BS CKII Huỳnh Tấn Vũ

BS CKII Huỳnh Tấn Vũ Bsck2. Huỳnh Tấn Vũ. Khám TQ - BvĐHYDược Tp.HCM-cs3. Sáng thứ ba, sáng 5 tại 221B Hoàng Văn Thụ, Phường Phú Nhuận. Xoa bóp BH-ĐHYD Tp.HCM. (đẹp, khoẻ, trị liêu)

Pk Tâm Y: 17-20g tại 68/10A Trần Kế Xương, Phường Gia Định.( Đau, Liệt, RL chức năng cơ thể).

Đồng loạt sắp khai giảng ( sau Tết Bính ngọ ) 3 lớp xoa bóp bấm huyệt.!! tại ĐH Y Dược Tp.HCM dành cho mọi đối tượng có ...
23/01/2026

Đồng loạt sắp khai giảng ( sau Tết Bính ngọ ) 3 lớp xoa bóp bấm huyệt.!! tại ĐH Y Dược Tp.HCM dành cho mọi đối tượng có nhu cầu học & luyện tay nghề về XBBH làm đẹp, khỏe & trị liệu ( chứng đau, yếu liệt, rối loạn chức năng cơ thể). Cụ thể dự kiến:
- lớp xoa bóp bấm huyệt chăm sóc sức khỏe dành cho mọi người . Học chiều 2,4,6. Số tiết 120 tiết. Học 3 tháng. XBBH cssk khoá 03. Dự kiến 23/3/2026 khai giảng.
https://tinyurl.com/XBBH-CSSK3
- lớp xoa bóp bấm huyệt dành cho nhân viên y tế từ trung cấp y dược trở lên . Học chiều thứ bảy và cả ngày chủ nhật . Học 3 tháng. 158 tiết. Dự kiến khai giảng XBBH NVYT K06 : KG 04/04/2026
https://tinyurl.com/XBBH6-DTNL
- lớp xoa bóp cho trẻ & xoa bóp bấm huyệt cho mẹ sau sinh dành cho nhân viên y tế Khoá 07. Học 3 tháng 124 tiết. Dự kiến khai giảng: 18/4/2026.
https://tinyurl.com/XBMEBEK7-DTNL
Liên hệ trung tâm đào tạo nhân lực y tế theo nhu cầu xã hội - Đại học Y Dược TPHCM để đăng ký: 02838539207. Số lượng học viên các lớp có hạn xin vui lòng đăng ký trước nhé.!!!
Ngoài ra có sách hỗ trợ học tập ( sách do nhà xuất bản Y học in & tác giả bán trực tiếp)
1.Xoa bóp cho trẻ & xoa bóp bấm huyệt cho mẹ sau sinh (2024/252 trang) 310k,
2.Xoa bóp bấm huyệt (2020/ 287 trang//250k cuốn ),
3. Yoga khí công (2022/255 trang/280k/ cuốn), 4. Y Học cổ truyền cơ sở (2024/ 335 trang/330k/ cuốn.
5.Xoa bóp bấm huyệt đầu mặt cổ & nghệ thuật chăm sóc da (2025/253 trang/290k.
-Cộng 5 cuốn: 1.460k. sách đẹp- giấy tốt- chữ rõ, đặc biệt có dán tem chống hàng giả hàng photo phía sau sách.

Chiều cuối năm 31/12/2025 tọa đàm về Xoa bóp bấm huyệt tại Viện Y Dược Dân tộc TPHCM ..
31/12/2025

Chiều cuối năm 31/12/2025 tọa đàm về Xoa bóp bấm huyệt tại Viện Y Dược Dân tộc TPHCM ..

-Thường xuyên mở các lớp xoa bóp bấm huyệt tại ĐH Y Dược Tp.HCM dành cho mọi đối tượng có nhu cầu học & luyện tay nghề v...
18/12/2025

-Thường xuyên mở các lớp xoa bóp bấm huyệt tại ĐH Y Dược Tp.HCM dành cho mọi đối tượng có nhu cầu học & luyện tay nghề về XBBH làm đẹp, khỏe & trị liệu ( chứng đau, yếu liệt, rối loạn chức năng cơ thể).
Cụ thể dự kiến:
- lớp xoa bóp bấm huyệt chăm sóc sức khỏe dành cho mọi người . Học chiều 2,4,6. Số tiết 120 tiết. Học 3 tháng. XBBH cssk khoá 03. Dự kiến 23/3/2026 khai giảng.
https://tinyurl.com/XBBH-CSSK3
- lớp xoa bóp bấm huyệt dành cho nhân viên y tế từ trung cấp y dược trở lên . Học chiều thứ bảy và cả ngày chủ nhật . Học 3 tháng. 158 tiết. Dự kiến khai giảng XBBH NVYT K06 : KG 04/04/2026
https://tinyurl.com/XBBH6-DTNL
- lớp xoa bóp cho trẻ & xoa bóp bấm huyệt cho mẹ sau sinh dành cho nhân viên y tế Khoá 07. Học 3 tháng 124 tiết. Dự kiến khai giảng: 18/4/2026.
https://tinyurl.com/XBBH6-DTNL
Liên hệ trung tâm đào tạo nhân lực y tế theo nhu cầu xã hội - Đại học Y Dược TPHCM để đăng ký: 02838539207. Số lượng học viên các lớp có hạn xin vui lòng đăng ký trước nhé.!!!
@ thảo dược:
-Túi chườm thảo dược 600k, ngâm tắm thảo dược, gội đầu bằng thảo dược 200k/ hộp/ 10 gói nhỏ-> giúp giảm đau giãn cơ, đẹp da, mượt tóc.!
- Thuốc bào chế giúp bồi bổ khí huyết , sống thọ & nâng cao sức khỏe & chất lượng cuộc sống.
+ Lục vị Trường sinh hoàn ( tễ) 49k/1v ( Người âm hư nội nhiệt, phụ nữ Tiền& mãn kinh, trẻ em suy dinh dưỡng, ra mồ hôi tay chân).
+ Bát vị Thọ sinh hoàn ( tễ) 49k/1 viên (Dương hư sinh ngoại hàn: tay chân lạnh, tăng cường sinh lý ).
+ Bát Trân Bảo sinh hoàn ( tễ) 1 viên 49k/1v ( Khí huyết hư suy, mệt mỏi, chán ăn, người nhợt nhạt, sau khi bị bệnh vừa khỏi ).
+ Thập toàn tái sinh hoàn( tể)59k/1v ( Đại bổ khí huyết, âm dương hư suy, người bị bệnh mạn tính, bồi bổ cơ thể suy nhược).
+Tam tài thuận sinh hoàn ( tễ) 1 viên: 59k/1v (Cân bằng âm dương, bồi bổ cơ thể, kéo dài tuổi thọ, âm dương hòa hợp, nâng cao chất lượng sống).
- Thảo dược xông nhà sức khỏe, may mắn, tài lộc 79k/1 túi xông. Thuốc được chắt lọc tinh túy YHCT, sản phẩm đa dạng.
@ sách nhà xuất bản y học của tác giả:
-Sách:Xoa bóp cho trẻ & xoa bóp bấm huyệt cho mẹ sau sinh (2024/252 trang) 310k,Xoa bóp bấm huyệt (2020/ 287 trang//250k cuốn ), Yoga khí công (2022/255 trang/280k/ cuốn), cuốn Y Học cổ truyền cơ sở (2024/ 335 trang/330k/ cuốn. Xoa bóp bấm huyệt đầu mặt cổ & nghệ thuật chăm sóc da (2025/253 trang/290k. Cộng 5 cuốn: 1.460k. sách đẹp- giấy tốt- chữ rõ, đặc biệt có dán tem chống hàng giả hàng photo phía sau sách. Có thể đặt mua lẻ hoặc trọn bộ sách. trân trọng. Tác giả trực tiếp in xuất bản và bán!
-Quan tâm!!! Có thể liên hệ .Nhắn Họ tên và địa chỉ số điện thoại ( nhắn riêng) 0913637136 - 0989001518 -giao tận nơi. Vui lòng Chuyển khoản trước: Huỳnh Tấn Vũ.

Lần lượt bế giảng 3 lớp XBBH kết thúc năm 2025.- 8/12. Lễ bế giảng xoa bóp bấm huyệt chăm sóc sức khỏe Khoá 02/2025. Dàn...
08/12/2025

Lần lượt bế giảng 3 lớp XBBH kết thúc năm 2025.
- 8/12. Lễ bế giảng xoa bóp bấm huyệt chăm sóc sức khỏe Khoá 02/2025. Dành cho mọi người yêu thích & có 1 nghề để làm đẹp, phục hồi sức khỏe và chăm sóc bệnh bằng xoa bóp bấm huyệt. Lớp được đào tạo bài bản về lý thuyết, kỹ năng & tay nghề tại Trung tâm đào tạo nhân lực y tế theo nhu cầu xã hội- đại học Y Dược TPHCM .!! Học chiều thứ 2,4,6 học 3 tháng với 120 tiết.
-14/12 bế giảng lớp xoa bóp bấm huyệt NVYT khóa 05 cấp chứng chỉ 158 tiết của ĐHY Dược TPHCM . Học 3 tháng: chiều thứ bảy & cả ngày chủ nhật.
-28/12 bế giảng lớp xoa bóp cho bé & XBBH cho mẹ sau sinh Khoá 06.
Chuẩn bị qua Tết mở đồng loạt 3 lớp xoa bóp bấm huyệt!!!

