nơi miền núi.

Đền cô Chín Thượng Bắc Giang nằm tại thôn Đền Trắng, Đông Sơn, Yên Thế, Bắc Giang. Đền Cô Chín Thượng nằm cách Đền Chúa Nguyệt Hồ khoảng chứng 8km.

Ngoài ra còn có Đền Cô Chín Tây Thiên, Đền Cô Chín Đồng Mỏ và Đền Cô Chín Suối Rồng ở Hải phòng
Cô Chín Thượng Ngàn tương truyền ngự giáng vào thời Lê Triều. Hiện thông thường cứ vào dịp lễ Tết, người dân địa phương sẽ đi lễ Đền cô sau đó vào lễ Chầu 10.

Cô Chín Giếng (Cô Chín Cửu Tỉnh)

Đền Cô Chín Giếng thuộc Bắc Sơn, Thanh Hóa nổi tiếng là một trong những ngôi đền linh thiêng bậc nhất xứ Thanh. Ngày tiệc chính thờ Cô Chín Giếng là vào ngày 9/9 Âm lịch.

Tên gọi Đền Chín Giếng xuất phát từ 9 miệng giếng thiêng quanh năm nước chảy không bao giờ cạn dưới mặt dòng suối tự nhiên chảy qua đền Sòng và đền Chín Giếng.

Người dân bản địa cho rằng Cô Chín ngự tại miệng giếng thứ 9, là giếng sâu nhất, quanh năm đùn nước lại đền.

Theo truyền thuyết, Cô Chín là con gái thứ 9 của Ngọc Hoàng. Cô giáng trần bán nước ở cổng đền Ba Dọi, từng theo hầu Mẫu Sòng.

Ban đầu nhiều kẻ người trần mắt thịt nghĩ cô là yêu quái nên đánh đuổi và tìm cách diệt trừ. Cô tức giận và về tâu với thiên đình, cho thu giữ hồn phách, hành cho dở điên dở dại.

Dựa vào biệt tài xem bói 1000 quẻ đều đúng nên vào những năm loạn lạc, chiến tranh liên miên, cô đã giúp nhà vua bách chiến bách thắng. Ghi nhận công lao của Cô, nhà vua đã truyền cho nhân dân lập đền thờ Cô trước đền có 9 miệng giếng tự nhiên để Cô cai quản.

Sự tích Cô Chín Âm Dương
Cô Chín Âm Dương (còn được người dân trong vùng gọi là Cô Bé Âm Dương) hiện đang được thờ tại Âm Dương Linh Từ (thuộc xã Phú Long, Nho Quan, Tỉnh Ninh Bình )
Tương truyền, sau cuộc đại chiến Sòng Sơn khiến rất nhiều quân lính bị thương va được đưa về Nho Quan, tỉnh Ninh Bình hiện nay. Vua cha thấy vậy liền sai Cô Chín xuống luyện thuốc cứu người.

Nước Cô Chín luyện lấy từ giếng gần đó, là giếng có 9 mạch nước nối liền với Đền Sòng Sơn. Ngay sau khi xong việc, cô đã thác hóa về trời.

Để cảm tạ ơn đức của Cô Chín, người dân đã lập đền để thờ Cô tại đây. Tuy nhiên chiến tranh đã tàn phá ngôi đền và san lấp mặt giếng. Hiện ngôi đền đã được xây dựng lại cách đó 200m. Những người có duyên với Cô khi đến sẽ được Cô cho nước tại giếng nước âm dương để chữa bệnh.

Trên đây là những sự tích về Cô Chín được tương truyền rộng rãi trong dân gian.
Không chua ai gọi là tranh
Không thiêng ai gọi Cô Chín sứ thanh đền sòng .

