02/04/2026
🧩 MỪNG NGÀY THẾ GIỚI NHẬN THỨC VỀ TỰ KỶ
Ngày 02 tháng 04 năm 2008 được xem là lần tổ chức đầu tiên của Ngày Thế giới Nhận thức về Tự kỷ (World Autism Awareness Day). Mục đích của hoạt động này là nhằm nhấn mạnh sự cần thiết trong việc cải thiện chất lượng sống của những người tự kỷ, đồng thời nâng cao hiểu biết của các cá nhân, gia đình và cộng đồng nói chung về đặc điểm, tác động của tự kỷ cùng những vấn đề xoay quanh đó như sự kỳ thị, phân biệt đối xử (United Nations, n.d.).
Cho đến nay, hoạt động này đã kéo dài gần 20 năm với nhiều hội thảo và chiến dịch truyền thông nâng cao nhận thức được tổ chức rộng rãi ở nhiều quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Trong bài viết này, hãy cùng CLB Sinh viên Tâm lý điểm qua một vài vấn đề xoay quanh cuộc thảo luận trong cách nhìn nhận về tự kỷ và quyền lợi của người tự kỷ trong bối cảnh đời sống chính trị.
Bàn về vấn đề này, Runswick-Cole (2014) đề cập đến hai quan điểm chính đối lập nhau có ảnh hưởng đến các hoạt động vận động chính sách dành cho người tự kỷ, bao gồm: (1) Quan điểm dựa trên tiếp cận sinh học, xem tự kỷ là rối loạn cần được điều trị; và (2) Quan điểm dựa trên tiếp cận của Phong trào Đa dạng thần kinh (Neurodiversity Movement), xem tự kỷ là khác biệt cần được tôn trọng. Trong đó, Phong trào Đa dạng thần kinh nổi lên từ cuối thế kỷ 20 bởi chính cộng đồng những người có rối loạn phổ tự kỷ, nhấn mạnh việc xem những cá nhân này là có “thần kinh không điển hình” (neurodivergent) so với những người có “thần kinh điển hình” (neurotypical). Dyck và Russell (2019) quan sát thấy phong trào này phản đối việc “chữa trị” nhằm loại bỏ tự kỷ, thay vào đó là xem những điểm vượt trội mà chứng tự kỷ mang lại như khả năng tập trung cao độ và kỹ năng hệ thống hóa là cần thiết cho sự phát triển của nhân loại nên cần được bảo tồn trong quỹ gen. Ngoài ra, các tác giả còn nhận thấy phong trào này ưu tiên sử dụng ngôn ngữ có tính khẳng định bản dạng như “người tự kỷ” (autistic person) thay vì ngôn ngữ y tế như “người mắc tự kỷ” (person with autistic), nhằm nhấn mạnh rằng chứng tự kỷ là một phần có vai trò quan trọng và tích cực trong bản dạng của họ.
Có nhiều tranh cãi xoay quanh Phong trào Đa dạng thần kinh, mà điển hình trong thời gian gần đây nhất là sự xem xét về những hạn chế của nó trong bối cảnh tư tưởng của Chủ nghĩa tân tự do (Neoliberalism). Runswick-Cole (2014) lập luận rằng các phong trào dựa trên chính trị bản dạng (identity politics) như Phong trào Đa dạng thần kinh không thách thức được cấu trúc tư tưởng nhị nguyên của Chủ nghĩa tân tự do vốn dựa trên việc phân chia xã hội thành “chúng ta” (những người có thể đóng góp cho nền kinh tế) và “họ” (những người thất bại trong việc đạt được lý tưởng “tân tự do” này và bị đẩy ra ngoài lề). Thay vào đó, nó tạo ra các nhóm bản dạng mới như “khác biệt thần kinh” và “thần kinh điển hình”, tập trung vào sự khác biệt sinh học để khẳng định cho bản dạng và vì thế vô tình cố định các cá nhân vào những vị trí có sẵn để dễ bề quản lý, phân loại.
Liên quan đến tình trạng này, có thể viện dẫn góc nhìn của Susan Hekman (1999) về sự đứt gãy giữa lý thuyết và thực hành của chính trị bản dạng, khi ta không thể trải nghiệm bản thân mình như một cấu trúc lỏng lẻo linh hoạt do xã hội kiến tạo nên (theo như lý thuyết), mà cần một cái tôi ổn định để hành động trong thực tế (chẳng hạn như để có tâm lý ổn định, tham gia chính trị hay đòi hỏi quyền lợi).
Cũng vì lẽ đó, khi Phong trào Đa dạng thần kinh khẳng định tự kỷ chỉ là “sự khác biệt” chứ không phải “rối loạn”, người có rối loạn phổ tự kỷ ở mức độ nặng hơn phải tự đưa mình ra khỏi danh mục nhận được sự hỗ trợ xã hội cho những khó khăn rõ thấy trong đời sống hàng ngày của họ. Ngoài ra, việc củng cố bản dạng “khác biệt thần kinh” có nguy cơ tạo điều kiện cho Chủ nghĩa tân tự do biến sự khác biệt thành hàng hóa để rao bán trong các thị trường, để kiểm soát và khai thác trong các ngành công nghiệp dịch vụ điều trị (Runswick-Cole, 2014). Không chỉ vậy, phong trào này còn dẫn tới sự đồng nhất các khác biệt thành một tập hợp chung, quá tập trung vào việc khẳng định bản dạng mà làm lu mờ đi các hình thức áp bức sâu sắc khác có tính nền tảng trong bối cảnh của mỗi cá nhân như phân biệt chủng tộc, kỳ thị khuyết tật, giới tính, khoảng cách địa vị, nghèo đói,...
Về kết luận, Runswick-Cole (2014) kêu gọi hướng đến một nền chính trị công nhận “sự khác biệt tự thân” - nơi người khuyết tật, người tự kỷ,... không cần phải so sánh với các tiêu chuẩn “bình thường” để được công nhận giá trị, và vì thế không cần phải bám vào các vị thế chủ thể cố định như “người khác biệt thần kinh” hay là “người thần kinh điển hình”. Còn Susan Hekman (vốn là một nhà hoạt động nữ quyền) thì đề xuất giải pháp hàn gắn sự đứt gãy của nền chính trị bản dạng bằng cách tạo ra một không gian chính trị không áp đặt một bản dạng duy nhất nào và cũng không yêu cầu người tham gia chính trị phải có một bản dạng nhất định mới được lắng nghe, tức là một nền chính trị tập trung vào mục đích chung cuộc với những mục tiêu chính trị cụ thể, một nền chính trị không dựa trên bản dạng (non-identity politics).
Cho đến cuối cùng, phải chăng điều quan trọng nhất là lắng nghe tiếng nói của người trong cuộc, là đón nhận và mang lại những hỗ trợ cần thiết cho các cá nhân và gia đình của người tự kỷ, thay vì quá chú trọng vào “sự khác biệt sinh học” như một điều gì đó cố định chia tách “chúng ta” và “họ”. Bạn nghĩ sao về vấn đề này?
----------------------
Hình ảnh: tofu
Nội dung: Jasmine
----------
Mọi thắc mắc xin vui lòng liên hệ:
Email chính thức của CLB: clbsinhvientamly@hcmussh.edu.vn
Fanpage: CLB Sinh viên Tâm lý
Chủ nhiệm: Nguyễn Thị Cẫm Tú (0372 482 576)