CHĂM SÓC & ĐIỀU TRỊ NGƯỜI SAU ĐỘT QUỴ NÃO               BẰNG Y HỌC CỔ TRUYỀN.                 BSCK2. Huỳnh Tấn Vũ   Theo...
07/12/2025

CHĂM SÓC & ĐIỀU TRỊ NGƯỜI SAU ĐỘT QUỴ NÃO
BẰNG Y HỌC CỔ TRUYỀN.
BSCK2. Huỳnh Tấn Vũ
Theo y học cổ truyền: Những triệu chứng thường gặp trong TBMMN như đột ngột té ngã, hôn mê, liệt nửa người, liệt mặt, hoặc có khi chỉ là một tình trạng hoa mắt, chóng mặt… Những biểu hiện nói trên được thấy trong:
- Đột ngột té ngã, hôn mê: YHCT xếp vào chứng thiên phong, trúng phong.
- Hoa mắt, chóng mặt: YHCT xếp vào chứng huyễn vậng hay còn gọi là huyễn vựng.
- Liệt nửa người, liệt mặt: YHCT xếp vào chứng nuy.
- Tê tay chân: YHCT xếp vào chứng ma mộc (khí huyết tắc kinh lạc) có thể do ngoại tà hoặc đờm thấp.
Qua việc phân tích cơ chế bệnh sinh các chứng trạng thường gặp của YHCT trong TBMMN, có thể biện luận về nguyên nhân là cơ chế bệnh sinh theo YHCT như sau:
- Do ngoại nhân chủ yếu là phải hóa nhiệt và sinh phong.
- Do thất tình (nội nhân) như giận, lo sợ gây tổn thương 3 tạng tỳ, can, thận.
- Do mắc bệnh lâu ngày (nội thương), làm cơ thể suy yếu, thận âm và thận dương suy (thận âm suy, hư hỏa bốc lên; thận dương suy, chân dương nhiễu loạn ở trên).
- Do yếu tố di truyền hoặc dị dạng bẩm sinh (tiên thiên bất túc).
- Do ăn uống không đúng cách sinh đàm thấp làm tắc trở kinh lạc.
- Do chấn thương gây huyết ứ tắc, kinh lạc không thông.
- Do tập luyện không đúng cách, nhất là về thở: nín hơi đóng thanh quản lâu ngày nhẹ thì ảnh hưởng tâm thần như: nóng bức rút, di chuyển trong người ngày càng nhiều ( tẩu hỏa), tập thơi gian rối loạn cảm xúc, ngôn ngữ, lời nói … ( nhập ma). Nếu tập tổn thương cơ thể ảnh hưởng thể chất gây: yếu / liệt nữa người ( bán thân bất toại).
TBMMN biểu hiện trên lâm sàng phong phú, dưới nhiều dạng vẻ khác nhau từ những triệu chứng không đặc hiệu như hoa mắt, chóng mặt, cảm giác tê ở một phần cơ thể cho đến hôn mê, liệt nửa người. Vì thế, việc mô tả toàn bộ các thể lâm sàng YHCT của TBMMN không thật sự dễ dàng. Thông thường, có thể thấy xuất hiện những thể lâm sàng sau đây
 Trong đợt tai biến mạch máu não
- Trúng lạc (trúng phong ở lạc): Bệnh nhân đột ngột ghi nhận da tê dại kèm các chứng đầu váng, đau, hoa mắt. Triệu chứng này có thể thoáng qua rồi biến mất hoặc kéo dài.
- Trúng kinh (trúng phong ở kinh): Bệnh tại kinh mạch: người bệnh không mê man, tuy nhiên tình trạng ý thức thật sự cũng bị ảnh hưởng, có thể lơ mơ, ly bì, bại liệt nửa người, chân tay tê dại, miệng nhiều đờm dãi, nói năng không trôi chảy, rêu lưỡi trắng dày, mạch huyền hoạt.
- Trúng phong tạng phủ: Bệnh cảnh này có một đặc điểm chung là triệu chứng hôn mê và gồm 2 nhóm bệnh chính (tùy theo tình trạng hôn mê xuất hiện đột ngột hay từ từ):
+ Trúng phủ (trúng phong ở phủ): Bệnh nhân mê man, xuất hiện các chứng bại liệt nửa người, miệng mắt méo lệch, nói năng ú ớ hoặc đàm lấp thanh khiếu, nói không được, đại tiểu tiện không nín được hoặc bí kết.
+ Trúng tạng (trúng phong ở tạng): bệnh nhân đột nhiên ngã ra mê man bất tỉnh. Trong nhóm bệnh này lại chia ra làm 2 nhóm nhỏ.
o Chứng bế:
 Dương bế: Bệnh nhân đột nhiên ngã ra mê man bất tỉnh, hàm răng cắn chặt, tay nắm chặt, mặt đỏ, thở ồn ào, tiếng thở khò khè, lưỡi rút lại, đại tiểu tiện đều bế, rêu lưỡi vàng nhầy, mạch huyền hoạt sác.
 Âm bế: Bệnh nhân đột nhiên ngã ra mê man bất tỉnh, răng cắn chặt, tay nắm chặt, mặt trắng nhợt, môi bầm, tiếng thở khò khè, chân tay lạnh, rêu lưỡi trắng nhầy, mạch trầm hoạt.
o Chứng thoát: Bệnh nhân đột nhiên ngã ra mê man bất tỉnh, hôn mê rất sâu, mắt nhắm, mồm há, hô hấp yếu, chân tay lạnh, 2 bàn tay xoè ra, đái són, vã mồ hôi đọng từng giọt hoặc nhờn như dầu, lưỡi nhạt, rêu lưỡi trắng trơn, mạch vi tuyệt.
Điều trị cấp cứu và chăm sóc tích cực bệnh nhân bằng phương pháp và phương tiện trị liệu YHHĐ phù hợp với tình trạng bệnh nhân và nguyên nhân gây bệnh. Trong giai đoạn này, vai trò của những phương pháp điều trị YHCT ít quan trọng. Phương pháp dùng thuốc và không dùng thuốc trong giai đoạn này có thể được chỉ định phối hợp với YHHĐ trong trường hợp trúng phong kinh lạc là bệnh nhân không hôn mê. Theo YHCT, trong giai đoạn cấp tính này biện pháp điều trị quan trọng là “điều trị ngọn (triệu chứng) mà không chú ý đến gốc bệnh (nguyên nhân)”.
Bất kỳ nguyên nhân nào cũng đều đưa đến tình trạng “phong động”, nên cách điều trị chủ yếu chỉ là bình Can tức phong. Những bài thuốc được sử dụng:
- Bài Thiên ma câu đằng ẩm: Thiên ma 8g, Câu đằng 12g, Hoàng cầm 10g, Chi tử 12g, Tang ký sinh 12g, Hà thủ ô 10g, Đỗ trọng 10g, Phục linh 12g, Ích mẫu 12g, Thạch quyết minh 20g, Ngưu tất 12g .
- Bài Linh dương câu đằng thang: Linh dương giác 4g, Trúc nhự 20g, Câu đằng 12g, Sinh địa 20g, Bạch thược 12g, Tang diệp 8g, Phục thần 2g, Cúc hoa 12g, Bối mẫu 8g, Cam thảo 4g.
 Giai đoạn sau TBMMN: Ở giai đoạn sau TBMMN do bị bệnh và ảnh hưởng nhiều đến Can và Thận nên triệu chứng YHCT trong giai đoạn này chủ yếu gồm Cân nuy, Cốt nuy, Kiện vong. Những bệnh cảnh lâm sàng YHCT thường xuất hiện là:
 Dùng thuốc:
- Can Thận âm hư (chiếm đa số các trường hợp): Sắc mặt xạm, mặt má thường ửng hồng, răng khô, móng khô, gân gồng cứng co rút lại, đau nơi eo lưng, tiểu đêm, táo bón, ngủ kém, than nóng trong người, người dễ bực dọc, bứt rứt, lưỡi đỏ bệu, mạch trầm sác vô lực. Pháp trị: tư âm ghìm dương, tư bổ can thận. Những bài thuốc:
 Bài thuốc hạ áp (xuất xứ 30 công thức thuốc): Thục địa 20g, Ngưu tất 10g, Rễ nhàu 20g, Trạch tả 10g, Mã đề 20g, Táo nhân 10g, Hoa hoè 10g.
 Bài thuốc Lục vị địa hoàng hoàn gia quy thược: Thục địa 32g, Hoài sơn 16g, Sơn thù 8g, Đơn bì 12g, Phục linh 12g, Trạch tả 6g, Đương quy 12g, Bạch thược 8g. Bài này thường được sử dụng khi tăng huyết áp có kèm triệu chứng đau ngực, đau vùng tim.
 Bài thuốc bổ Can Thận: Hà thủ ô 10g, Thục địa 15g, Hoài sơn 15g, Đương quy 12g, Trạch tả 12g, Sài hồ 10g, Thảo quyết minh 10g.
- Thận âm dương lưỡng hư: Sắc mặt tái xanh hoặc đen xạm, răng khô, móng khô, gân gồng cứng co rút lại, đau nơi eo lưng, tiểu đêm, ngủ kém, không khát, ít uống nước, sợ lạnh, lưỡi nhợt bệu, mạch trầm nhược. Pháp trị: ôn bổ Thận dương. Những bài thuốc:
 Bài thuốc Thận khí hoàn: Bạch phục linh 120g, Thục địa 320g, Sơn thù 160g, Đơn bì 120g, Quế chi 40g, Trạch tả 120g, Phụ tử 40g, Sơn dược 160g. Tán bột, ngày uống 8-12g.
 Bài Hữu quy ẩm: Cam thảo 4g, Đỗ trọng 12g, Hoài sơn 16g, Kỷ tử 8g, Nhân sâm 8g, Nhục quế 4g, Phụ tử 2g, Thù du 8g, Thục địa 32g.
- Đờm thấp (bệnh nhân béo bệu): Người béo, thừa cân, lưỡi dày, to. Bệnh nhân thường ít than phiền về triệu chứng đau đầu nếu có, thường là cảm giác nặng đầu nhưng dễ than phiền về tê nặng các chi. Mạch hoạt. Pháp trị: Trừ đờm, thông lạc.
+ Bài thuốc sử dụng: dùng bài thuốc Nhị trần thang gia vị: Bạch truật 40g, Cam thảo 4g, Phục linh 12g, Bán hạ 12g, Nhân sâm 4g, Trần bì 4g.
 Giai đoạn sau TBMMN có thể để lại di chứng của TBMMN.
Trong giai đoạn này, đông y gọi là “ Thiên khô”, việc điều trị và chăm sóc bệnh nhân bao gồm 2 mục tiêu: Phục hồi di chứng vận động và tâm thần
+ Điều trị bằng thuốc: Pháp trị: bổ khí, hoạt huyết, khử ứ, thông lạc. Bài thuốc sử dụng: dùng bài Bổ dương hoàn ngũ thang (gồm: Hoàng kỳ 40g, Hồng hoa 7g, Đào nhân 6g, Xuyên khung 7g, Địa long 7g, Xích thược 6g, Đương quy 8g).
+ Không dúng thuốc:
 Châm cứu: Châm cứu ngay sau khi có chỉ định và tích cực trong điều trị
o Phương pháp đầu châm vùng vận động (nếu chỉ có liệt) và vùng cảm giác (nếu có kèm rối loạn cảm giác) bên đối diện, châm nghiêng kim (300), vê kim liên tục trong 1 - 2 phút, lưu kim 5 - 10 phút. Thông thường châm 1 lần/ngày, châm 10 ngày liên tục thành 1 liệu trình, nghỉ 3 - 5 ngày có thể bắt đầu liệu trình thứ 2. Phương pháp này thườngđược sử dụng sớm trong khoảng thời gian 6 tháng kể từ khi bị tai biến.
o Phương pháp thể châm: Thường sử dụng các huyệt trên kinh dương minh của tay (Đại trường) và chân (Vị) bên liệt vơi các huyệt: Kiên ngung, Tý nhu, Khúc trì, Thủ tam lý, Dương khê, Hợp cốc, Lương khâu, Phong long, Giải khê,... phối hợp với các huyệt kinh điển phục hồi liệt như Dương lăng tuyền, thay đổi huyệt mỗi ngày. Hoặc chọn huyệt theo phương pháp châm cứu cải tiến. Đối với bệnh nhân rối loạn chức năng nuốt, nói đớ sau đột quỵ, châm thêm các huyệt: Ngoại kim tân, Ngoại ngọc dịch, Thiên đột, Liêm tuyền,...
Cần chú ý sử dụng dòng điện tốt nhất là dòng điện một chiều đều và thông điện thích hợp. Thời gian của mỗi lần điều trị cần dựa vào sự tiếp thu kích thích của từng người bệnh, trong từng bệnh, từng lúc, đối với từng loại dòng điện mà quyết định. Nói chung cần theo dõi, đánh giá tình trạng bệnh nhân sau khi châm. Trung bình ngày châm một lần hay cách ngày châm một lần: từ 10 đến 15 lần điện châm là một liệu trình, nghỉ độ 10 đến 15 ngày rồi tiếp tục tùy theo yêu cầu chữa bệnh.
 Xoa bóp bấm huyệt: 60 phút ngày 1-2 lần. Xoa bóp bấm huyệt ngay sau khi có chỉ định và tích cực trong điều trị để cải thiện di chứng.
o Xoa bóp bấm huyệt vùng đầu: 10p. xoa bóp: Day, Chải, Gỏ, Vỗ, Bóp, Rung + Bấm huyệt: Bách hội, Tứ thần thông, Suất cốc, Đầu duy, an miên,…
o Xoa bóp bấm huyệt mặt: ½ mặt bên liệt. chủ yếu Xoa bóp tác động nhóm cơ chi phối cảm xúc nửa mặt bên liệt: Cơ bụng trán, Cơ cau mày, Cơ thái dương, Cơ vòng mắt, Cơ nâng môi trên, Cơ gò má, Cơ vòng miêng, Cơ cắn, Cơ bám da cổ, Cơ nâng hạ mũi. ( nếu liêt VII ngoại bên) và ¼ mặt dưới bên liệt: Cơ nâng môi trên, Cơ gò má, Cơ vòng miêng, Cơ cắn, Cơ bám da cổ, Cơ nâng hạ mũi ( nếu liệt VII TW): 10p + Bâm huyệt: Dương bạch, Ấn đường, Ngư yêu, Tinh minh, Thái dương, Nghinh hương, Quyền liêu, Giáp xa, Hạ quan, Địa thương, Ế phong…
o Xoa bóp bấm huyệt cổ gáy bên liệt: 10p. Xoa bóp vùng cổ gáy + Vận động cột sống cổ (quat, nghiên, ngữa, tổng hợp ) + Bấm huyệt: A thị huyệt, Đại chuỳ, Kiên tỉnh, Phong trì…
o Xoa bóp bấm huyệt lưng bên liệt.10p: Xoa bóp vùng lưng + Vận động khớp lưng: Vặn cột sống, Ưỡn cột sống..+ Bấm huyệt: A thị huyệt, Đại trữ, Tâm du, Cách du, Can du, Thận du, Mệnh môn, Đại trường du
o Xoa bóp bấm huyệt và vận đông khớp tay bên liệt theo hướng “Tay duỗi”: 10p: Xoa bóp vùng chi trên + Vận động khớp Vai, Khủy, Cổ, Bàn, Ngón tay + Bấm huyệt vùng chi trên: Kiên ngung, Tý nhu, Khúc trì, Thủ tam lý, Dương khê, Hợp cốc.