Mẫu Cửu Trùng Thiên Và Sự nhầm lẫn Thường thấy người ta hay nhắc tới Tam Tòa Thánh Mẫu gồm Mẫu Đệ Nhất Thượng Thiên, Mẫu...
25/10/2020

Mẫu Cửu Trùng Thiên Và Sự nhầm lẫn

Thường thấy người ta hay nhắc tới Tam Tòa Thánh Mẫu gồm Mẫu Đệ Nhất Thượng Thiên, Mẫu Đệ Nhị Thượng Ngàn, Mẫu Đệ Tam Thoải Phủ trong Tam Phủ. Nhưng trong Tứ Phủ Vạn Linh lại có thêm một vị Thánh Mẫu nữa đó là Mẫu Cửu Trùng Thiên hay mẫu Đệ Nhất Thiên Tiên. Vậy vị thánh mẫu này là ai, liệu ngài có giống Mẫu Đệ Nhất Thượng Thiên hay không? Hãy cùng theo dõi bài viết sau

Thiên Tiên Đệ Nhất Thánh Mẫu Văn
Mẫu Cửu Trùng Thiên là ai? Sự tích Mẫu Cửu Trùng Thiên
Mẫu Cửu Trùng Thiên, trong tâm linh người Việt tin rằng Mẫu ngự nơi chín tầng mây. Là vị nữ thần quyền hành cai quản tiên cung, cai quản lục cung sáu viện (Lục Cung Vương Mẫu).

Mẫu còn có nhiều danh hiệu khác ngoài Mẫu Đệ Nhất Thiên Tiên như Mẫu Thượng Thiên, Thiên Thanh Công Chúa, Thanh Vân Công Chúa, Cửu Trùng Thánh Mẫu (Mẫu Cửu), Lục Cung Vương Mẫu, Mão Dậu Công Chúa. Mẫu thường mặc áo đỏ và ngồi ở chính giữa. Ngoài ra, mẫu còn có danh hiệu là Bán Thiên Công Chúa (Mẫu Bán Thiên). Hầu hết các đền phủ hay điện thờ tại gia đều có ban thờ Mẫu Bán Thiên ngoài trời.

Nhiều ý kiến cho rằng Cửu Trùng Thánh mẫu được đồng nhất với Cửu Thiên Huyền Nữ (Trung Hoa) là vị nữ thần linh thiêng với nhiều sự tích kỳ bí, tuy nhiên đây mới chỉ là ý kiến tham khảo.

Mẫu Cửu Trùng Thiên có phải là Mẫu Liễu Hạnh
Một điều có thể khẳng định rằng Mẫu Cửu Trùng Thiên không phải là Mẫu Liễu Hạnh. Có chăng sự nhầm lẫn xảy ra do danh vị của hai Mẫu. Theo đó, trong Tam Phủ, mẫu Liễu Hạnh có danh hiệu là Mẫu Đệ Nhất Thượng Thiên, trong khi ở Tứ Phủ, mẫu Cửu Trùng Thiên cũng có danh hiệu gần giống là Mẫu Đệ Nhất Thiên Tiên. Trong Tứ Phủ Vạn Linh, Mẫu Liễu Hạnh có danh hiệu là Mẫu Đệ Nhị Địa Tiên.

Có ý kiến tham khảo cho rằng vì việc cai quản Thiên Phủ vốn tách biệt với đời sống dương gian, Mẫu Cửu Trùng Thiên đã ủy quyền đại diện tại nhân thế cho Mẫu Địa (tức Mẫu Liễu Hạnh). Bởi vậy mà ở nhiều đền điện, Mẫu Liễu Hạnh được thờ ở ngôi Mẫu Thượng Thiên, mặc áo đỏ. Ở những đền điện như vậy thường chỉ có Tam Tòa Thánh Mẫu chứ không có Tứ Phủ Thánh Mẫu. Và Mẫu Cửu Trùng Thiên thì thường được thờ ở ngoài trời.

Đền thờ Mẫu Cửu Trùng Thiên
Đền Bằng Sở – Hà Nội
Địa chỉ: thôn Bằng Sở, xã Ninh Sở, Thường Tín, Hà Nội

Đền Bằng Sở được cho là một trong hai ngôi đền nổi tiếng thờ Mẫu Cửu Trùng Thiên hay Mẫu Đệ Nhất Thiên Tiên.

Tam quan đền có ghi rõ “Đền Mẫu Cửu Thôn Bằng Sở” nhằm khẳng định chính xác đây là nơi thờ Mẫu Cửu Trùng Thiên.

Bên trong đền cũng lưu lại đôi câu đối nói về Mẫu Cửu Trùng:

“Tứ Phủ linh thanh, hộ quốc bảo dân thiên hạ mẫu

Cửu trùng trắc giáng, đằng vân giá vũ địa trung tiên.”