o Xoa bóp bấm huyệt và vận đông khớp chân bên liệt theo hướng “ Chân co”: 10p. Xoa bóp chi dưới + Vận động khớp Háng, Gối, Cổ chân, Bàn, Ngón chân + Bấm huyệt chi dưới: Phong thị, Huyết hải, Dương lăng tuyền, Túc tam lý, Phong long, Giải khê…
 Tập luyện: yoga- khí công: Yoga khí công tập theo từng bước cải thiện.
o Luyện tâm thần:
Thư giãn: Nằm ngữa. gồm 3 bước:
• Bước 1: Ức chế ngũ quan (che mắt, thoáng mát, yên tĩnh..)
• Bước 2: Tự nhủ cho cơ mềm ra, giãn ra; Từng nhóm cơ, từ trên mặt xuống dần đến ngón chân, một cách từ từ chắc chắn. Toàn thân nặng xuống ấm lên.
• Bước 3: Tập trung ý chí theo dõi hơi thở ra vào qua mũi 10 lần; thở thật êm, nhẹ, đều, nông.
Thiền: quán tưởng hạnh phúc, bệnh tật sẽ qua, cuộc sống trở lại bình thường
Thái độ tâm thần trong cuộc sống: tinh thần tích cực, làm chủ cảm xúc, lạc quan yêu đời, bệnh cảnh cải thiện
o Luyện thể chất: ( Vận động)
Thở 4 thời có kê mông và giơ chân:
 Chuẩn bị: Nằm ngửa thẳng, kê một gối ở mông, cao khoảng 5-8 cm vừa sức, tay trái để trên bụng, tay phải để trên ngực; Nhắm mắt, chú ý vào việc tập thở.
 Động tác:
• Thời 1: Hít vào tối đa, ngực nở bụng phình và căng (4”- 6”); (Hít ngực bụng nở).
• Thời 2: Giữ hơi, mở thanh quản bằng cách cố gắng hít thêm, lồng ngực vẫn giữ nguyên ở tình trạng nở tối đa, bụng vẫn phình căng cứng, đồng thời giơ một chân giao động qua lại 4 (hoặc 6) cái, rồi hạ chân. (4”-6”); (Giữ hơi hít thêm).
• Thời 3: Thở ra thoải mái tự nhiên, để lồng ngực và bụng tự nhiên hạ xuống, không kềm không thúc. (4”-6”) (Thở không kềm thúc).
• Thời 4: Thư giãn chân tay mềm giãn. (4”-6”); (Nghỉ nặng ấm thân) chuẩn bị trở lại thời một, hít vào.
Mỗi lần tập mười hơi thở. Một ngày tập một đến hai lần. Để tập 4 thời bằng nhau người tập nhẩm công thức thực hành 4 nhịp. (Hít ngực bụng nở, giữ hơi hít thêm, thở không kìm thúc, nghỉ nặng ấm thân …). Để theo dõi đủ 10-20 hơi thở: dùng cách duỗi (và/hoặc co) lần lượt mười ngón tay. Chú ý hít vào thở ra bằng mũi.
Ưỡn cổ: Hai tay để xuôi theo thân. Lấy điểm tựa ở xương chẩm và mông. Ưỡn cổ và lưng trên hổng giường đồng thời hít vô tối đa; giữ hơi, dao động lưng trên qua lại từ 2-6 cái; thở ra triệt để có ép bụng. Nếu không đủ sức thì không làm dao động. Làm như vậy từ 5-10 hơi thở, không hạ vai lưng xuống giường. Chừng nào xong động tác mới hạ lưng xuống nghỉ.
Ưỡn mông: Lấy điểm tựa ở lưng trên và 2 gót chân. Ưỡn mông làm cho thắt lưng, mông và chân đều hổng giường, đồng thời hít vô tối đa; giữ hơi và dao động mông qua lại, mỗi lần dao động cố gắng hít vô thêm, dao động 2-6 cái; thở ra và ép bụng thật mạnh, đuổi hơi ra triệt để. Thở và dao động; Tập như thế từ 5-10 hơi thở.
Xem xa xem gần: Ngồi hoa sen. Ngón tay của hai bàn tay đan vào nhau và đưa lên quá đầu sao cho lòng bàn tay hướng lên, đầu bật ra sau, mắt nhìn lên bàn tay ở 1 điểm cố định của một ngón tay để thấy rõ từng nét. Hít vô tối đa, giữ hơi và dao động tay, đầu thân qua lại từ 2-6 cái, mắt vẫn nhìn theo điểm cố định, thở ra triệt để, đồng thời đưa tay lại gần mặt độ 5cm mà vẫn cố nhìn rõ điểm cố định. Làm 3-5 hơi thở..
Bắt chéo tay sau lưng: Ngồi hoa sen. Một tay đưa ra sau lưng từ dưới lên, tay kia từ trên xuống và cố gắng bắt chéo nhau ở giữa lưng. Hít vô tối đa, giữ hơi và dao động qua lại từ 2-6 cái, thở ra triệt để. Làm động tác trên từ 1-3 hơi thở, xong đổi tay bắt chéo bên kia cũng làm từ 1-3 hơi thở.
Xuống tấn lắc thân: Xuống tấn là hai chân để song song với nhau hoặc bàn chân nghiên một chút như hình chữ nhân và cách xa nhau bằng khoảng cách hai vai hay lớn hơn một chút, gối hạ xuống nhiều hay ít tùy sức của mình (yếu thì hạ ít, mạnh thì hạ nhiều), hai tay đan chéo vào nhau và lật bàn tay ra ngoài, đưa tay lên trời, đầu bật ra sau và ngó theo tay.
Hít vô tối đa; giữ hơi và dao động, thân nghiên qua bên này thì tay nghiên qua bên kia để giữ quân bình, nghiên như vậy 2-6 cái; để tay xuống thở ra triệt để. Làm động tác trên 3-5 hơi thở.
Cầm tạ. Hai chân đứng chữ nhân. Nắm chặt hai quả tạ trong hai tay, nặng vừa sức, khoảng 1-1,5kg mỗi quả ( hoặc quả tạ tưởng tượng). Đưa hai tay thẳng lên trên, hít vô tối đa; giữ hơi, dao động trước sau từ 2-6 cái; hạ hai tay xuống và đưa ra phía sau, càng ra sau càng cao càng tốt, đồng thởi thở ra triệt để, có ép bụng thật mạnh, càng cố gắng đưa tay ra phía sau thì ép bụng càng mạnh, giữ tư thế ép bụng triệt để 2-3 giây. Làm động tác như vậy 3-5 hơi thở.
 Ăn uống ngủ nghỉ hợp lý:
Với “ khí huyết lưu thông, tinh thần thoải mái đó là sức khỏe” Y học cổ truyền chú ý sức khỏe Tâm thể ( tâm hồn và thể xác), phải chú ý tinh thần lạc quan, tích cực, làm chủ cảm xúc bên cạnh đó chăm lo tập luyện cải thiện và phục hồi sau tai biến vì xu hướng liệt nữa người sau đột quỵ là tay co, chân duỗi nên quá trình tập luyện dùng thuốc và không dùng thuốc ngoài khí huyết lưu thông còn chú ý tập tay duỗi, chân co, dinh dưởng hợp lý để hướng người bệnh về gần bình thường hay bình thường, nâng cao chất lượng cuộc sông.

CHĂM SÓC NGƯỜI SAU ĐỘT QUỴ NÃO             Bằng Vật Lý Trị Liệu- Phục Hồi Chức Năng                        BSCK2. Huỳnh ...
07/12/2025

CHĂM SÓC NGƯỜI SAU ĐỘT QUỴ NÃO
Bằng Vật Lý Trị Liệu- Phục Hồi Chức Năng
BSCK2. Huỳnh Tấn Vũ
Đột quỵ hay tai biến mạch máu não (TBMMN) là một bệnh lý tim mạch và được Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) định nghĩa là một‎ hội chứng lâm sàng bao gồm "các dấu hiệu rối loạn chức năng của não (khu trú hoặc toàn ‎thể) phát triển nhanh, kéo dài từ 24 giờ trở lên hoặc dẫn đến tử vong, mà không xác định‎ nguyên nhân nào khác ngoài căn nguyên mạch máu". ‎Đột quỵ là nguyên nhân thường gặp nhất gây ra khuyết tật trầm trọng ở người lớn trên thế‎ giới. Trên toàn cầu, chỉ có 15-30% người bệnh sống sót sau đột quỵ độc lập về chức năng‎và khoảng 40-50% độc lập một phần.‎Sự hồi phục sau đột quỵ phụ thuộc vào can thiệp y học, hồi phục tự nhiên, Phục hồi chức năng và các‎ dịch vụ xã hội. Bởi vì quá trình phục hồi của mỗi người bệnh là khác nhau, tất cả người‎ bệnh cần được chăm sóc phục hồi phức tạp và theo từng trường hợp cụ thể.
Đột quỵ không chỉ là một tình trạng cấp tính mà còn gây ra các khiếm khuyết, giới hạn ‎hoạt động và hạn chế sự tham gia kéo dài. Để xử lý tốt nhất nhiều loại rối loạn về thể chất, nhận thức và cảm xúc, các người bệnh đột quỵ cần chăm sóc phục hồi chức năng kết hợp liên tục bắt đầu tại bệnh viện ở giai đoạn cấp và chủ động theo dõi và hỗ trợ người bệnh khi họ chuyển qua các giai đoạn Phục hồi chức năng bán cấp và mạn tính.
Quá trình hồi phục bao gồm bốn giai đoạn, ở các giai đoạn sẽ có các vấn đề khác nhau về sức khỏe và mục tiêu chăm sóc khác nhau cho người bệnh.
- Giai đoạn (tối) cấp (0-24 giờ)
‎- Giai đoạn phục hồi sớm (24 giờ - 3 tháng)‎
- Giai đoạn phục hồi muộn (3 - 6 tháng)‎
- Phục hồi chức năng trong giai đoạn mạn tính (> 6 tháng)
Đột quỵ gây ra nhiều thay đổi trên sức khỏe của người bệnh. Tuy nhiên mức độ và phạm vi ảnh hưởng của đột quỵ là không giống nhau ở mỗi trường hợp tùy thuộc vào mức độ tổn thương, khả năng hồi phục, giai đoạn bệnh, điều trị y tế được thụ hưởng…
I. Chiến lược vật lý trị liệu – phục hồi chức năng sau đột quỵ
 Cần thực hiện tuần tự những bước sau:
- Đánh giá tình trạng chung của bệnh nhân, bao gồm:
 Đánh giá tổng quát về bệnh nhân: trẻ hay lớn tuổi? Mức độ hợp tác? Tình trạng tinh thần: tích cực hay tiêu cực?
 Tình trạng sức khỏe? Tình trạng bệnh tật đi kèm? Mức độ?
 Bệnh nhân có thể làm được gì khi ngồi, khi đứng? Thăng bằng?
 Bệnh nhân không làm được gì?
 Xác định rõ tình trạng cơ lực: cần lượng giá mức độ vận động của từng bộ phận thật cụ thể : tay, cánh tay, cẳng tay, cổ tay, bàn tay, ngón tay…, với từng loại động tác khác nhau và ở các tư thế nằm, ngồi, đứng khác nhau.
 Lượng giá khả năng thăng bằng của bệnh nhân? ở tư thế ngồi? Tư thế đứng? Khi đi?
 Lượng giá về cảm giác của bệnh nhân.
- Xác định cụ thể chiến lược tập luyện cho người bệnh.
Xác định mục đích đầu tiên của phục hồi chức năng trên người bệnh là gì?
 Những chức năng nào cần phải tập cho bệnh nhân trong giai đoạn đầu tiên? Giai đoạn kế tiếp?
- Phương pháp thực hiện:
 Giai đoạn đầu rất quan trọng: Phục hồi vận động đúng cách trong giai đoạn này giúp hạn chế mức độ trầm trọng của những rối loạn như: mất cơ chế phản xạ chỉnh thể bình thường của bên liệt, khuynh hướng tăng co cứng bên liệt, rối loạn cảm giác bên liệt làm ức chế vận động và góp phần rất lớn vào hiệu quả điều trị về sau. Thầy thuốc cần hướng dẫn chi tiết để huy động người nhà bệnh nhân tham gia tích cực vào quá trình phục hội sớm này.
o Bố trí giường bệnh: không đặt bệnh nhân nằm với bên liệt sát tường, tất cả vật dụng trong phòng đều ở phía bên liệt, người chăm sóc và tập luyện cho bệnh nhân chỉ đến phía bên liệt.
o Tư thế bệnh nhân khi nằm trên giường:
 Nằm nghiêng về bên liệt: Đầu bệnh nhân có gối đỡ chắc chắn, cổ hơi gập, không để đầu bị đẩy ra sau; thân mình ở tư thế nửa ngửa, có gối đỡ phía lưng.
Tay liệt: Khớp vai, xương bả vai được kéo ra trước tạo với thân một góc 900, khuỷu duỗi, cẳng tay xoay ngửa, cổ tay gấp về phía sau, ngón tay duỗi dạng; Tay lành ở vị trí thoải mái trên mình, hoặc để trên gối sau lưng.
Chân liệt: Khớp háng duỗi, gối hơ gấp; chân lành: khớp háng và gối gấp (tựa trên một gối đỡ ngang với thân).
 Nằm nghiêng về bên lành: Đầu bệnh nhân để như trên. Thân mình nằm vuông góc với mặt giường, có gối đỡ sau lưng.
Tay liệt: có gối đỡ ở mức ngang với thân, ở tư thế duỗi, tạo với thân một góc khoảng 1000.
Tay lành: ở tư thế mà bệnh nhân thấy thoải mái.
Chân liệt: có gối đỡ ở mức ngang với thân, khớp háng và khớp gối gấp.
Chân lành: khớp háng duỗi, khớp gối hơi gấp.
 Nằm ngửa: Đầu bệnh nhân có gối đỡ chắc chắn, mặt quay sang bên liệt, không làm gấp các đốt sống cổ và ngực.
Vai và tay bên liệt: Có gối đỡ bên dưới xương bả vai để đưa xương bả vai và khớp vai ra phía trước; dùng gối đỡ tay liệt ở tư thế khuỷu, cổ tay duỗi, các ngón tay dạng. Tay liệt có thể để xuôi theo thân hoặc duỗi thẳng lên qua đầu.
Chân liệt: Có gối kê dưới hông và đùi để đưa hông ra trước, giữ chân ở tư thế khớp háng và gối gấp, dùng gối kê để tránh chân khỏi bị đổ ra ngoài.
Chân và tay lành Ở tư thế mà bệnh nhân cảm thấy thoải mái.
 Thay đổi tư thế cho bệnh nhân: đây là điểm rất quan trọng. Bệnh nhân phải được thay đổi tư thế mỗi 2 - 3 giờ.
o Những bài tập cần thực hiện ngay trong giai đoạn đầu.
 Nếu bệnh nhân chưa chủ động vận động được tay chân, bệnh nhân cần được tập thụ động tất cả các khớp bên liệt. Tập nhẹ nhàng, đều đặn để tránh làm tổn thương khớp của bệnh nhân.
 Khi bắt đầu có thể tham gia vào tập luyện:
Tập lăn nghiêng sang bên liệt: Có thể có trợ giúp bằng cách nâng chân và tay lên, nâng đầu; người bệnh đưa chân tay lành ra phía trước sang bên liệt rồi lăn người theo.
Tập lăn nghiêng sang bên lành: bệnh nhân nằm ngửa; thầy thuốc giúp bệnh nhân nâng tay và chân liệt lên, đưa ra trước sang bên lành.
Tập vận động vai tay tay lành đỡ tay liệt: Nằm ngửa, cài các ngón tay 2 bên vào nhau, ngón cái bên liệt ở ngoài ngón cái bên lành. Duỗi thẳng 2 tay ra trước, đưa 2 tay lên phía đầu và xuống phía chân, càng xa càng tốt.
Tập dồn trọng lượng lên chân liệt: Nằm ngửa, 2 gối gập; người điều trị giúp đỡ gối bên liệt. Bệnh nhân nâng chân lành lên khỏi mặt giường để dồn trọng lượng lên chân liệt.
Làm cầu: Nằm ngửa, 2 gối gập, người điều trị giúp giữ chân liệt cho khỏi đổ. Bệnh nhân cố gắng tự nâng mông lên khỏi mặt giường, giữ 2 bên hông ngang nhau rồi nâng chân lành lên khỏi mặt giường để toàn bộ trọng lượng dồn lên chân liệt.
 Giai đoạn sau: ở giai đoạn này, việc phục hồi tập trung vào 2 mục tiêu tập luyện giúp vận động vùng cơ bị liệt, đồng thời tập luyện chống tình trạng co cứng cơ. Giai đoạn này” Tay co, chân duỗi” tập tích cực để “ Tay duỗi chân co”
o Việc tập luyện được thực hiện ở những tư thế khác nhau: Tập vận động ở tư thế nằm. Tập vận động ở tư thế ngồi. Tập vận động ở tư thế đứng. Tập vận động trên đệm. Tập lăn.
o Tập chuyển tư thế từ nằm sang quỳ chống tay. Tập vận động ở tư thế quỳ. Tập đứng lên.