Dịch:

“Tứ Phủ linh thiêng, giúp nước cứu dẫn mẫu nghi thiên hạ

Cửu trùng lên xuống, đi mây về gió vị tiên thế gian.”

Đền Thượng nổi tiếng tượng Mẫu Cửu Trùng Thiên – Ba Vì
Địa chỉ: khu du lịch vườn quốc gia Ba Vì, Hà Nội
Đền Thượng còn là ngôi đền chính nổi tiếng thờ Tản Viên Sơn Thánh – Đức Thánh Tản linh thiêng.

Đền Thượng cũng là nơi thờ Mẫu Cửu Trùng Thiên nhưng khác biệt là nơi đây thờ tượng mẫu uy nghiêm ở ngoài trời, đặt tại nơi cao nhất của đỉnh Mẫu thuộc núi Ba Vì. Pho tượng Mẫu mới được đúc cách đây 10 năm tức ngày 16/10/2010.

Pho tượng mẫu có kích thước bằng người thật, nặng khoảng 1 tấn đồng. Tượng mô phỏng tư thế Mẫu đang ngồi trên ngai. Bên dưới là bệ đỡ cao bằng đá. Tổng kích thước chiều cao pho tượng tính cả bệ đá khoảng 2,3m. Đây là một tác phẩm có giá trị nghệ thuật được thể hiện công phu trên chất liệu đồng cấn tam khí, có gắn đá màu. Công trình được hội Liên hiệp các hội UNESCO Việt Nam bảo trợ ngay từ khi khởi xướng.

Tượng Mẫu Cửu Trùng Thiên tại đền Thượng
Tại vị trí pho tượng Mẫu Cửu Trùng hiện tại xưa kia cũng có tượng mẫu cỡ nhỏ bằng sứ. Việc nhân dân đặt tượng mẫu ngay tại vị trí ấy thể hiện ý nghĩa rằng ngài là đấng thiên hoằng chuyền pháp linh thiêng .
Nói về sắc thái pho tượng Mẫu Cửu Trùng Thiên, gương mặt có nét đoan nghị, tươi tắn, vị tha nhưng cũng đầy vẻ trang nghiêm. Khi đứng trước dung diện ngài, ai tâm tính hiền lành sẽ thấy vẻ mặt của Mẫu thật hiền từ, ai tâm tính bất ổn, thì sẽ thấy vẻ mặt mẫu khoan dung, khuyên bảo, ai tâm tính dối trá gian manh sẽ cảm thấy vẻ mặt Mẫu nghiêm buồn mà cảm thấy hối lỗi, sửa chữa.

Điều đặc biệt ở pho tượng Mẫu đó là mẫu không đội mũ bình thiên, vì các vua trần gian mới cần mũ ấy bởi họ là “con trời”. Thiên tử mới phải đội cái lệnh “ngang trời” ấy, còn các Thánh Thần trong vai Thiên chủ không nên đội mũ ấy vì “thay mặt cho trời” để hoằng pháp. Vì thế Mẫu Cửu Trùng Thiên không cần đội chiếc mũ bình thiên mà đội mũ “đỉnh phượng của Trời” do hỏa biến – là ngọn lửa hướng thiên cấu thành (theo nguyên tắc tứ linh thì chim Phượng do Lửa hóa ra, Rồng linh cho Thủy tác thành; Lân, Ly do Mộc tạo nên và Rùa thiêng do Đất lập lại). Chiếc mũ của Ngài mang dáng dấp Việt, như dáng mũ của Tứ Pháp và Phật Mẫu Man Nương bên chùa Dâu.