o Bệnh nhân cần chú ý trong khi tập là luôn phối hợp chặt chẽ với thở sâu.
o Phòng ngừa co rút khớp vai: nằm ngửa, cài các ngón tay 2 bên vào nhau, ngón cái bên liệt ở ngoài ngón cái bên lành. Duỗi thẳng 2 tay ra trước, đưa 2 tay lên quá đầu cho đến khi 2 tay chạm vào mặt giường hoặc sàn nhà rồi đưa tay xuống phía chân.
o Phòng ngừa khuỷu tay, cổ tay và ngón tay bị co rút: bệnh nhân đứng cạnh bàn, cài các ngón tay 2 bên vào nhau. Xoay ngửa lòng bàn tay và áp lòng bàn tay xuống mặt bàn. Duỗi thẳng 2 tay, ngả người về phía trước để dồn trọng lượng lên 2 tay cho tới khi khớp cổ tay duỗi tối đa.
o Bệnh nhân ngồi, dùng tay lành làm duỗi các ngón tay bên liệt và làm duỗi cổ tay. Sau đó đặt xuống mặt giường cạnh thân, dùng tay lành giữ khớp khuỷu bên liệt duỗi thẳng và nghiêng người sang bên liệt để dồn trọng lượng lên tay liệt. Cài các ngón tay 2 bên vào nhau, đưa 2 bàn tay lên sát cằm, dùng lực của bàn tay làm duỗi tối đa cổ tay bên liệt. Có thể tựa vào má và cằm và giữ yên trong một thời gian lâu.
o Phòng ngừa co cứng chân ở tư thế duỗi: Nằm ngửa, cài các ngón tay 2 bên vào nhau, co 2 gối lại và vòng 2 tay qua 2 gối, kéo 2 gối về phía ngực và nâng đầu lên; sau đó, trở về vị trí ban đầu.
o Phòng ngừa co rút gân gót và gấp ngón chân: dùng một cuộn băng đặt dướingón chân bên liệt, sau đó đứng lên, bước chân lành ra phía trước, phía sau. Có thể vịn vào một chỗ tựa nếu đứng chưa vững.
II. Đánh giá cụ thể và phục hồi chưc năng chi tiết sau đột quỵ:
Các vấn đề thường gặp đối với nhóm bệnh nhân đột quỵ nói chung. Đối với mỗi người bệnh cụ thể cần được thăm khám và đánh giá chi tiết. Các vấn đề người bệnh đột quỵ có thể gặp phải‎:
A. Đánh giá và phục hồi chi tiết về Tâm thần:
1. Khó khăn trong giao tiếp: Mất ngôn ngữ ảnh hưởng đến khả năng nói và/hoặc viết và/hoặc hiểu ngôn ngữ nói và viết trong khi các khả năng nhận thức khác tương đối còn nguyên vẹn. Mất ngôn ngữ là một tình trạng kéo dài làm thay đổi cuộc sống, ảnh hưởng đến cả cá nhân và những người khác xung quanh về kiểu giao tiếp, lối sống, bản sắc …. Mất ngôn ngữ có thể cùng tồn tại với các khiếm khuyết nhận thức khác. ‎Loạn vận ngôn có thể ảnh hưởng lớn đến giao tiếp và chất lượng cuộc sống. Loạn vận ngôn là một khiếm khuyết về lời nói do vận động với mức độ nặng nhẹ khác nhau ảnh hưởng đến sự rõ ràng của lời nói, chất lượng /âm lượng giọng nói và khả năng hiểu được nói chung. ‎ Khắc phục: Can thiệp bằng ngôn ngữ trị liệu. Hướng dẫn những người xung quanh người bệnh đột quỵ phát triển các kỹ năng giao tiếp hỗ trợ để gia tăng tối đa khả năng giao tiếp của bệnh nhân, sử dụng các thiết bị trợ giúp như máy trợ thính, bảng giao tiếp, …., sử dụng nhiều cách thức giao tiếp khác nhau, như cử chỉ, vẻ mặt, nói, đọc, viết và vẽ.
2. Thay đổi về nhận thức: Người bệnh đột quỵ có thể bị suy giảm nhận thức tổng quát trầm trọng. Những thay đổi về nhận thức sau đột quỵ có thể là tổng quát ví dụ quá trình xử lý thông tin bị chậm hoặc có thể ở các lĩnh vực cụ thể ví dụ như định hướng, chú ý, trí nhớ, thị giác không gian, suy luận, hiểu biết kém về các khó khăn của họ, ngôn ngữ, lập kế hoạch và tổ chức. Cần lưu ý là khiếm khuyết nhận thức này có trước hay sau khi bị đột quỵ‎. Khắc phục: Phục hồi chức năng về nhận thức giúp người bệnh hiểu được các khiếm khuyết của họ và phục hồi lại chức năng hoặc để bù đắp cho các chức năng bị mất để giúp thích nghi và tạo thuận lợi cho việc tự lập. Tất cả người bệnh nên được sàng lọc về các khiếm khuyết nhận thức sử dụng các công cụ sàng lọc đã được chứng minh là có giá trị và đáng tin cậy như MOCA/VOCA
3. Trầm cảm: Trầm cảm là hết sức phổ biến ảnh hưởng đến 1/3 người bệnh sống sót sau đột quỵ. Trầm cảm có ‎liên quan đến chậm cải thiện chức năng và thời gian nằm viện kéo dài. Trầm cảm thường gặp ở giai đoạn cấp tính, trung hạn và dài hạn của đột quỵ, có thể thường tự khỏi trong vòng vài tháng sau khi xuất hiện hoặc kéo dài ở những người bệnh khác dù được can thiệp. Khắc phục: Sàng lọc về rối loạn tâm trạng, trầm cảm và suy giảm nhận thức. Hướng dẫn cho người bệnh và người chăm sóc rằng các vấn đề về tâm trạng thường xảy ra sau đột quỵ, nếu các triệu chứng không thuyên giảm và cản trở các hoạt động chức năng thì cần phải thông báo cho nhân viên y tế. Phòng ngừa: hướng dẫn những người bệnh đột quỵ và gia đình về điều chỉnh cảm xúc với đột quỵ, nhận ra rằng các nhu cầu tâm lý có thể thay đổi theo thời gian và ở các môi trường khác nhau. Có thể sử dụng thuốc chống trầm, can thiệp tâm lý.
4. Thay đổi hành vi: Các thay đổi về hành vi và nhân cách ví dụ như dễ cáu giận, hiếu chiến, cố chấp, mất sức sống/lãnh đạm, dễ thay đổi cảm xúc, thiếu kiềm chế, bốc đồng và mất hiểu biết về bệnh tật thường xảy ra sau đột quỵ và có thể gây trở ngại đáng kể đối với sự tham gia và tái hòa nhập cộng đồng sẽ gây khó khăn cho gia đình, bạn bè và người chăm sóc, góp phần đáng kể vào gánh nặng và căng thẳng của người chăm sóc.‎ Khắc phục: lượng giá và giải quyết thích hợp các tác động của những thay đổi hành vi. Người bệnh đột quỵ và gia đình nên được tiếp cận với các can thiệp về các thay đổi về tính cách và hành vi được điều chỉnh riêng, ví dụ như tham gia vào liệu pháp xử lý giận dữ và đào tạo và hỗ trợ phục hồi chức năng trong xử lý hành vi phức tạp và khó khăn.
B. Đánh giá và phục hồi chi tiết về Thể chất:
5. Khó nuốt: Khó nuốt làm tăng nguy cơ các biến chứng như viêm phổi do hít phải (viêm phổi hít), mất nước và suy dinh dưỡng. Các biến chứng thường kết hợp với tình trạng chảy nước dãi quá mức, cũng thường gặp trong đột quỵ. Khó nuốt cũng dẫn đến các hậu quả xấu như tử vong, nhiễm trùng hô hấp và khuyết tật.‎ Khắc phục: Người bệnh đột quỵ giai đoạn cấp cần được nhân viên y tế sàng lọc về rối loạn nuốt trước khi cho ăn, uống hoặc dùng thuốc bằng đường miệng. Sau đó sẽ có hướng xử trí phù hợp.
6. Thay đổi trong trương lực cơ:
 Giảm trương lực cơ: Giai đoạn đầu của đột quỵ, trương lực cơ giảm ở một bên cơ thể, có thể ở chi trên, chi dưới, thân mình và đầu/cổ. Hậu quả của giảm trương lực cơ có thể là nguy cơ chấn thương cao và mất vận động chức năng.‎ Khắc phục: Cẩn thận với đặt tư thế và cầm nắm di chuyển để phòng ngừa chấn thương và tạo ‎thuận cho hồi phục vận động. Khuyến khích chịu trọng lượng, tránh nằm giường lâu và khuyến khích tư thế ngồi, đứng thẳng tùy thuộc vào sự ổn định nội khoa, khuyến khích các vận động chủ động và chủ động có trợ giúp
 Tăng trương lực cơ (Co cứng): Thường gặp ở giai đoạn mạn của bệnh; co cứng được định nghĩa là tăng hoạt tính của phản xạ kéo căng ở các cơ xương không tự ý, liên tục hoặc không liên tục. Co cứng có liên quan đến tổn thương thần kinh trung ương. Có những quan điểm trái ngược nhau về việc liệu co cứng trong đột quỵ là khiếm khuyết nguyên phát hay là thứ phát. Co cứng là một trong những nguyên nhân cơ bản của giảm khả năng di chuyển, co rút mô mềm, đau đặc biệt là ở vai và tình trạng tăng hoạt cơ quá mức ‎ Khắc phục: Các phương pháp trị liệu Phục hồi chức năng có hiệu quả trong việc khôi phục chức năng và khả năng di chuyển. Điều quan trọng là phòng ngừa co cứng bằng cách khuyến khích vận động và chức năng bình thường, giảm đau và khó chịu, giảm bớt sợ hãi và cẩn thận khi cầm nắm di chuyển người bệnh đột quỵ. Cần phải loại bỏ những yếu tố kích thích, làm nặng thêm co cứng ví dụ: bàng quang bị căng, loét ép. Kiểm soát đau và xem lại tư thế và chỗ ngồi. Có thể sử dụng các loại bột, nẹp, kéo dãn thụ động, tiêm phong bế thần kinh; thuốc uống;
7. Rối loạn cảm giác‎: Các thay đổi về cảm giác có thể xảy ra ở 85% người bệnh đột quỵ. Khiếm khuyết cảm giác có thể dẫn đến giảm vận động chủ động và làm tăng nguy cơ tổn thương do chấn thương như té ngã, bỏng…. Khắc phục: Tập luyện chuyên biệt về cảm giác. Khuyến khích theo dõi cơ thể khi bị mất cảm giác. Cẩn thận với đặt tư thế, cầm nắm và vận động để phòng ngừa chấn thương
8. Ảnh hưởng chức năng chi trên: Trong đột quỵ, chi trên có xu hướng bị ảnh hưởng nhiều hơn chi dưới. Khắc phục: Khuyến khích tập luyện các hoạt động của chi trên, đặc biệt tập trung vào các hoạt động rèn luyện nhiệm vụ cụ thể và chức năng. Tập luyện lặp lại tác vụ như vươn tới, nắm bắt, chỉ, di chuyển và kéo đồ vật trong các bài tập chức năng. Đeo nẹp đối với người bệnh đột quỵ có nguy cơ bị co rút hoặc đã bị co rút, trị liệu với gương, tập luyện với hỗ trợ bằng robot…
9. Giảm cơ lực: Đột quỵ gây yếu cơ, gia tăng cơ lực tạo thuận vận động và giúp lấy lại chức năng, các bài tập cơ lực có thể giúp cải thiện tâm lý. Khắc phục: Tập các bài tập làm mạnh cơ hướng mục đích. Có thể kết hợp với kích thích điện các nhóm cơ cụ thể. Làm mạnh cơ tăng tiến có thể bằng cách tăng số lần lặp lại các hoạt động chịu trọng lượng như lập lại động tác chuyển từ ngồi sang đứng, dùng cân nặng ví dụ như bài tập kháng trở tăng tiến hoặc tập kháng trở với dụng cụ như xe đạp tập. Tăng sức mạnh cơ giúp cải thiện chức năng và tốt nhất bằng các bài tập làm mạnh cơ hướng mục đích‎
10. Các vấn đề về dáng đi, thăng bằng, di chuyển và đi lại: Đi thường là ưu tiên hàng đầu của người bệnh đột quỵ‎. Khắc phục: Các bài tập thăng bằng ở nhiều tư thế khác nhau, từ ngồi, đứng một chân, đứng, đi và lên xuống cầu thang. Tập luyện dáng đi cho người bệnh sau đột quỵ để tạo thuận sự độc lập và giúp tăng sức bền và tốc độ. Tập luyện có thể với sự hỗ trợ của một thành viên trong gia ‎đình/người chăm sóc, dụng cụ trợ giúp ví dụ: Dụng cụ chỉnh hình cổ bàn chân, gậy một chân. Có thể sử dụng tập trên máy đi bộ có nâng đỡ cơ thể hoặc không. Tăng cường cơ lực, khuyến khích các vận động bình thường và không khuyến khích các vận động bù trừ để hỗ trợ tập luyện dáng đi. Có thể sử dụng kích thích điện chức năng làm giảm bàn chân rủ. Sử dụng một dụng cụ trợ giúp đi lại. Chú ý: dụng cụ trợ giúp đi có thể có ảnh hưởng xấu đến mẫu dáng đi và cản trở khả năng tự đi lại, nếu được tập tiến tới không cần dụng cụ trợ giúp.
11. Co rút: Co rút là sự rút ngắn các mô mềm làm giảm tầm vận động khớp do các khiếm khuyết như yếu cơ hoặc co cứng và đặt tư thế xấu kéo dài. Co rút có thể dẫn đến các thay đổi trong cấu trúc xương. Thường gặp là mất vận động xoay ngoài vai, duỗi khuỷu, quay ngửa cẳng tay, duỗi cổ tay và ngón tay và dạng ngón cái, gấp mu cổ chân và xoay trong khớp háng. Những người bệnh bị yếu liệt cơ nặng đặc biệt dễ có nguy cơ hình thành co rút bởi vì bất kỳ khớp hoặc cơ nào không được di chuyển hoặc kéo dài đều đặn đều có nguy cơ bị các biến chứng mô mềm, cuối cùng sẽ hạn chế vận động và có thể gây đau.‎ Khắc phục: Theo dõi các cơ có nguy cơ bị rút ngắn, áp dụng các phương pháp điều trị thường quy (như kéo dãn, khuyến khích vận động, làm mạnh cơ cho những người bệnh đột quỵ có nguy cơ hoặc đã hình thành co rút.
12. Bán Trật Khớp Vai: Bán trật khớp vai thường phối hợp với đau vai và giảm chức năng chi trên. Có thể là do trương lực cơ giảm hoặc tăng‎. Khắc phục: quan trọng nhất là phòng ngừa bán trật, chăm sóc vai trong quá trình dịch chuyển và cầm nắm bằng tay và các lời khuyên về đặt tư thế có nâng đỡ vai. Người bệnh có vận động vai chủ động nhiều hơn có tỷ lệ bán trật thấp hơn. Người bệnh liệt nặng có nguy cơ bị bán trật khớp vai, các can thiệp gồm : hướng dẫn cho bệnh nhân/người chăm sóc về cách cầm nắm di chuyển và đặt tư thế đúng cho tay bị tổn thương; Kích thích điện cho cơ trên g*i và cơ delta; Các dụng cụ nâng đỡ vai. Với những người bệnh đã bị bán trật khớp vai, can thiệp có thể bao gồm một dụng cụ nâng đỡ vai và các kỹ thuật cầm nắm để ngăn ngừa bán trật thêm. Cần thiết có thể phẩu thuật chỉnh khớp vai,
13. Đau: Người bệnh đột quỵ rất dễ bị đau. Đau thường xảy ra ở vai liệt và do tình trạng liệt giảm trương lực cơ, co cứng, bất động và cầm nắm chăm sóc không đúng cách. Đau vai góp phần làm tăng co cứng, mất hồi phục chi trên, mất ngủ, trầm cảm và giảm chất lượng cuộc sống, cũng như kéo dài thời gian nằm viện. Các bệnh lý kèm theo liên quan đến tuổi tác do các thay đổi khớp như thoái hoá khớp có thể làm tăng thêm đau đớn khó chịu, đặc biệt khi cầm nắm di chuyển‎và đặt tư thế. Đau ở người bệnh đột quỵ có thể là đau trung ương sau đột quỵ xảy ra ở khoảng 2-8% người bệnh đột quỵ và là một cảm giác rát bỏng, nhói, hoặc châm chích nông và khó chịu, thường nặng hơn khi sờ chạm, bởi nước hoặc vận động‎. Khắc phục: Xác định nguyên nhân và điều trị phù hợp, các kỹ thuật của vật lý trị liệu như điện trị liệu, laser, xoa bóp bấm huyệt, sóng xung kích, châm cứu, thuốc giảm đau…‎
14. Sưng phù chi: Người bệnh ở tư thế thẳng đứng người đứng hoặc ngồi với tay hoặc chân rủ xuống hoặc bất động do yếu cơ có nguy cơ xuất hiện phù nề bàn tay và bàn chân.‎ Khắc phục: Khuyến khích vận động, nâng đỡ chi thể và chăm sóc chi, mang vớ/tất thun tạo lực ép, kích thích điện, vận động thụ động liên tục (CPM) và nâng cao chân tay khi nghỉ, nhiệt trị liệu…
15. Mất sức bền tim phổi: Sức bền tim phổi suy giảm nghiêm trọng do tình trạng bất động ở giai đoạn sớm sau đột quỵ.‎ Khắc phục: Phục hồi chức năng giúp làm tăng sức bền tim phổi một khi các nhóm cơ chi dưới của người bệnh đủ mạnh. Khuyến khích tham gia tập thở, tập luyện thể dục thường xuyên, liên tục. Tập kháng trở và sức bền tim phổi.
16. Mệt mỏi sau đột quỵ: Mệt mỏi ở đây được định nghĩa là sự mệt mỏi bất thường hoặc bệnh lý đặc trưng bởi cảm giác mệt mỏi không liên quan đến mức độ gắng sức trước đó và thường không cải thiện khi nghỉ ngơi. Nguyên nhân của mệt mỏi sau đột quỵ chưa được rõ nhưng tình trạng này thường gặp và kéo dài sau đột quỵ với tỷ lệ hiện mắc ước tính lên tới 70%. Mệt mỏi có liên quan đáng kể với hạn chế trong thực hiện các sinh hoạt hàng ngày nhưng chủ yếu là do liên quan đến trầm cảm. Khắc phục: Nhân viên y tế cần nhận ra những người bệnh bị mệt mỏi quá mức và có thời gian điều trị, tập luyện và nghỉ ngơi tuỳ từng trường hợp cụ thể. Nên sàng lọc trầm cảm cho những người bệnh này. Các biện pháp khác: Tập thể dục giúp tạo giấc ngủ ngon, tránh các thuốc an thần và rượu bia quá mức.