Mẫu Cửu ở vị trí nào trong các Thánh Mẫu
Mẫu Cửu Trùng Thiên ngự trên chín tầng mây, quyền hành cai quản thiên cung, cai quản Lục Cung trên thiên đình. Đáng lẽ Mẫu Cửu Trùng Thiên sẽ là ngôi Thượng Thiên trong Đạo Mẫu. Như vậy, nếu đầy đủ thì chúng ta phải có: Tứ Tòa Thánh Mẫu và lần lượt là:
– Mẫu Đệ Nhất Thiên Tiên ( Mẫu Cửu Trùng Thiên).
– Mẫu Đệ Nhị Liễu Hạnh.
– Mãu Đệ Tam Thượng Ngàn.
– Mẫu Đệ Tứ Thoải Phủ.
Có tài liệu cho rằng Tứ vị Thánh Mẫu lần lượt là : Mẫu Đệ Nhất Thiên Tiên- Thanh Vân Công Chúa ( hay còn gọi là Mẫu Cửu Trùng Thiên), Thánh Mẫu Liễu Hạnh, Mẫu Đệ Tam Thoải Cung, Mẫu Đệ Tứ Nhạc tiên Sơn Lâm Công Chúa.
Tuy nhiên, Mẫu Cửu Trùng Thiên không giáng trần nên Mẫu Liễu Hạnh đã Thay Thế ngôi của Mẫu Cửu Trùng Thiên trở thành Mẫu Đệ Nhất Thượng Thiên. Khi đó chúng ta có Tam Tòa Thánh Mẫu như sau:
– Mẫu Đệ Nhất Thượng Thiên ( Mẫu Liễu Hạnh)
– Mẫu Đệ Nhị Thượng Ngàn
– Mẫu Đệ Tam Thoải Phủ.
Chúng ta cũng cần phân biệt khái niệm Tứ Tòa Thánh Mẫu ( hay Tứ Vị Thánh Mẫu) và Tứ Phủ Thánh Mẫu. Tứ Tòa Thánh Mẫu là Mẫu Cửu Trùng Thiên + Tam Tòa Thánh Mẫu. Còn Tứ Phủ Thánh Mẫu là Tam Tòa Thánh Mẫu + Mẫu Địa.
Sự tích Mẫu Cửu Trùng Thiên
Mẫu Cửu Trùng Thiên đã có vào thời vua Hùng Kinh Dương Vương giúp Hữu Hùng Thị đánh giặc ác chúa tên là Xuy Vưu.
Mẫu Cửu Trùng Thiên được thờ như thế nào
Như trên đã nói Tam Tòa Thánh Mẫu thường không có Mẫu Cửu Trùng Thiên. Mẫu Cửu Trung Thiên thường được thờ ngoài trời với tên ban Mẫu Cửu Trùng Thiên hoặc ban Mẫu bán Thiên. Thường ở các đền phủ đều có ban thờ Mẫu Cửu Trùng Thiên ở ngoài trời.
Đền thờ chính của Mẫu Cửu Trùng Thiên ở đâu
Tại thô Bằng Sở, xã Ninh Sở, Thường Tín Hà Nội có một ngôi đền tên gọi: Đền Mẫu Cửu Trùng. Đền có từ lâu đời nhưng có từ thời nào thì chưa rõ.
Tại đền Cô Chín Sòng Sơn thì tại Cung Cấm là thờ Mẫu Cửu Trùng Thiên.
Tại Đền Rồng – Thanh Hóa cũng có môt cung thờ Mẫu Cửu Trùng Thiên.
Tại núi Cổ Bồng – Ba Vì có tượng Mẫu Cửu Trùng Thiên bằng đồng đúc mới được an vị ngày 16/10/2010 có kích thước lớn bằng người thật, nặng khoảng 1 tấn đồng, cao 2,3 cm.

Ý kiến khác về Mẫu Cửu Trùng
Có ý kiến cho rằng Mẫu Cửu Trùng Thiên chính là Cửu Thiên Huyền Nữ bên Trung Quốc. Tuy nhiên, Cửu Thiên Huyền Nữ là một nữ thần với hình tượng linh thiêng huyền bí. Mẫu Cửu lại là nữ thần cai quản thiên đình trên chín tầng mây. Như vậy, có thể Mẫu Cửu Trùng Thiên là vị nữ thần của Việt Nam chứ không phải của Trung Quốc.
Ngày tiệc của Mẫu Cửu Trùng Thiên: Ngày 9 tháng 9.

Address

Thôn Xuân Vũ Xã Ninh Vân Huyện Hoa Lư Tỉnh Ninh Bình
Ho Chi Minh City

Telephone

0986535519

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when CAU LAC BO DAO MAU VIET NAM posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Contact The Practice

Send a message to CAU LAC BO DAO MAU VIET NAM:

Share

Share on Facebook Share on Twitter Share on LinkedIn
Share on Pinterest Share on Reddit Share via Email
Share on WhatsApp Share on Instagram Share on Telegram