17. Huyết khối tĩnh mạch sâu + thuyên tắc mạch phổi: Huyết khối tĩnh mạch sâu chi dưới và biến chứng thuyên tắc phổi là những nguy cơ quan trọng trong vài tuần đầu sau đột quỵ trong đó thuyên tắc phổi chiếm 5% số ca tử vong. Các yếu tố nguy cơ bao gồm giảm vận động, độ trầm trọng của đột quỵ, tuổi, mất nước…‎Khắc phục: Phục hồi chức năng vận động sớm, cung cấp nước cho cơ thể. Sau đột, các bác sĩ sẽ lượng giá lại nguy cơ bị huyết khối tĩnh mạch sâu và xem xét bắt đầu điều trị thuốc dự phòng bổ sung.
18. Loét do đè ép: Tất cả những người bệnh đột quỵ đều có nguy cơ hình thành loét do đè ép do các yếu tố: độ nặng của đột quỵ, giảm vận động, đái tháo đường, tiểu tiện không tự chủ và tình trạng dinh dưỡng. Loét do đè ép có thể làm chậm quá trình phục hồi, và tuỳ theo phần cơ thể bị ảnh hưởng, làm trì hoãn hoặc làm ngừng các biện pháp phục hồi chức năng. Vết loét cũng có thể bị nhiễm trùng ‎càng làm trì hoãn và làm chậm quá trình phục hồi hơn.‎ Khắc phục: Người bệnh đột quỵ nên được lượng giá nguy cơ loét do đè ép và đánh giá da thường xuyên. Thay đổi tư thế thường xuyên lý tưởng mỗi 2-3 giờ, giữ cho người bệnh sạch sẽ, hướng dẫn cho người bệnh và các thành viên gia đình về loét và phòng ngừa. Điều trị vết loét: Điện trị liệu (điện từ, laser, siêu âm) giúp làm lành vết loét. Điều trị các tình trạng kèm theo có thể làm chậm lành loét ép như suy dinh dưỡng và nhiễm trùng
19. Nhiễm trùng: Sốt trên người bệnh đột quỵ có thể do nhiễm trùng hô hấp và nhiễm trùng đường tiểu. Viêm phổi là nguyên nhân gây sốt phổ biến nhất trong vòng 48 giờ đầu tiên của đột quỵ cấp tính và là một trong những biến chứng hô hấp cấp tính thường gặp nhất. Viêm phổi do vi khuẩn là nguyên nhân gây tử vong phổ biến nhất ở người bệnh đột quỵ giai đoạn cấp và giảm các phản xạ hành tuỷ, ngủ gà, ức chế miễn dịch, khó nuốt và hậu quả là do hít được xem là nhưng yếu tố góp phần chính cho tỷ lệ cao viêm phổi do vi khuẩn sau đột quỵ. Khắc phục: Điều trị bao gồm kết hợp thuốc và các kỹ thuật vật lý trị liệu hô hấp trong khi xử lý ‎sớm nhằm phòng ngừa biến chứng hô hấp bằng cách: Đặt tư thế để khuyến khích giãn nở tối đa đường thở, chăm sóc khi cho ăn, các bài tập thở đều đặn, vận động‎. Các nhiễm trùng đường niệu cũng là nguyên nhân phổ biến gây sốt ở người bệnh đột quỵ. Những tình trạng này có thể được xử lý y khoa theo các hướng dẫn lâm sàng của bệnh viện.
20. Nguy cơ té ngã: Té ngã là một vấn đề thường gặp của người bệnh sau đột quỵ. Vì một số trường hợp ngã có thể dẫn đến những biến chứng nặng nề, cần thực hiện các biện pháp để giảm thiểu nguy cơ té ngã.‎ Khắc phục: Lượng giá té ngã cần phải xem xét các nguyên nhân cụ thể. Nếu các nguyên nhân là‎ do đột quỵ như khó khăn trong khi đứng, thì các can thiệp cần phải nhắm vào những nguyên nhân này. Cũng nên xem xét tâm lý sợ ngã như các yếu tố nhận thức và cảm xúc cũng như các yếu tố thể chất. Tập mạnh cơ và tái rèn luyện thăng bằng được chỉ định tuỳ theo trường hợp, ngưng các thuốc hướng thần, lượng giá và thay đổi nguy cơ tại nhà ở những người bệnh có nguy cơ cao.
21. Tiểu tiện không tự chủ: Tình trạng không kiểm soát được tiểu tiện sau đột quỵ ảnh hưởng nhiều đến chất lượng cuộc sống của người bệnh và người chăm sóc. Rối loạn chức năng của bàng quang và/hoặc đường ruột có thể là do sự kết hợp của các khiếm khuyết liên quan đến đột quỵ như là yếu cơ, khiếm khuyết về nhận thức hoặc nhận cảm. Cần lượng giá và xử lý nguyên nhân của tình trạng không tự chủ trong tiểu tiện.‎
 Tiểu không tự chủ: người bệnh đột quỵ có nghi ngờ rối loạn kiểm soát đi tiểu cần phải được lượng giá. Nếu cần thì phải đặt thông tiểu.‎
 Đại tiện không tự chủ‎: Những người bị táo bón hoặc không kiểm soát được đại tiện, cần thực hiện lượng giá toàn diện bao gồm cả khám trực tràng và xử lý táo bón, tắc phân hay không kiểm soát đại tiện phù hợp. Với những người có rối loạn chức năng đường ruột, nên tập luyện lại thói quen đi tiêu với loại thức ăn và thời gian ăn thích hợp và khai thác phản xạ dạ dày-ruột. Nếu không thể kiểm soát được đi tiêu, nên sử dụng bỉm để giúp người bệnh tự chủ mà không ảnh hưởng nhiều đến cuộc sống của họ.
22. Vấn đề về thị giác: Có nhiều vấn đề về thị giác liên quan đến đột quỵ, bao gồm khiếm khuyết thị trường, rối loạn vận động của mắt và không chú ý thị giác không gian. Thị lực kém ảnh hưởng xấu đến việc phục hồi chức năng của người cao tuổi và ở người bệnh đột quỵ. Giảm thị lực do tuổi tác nếu không được điều chỉnh sẽ gây ra những khó khăn trong các sinh hoạt hàng ngày, di chuyển và lái xe. Mất thị trường cũng có thể ảnh hưởng khả năng tham gia điều trị phục hồi chức năng, sống ở nhà, thực hiện các hoạt động như di chuyển, lái xe an toàn và có thể làm nặng thêm trầm cảm, lo lắng, cách ly xã hội và làm giảm chất lượng cuộc sống sau đột quỵ.‎ Khắc phục: người bệnh đột quỵ cần được sàng lọc các vấn đề về thị giác,và được giới thiệu chuyên khoa một cách phù hợp. Khám chuyên khoa để điều chỉnh thị giác. Có thể sử dụng lăng kính Fresnel (15diốp) để cải thiện chức năng thị giác ở những người bệnh bị bán manh đồng danh. Liệu pháp vận động mắt cũng có thể được sử dụng cho những người bệnh nhận biết được về tình trạng bán manh kéo dài của họ. Người bệnh bị không chú ý thị giác không gian cần được lượng giá và hướng dẫn các chiến lược bù trừ như‎ quét mắt sang bên bị ảnh hưởng‎.
23. Khó khăn trong các hoạt động của cuộc sống hàng ngày: Giới hạn về thể chất và tinh thần của người bệnh đột quỵ gây cho họ nhiều khó khăn trong sinh hoạt hàng ngày. Cần khuyến khích sự độc lập và để giảm gánh nặng cho gia đình/người chăm sóc, độc lập trong sinh hoạt cũng là cách để giảm trầm cảm.‎ Khắc phục: Hướng dẫn người bệnh mặc áo quần với một tay‎, hướng dẫn người bệnh sử dụng các dụng cụ như các dụng cụ trợ giúp ăn, tắm rửa và mặc quần áo.‎Trang bị thiết bị dụng cụ phù hợp với sinh hoạt của người bệnh tại gia đình
Ảnh hưởng của đột quỵ hay Tai biến mạch máu não lên sức khỏe và cuộc sống trên người bệnh là thật sự có ít hay nhiều, ảnh hưởng của đột quỵ lên mỗi người bệnh là khác nhau. Người bệnh cần được thầy thuốc thăm khám kỹ và lượng giá, từ đó có kế hoạch khắc phục từng bước các vấn đề, các hệ quả, các ảnh hưởng sau đột quỵ sử dụng tất cả năng lực chuyên môn, tay nghê, các kỹ thuật phục hồi, các máy móc, dụng cụ hiện có, sự nổ lực của bệnh nhân, sự hỗ trợ gia đình hầu mang lại sức khỏe thể chất, tinh thần cải thiện &hồi phục tốt nhất có thể và góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống.

Address

Phòng Chẩn Trị Y Học Cổ Truyền TÂM Y 68/10A Trần Kế Xương, Phường Gia Định
Ho Chi Minh City
70000

Opening Hours

Monday 16:30 - 20:00
Tuesday 16:30 - 20:00
Wednesday 16:30 - 20:00
Thursday 16:30 - 20:00
Friday 16:30 - 20:00
Saturday 16:30 - 20:00
Sunday 08:00 - 11:00

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when BS CKII Huỳnh Tấn Vũ posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Contact The Practice

Send a message to BS CKII Huỳnh Tấn Vũ:

Share

Share on Facebook Share on Twitter Share on LinkedIn
Share on Pinterest Share on Reddit Share via Email
Share on WhatsApp Share on Instagram Share on Telegram

Category