Viện Khoa Học Lịch Sử

Viện Khoa Học Lịch Sử Lịch sử không đứng về phía người chiến thắng cũng không bênh vực kẻ thất bại.

Lịch sử đứng về phía sự thật...Những chủ đề nghiên cứu hiếm hoi và sự thật luôn bị bưng bít!

28/08/2012

Hồ sơ về Tướng Dương Văn Minh
THÂN THẾ VÀ GIA ĐÌNH

- Ông Dương Văn Minh sinh năm 1916 ở tỉnh Mỹ Tho. Cha là ông Dương Văn Huề, khi đi học mướn lấy tên là Dương Văn Mau (tên của người bà con), làm thầy giáo, sau làm tri phủ, rồi đốc phủ sứ (hàm).

Ông Dương Văn Huề và bà Nguyễn Thị Kỹ có bảy người con: bốn trai, ba gái. Ông Minh là con cả. Dương Thanh Nhựt là con trai kế, có tham gia hoạt động cách mạng từ trước Cách mạng tháng Tám (năm 1944) và suốt hai cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, là đại tá Quân đội nhân dân Việt Nam. Dương Thanh Sơn, em trai thứ năm, là sĩ quan chế độ cũ.

Gia đình ông Minh theo đạo Phật, lễ giáo, nề nếp.

- Năm 1940, Dương Văn Minh học trường đào tạo hạ sĩ quan và sĩ quan dự bị của Pháp. Năm 1942 vào quân đội Pháp.

Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, Dương Văn Minh tham gia lực lượng vũ trang cách mạng chống Pháp xâm lược. Pháp trở lại, gia đình ông Minh tản cư về Chợ Đệm (Tân An). Lần đó, ông về thăm nhà, đơn vị rút đi, ông bị kẹt lại chưa tìm được đơn vị thì bị Tây bắt, buộc ông trở lại làm việc cho quân đội Pháp. Năm 1946, Dương Văn Minh là thiếu úy, đại đội phó quân đội Pháp. Lần lượt lên đến cấp tá, rồi qua Pháp học trường võ bị, là một trong những sĩ quan đầu tiên của quân đội “Việt Nam Cộng Hoà”.

Ông Minh cũng theo đạo Phật, nhân từ, thương người. Sợ sát sinh, sợ phải giết người. Thấy ai bị nạn thì ra tay cứu như can thiệp cho em trai bà Bùi Thị Mè (1) là thiếu tá chế độ cũ bị tình nghi hoạt động cho “Việt Cộng” được thả ra; giúp ông Nguyễn Minh Triết (Bảy Trung), cán bộ của ta và là em bạn dì ruột bị địch bắt giam ở nhà lao Phú Lợi, được ra tù…

- Ông Minh là người rất tự trọng. Sau ngày 30/4/1975, ông được về nhà (98 đường Hồng Thập Tự, nay là đường Nguyễn Thị Minh Khai, Quận 3) sống với tư cách một “công dân của một nước độc lập” (2). Đời sống khó khăn, ông lại bị bệnh tiểu đường, bị đau dạ dày. Có lúc lãnh đạo Thành phố (đồng chí Võ Văn Kiệt) nhờ bà Bùi Thị Mè gợi ý khéo là Đảng và chính quyền thành phố muốn hỗ trợ ông trong cuộc sống. Nhưng ông Minh từ chối với lý do: “Các anh các chị sống được thì tôi cũng sống được nếu chưa quen thì phải tập lại cho quen”.

Năm 1983, ông Minh được Chính phủ ta chấp thuận để ông sang Pháp trị bệnh và thăm con. Toà Tổng Lãnh sự Pháp ở Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị Bộ Ngoại giao Pháp giúp ông Minh vé máy bay và tiền gửi hành lý nhưng ông Minh từ chối, nói rằng “đã có Chính phủ Việt Nam lo rồi”.

Khi đi, ông Minh chỉ xin mang theo một ít đồ cổ trong nhà. Sang Pháp, ông không nhờ vả gì Chính phủ Pháp, không xin trợ cấp xã hội Pháp.



QUÁ TRÌNH BINH ĐỊCH VẬN ĐỐI VỚI TƯỚNG DƯƠNG VĂN MINH

Công tác binh địch vận đối với tướng Dương Văn Minh bắt đầu từ năm 1962, với nhiều lực lượng, nhiều ban ngành tham gia: Binh vận Trung Ương Cục, Tình báo, An ninh T4 (Sài Gòn - Gia Định), Trí vận…

1/ Ban binh vận Trung Ương Cục miền Nam

Năm 1960, theo yêu cầu của Ban binh vận Xứ ủy Nam bộ (sau này là Trung Ương Cục miền Nam), đồng chí Võ Văn Thời, Cục trưởng Cục địch vận Tổng Cục Chính trị Quân đội Nhân dân Việt Nam đề nghị và được cấp trên đồng ý điều động đồng chí Dương Thanh Nhựt (3) về Cục để giao nhiệm vụ về miền Nam vận động Dương Văn Minh. Đồng chí Nhựt được đặt bí danh là Mười Ty. Cuối tháng 12/1960, đồng chí Mười Ty lên đường.

Tháng 8/1962, đồng chí Mười Ty móc được với gia đình, trước hết là với ông Nguyễn Văn Di, cậu ruột; qua cậu, móc vợ là Sử Thị Hương, nhắn vợ về thăm mẹ và tìm hiểu thái độ của anh hai Dương Văn Minh. Sau đó Mười Ty thăm em trai là Dương Thanh Sơn, sĩ quan quân đội Sài Gòn và em thứ tám là Dương Thu Vân.

Thấy tình hình thuận lợi, đồng chí Mười Ty hướng dẫn cán bộ mật đem ý kiến của lãnh đạo trao đổi với Dương Văn Minh về việc đảo chính Chính phủ Ngô Đình Diệm. Trong lúc Tướng Minh đang bực tức Ngô Đình Diệm độc tài, gia đình trị, phủ nhận công lao của mình (tảo thanh Bình Xuyên và các giáo phái Hoà Hảo). Tướng Minh hứa sẽ tìm cách làm.

Ngày 01/11/1963, Trung tướng Dương Văn Minh nhân danh Chủ tịch Hội đồng quân nhân cách mạng phát lệnh đảo chính Chính phủ Ngô Đình Diệm và lên làm Quốc trưởng Việt Nam Cộng Hòa lần thứ nhất. Đồng chí Mười Ty nắm được ý định Tướng Minh chuẩn bị đảo chính Diệm và có báo cáo về Ban binh vận Trung Ương Cục.

Sau cuộc đảo chính Ngô Đình Diệm một thời gian, đồng chí Mười Ty có vào nhà Dương Văn Minh (98 Hồng Thập Tự, nay là đường Nguyễn Thị Minh Khai), sau đó qua nhà em là Dương Thanh Sơn ở mười ngày. Qua nhiều lần gặp và trao đổi với Dương Văn Minh, đồng chí Mười Ty cho rằng Tướng Minh trước đây mơ hồ về Mỹ là tên xâm lược, nay thì hết tranh cãi về điều này, nhưng vẫn còn cho là Mỹ có giúp đỡ miền Nam. Tướng Minh hứa hủy bỏ ấp chiến lược, cho nhân dân về nhà cũ với ruộng vườn, mồ mả ông bà.

Trong thời gian làm Quốc trưởng lần thứ nhất. Dương Văn Minh có một số hành động tiến bộ có lợi cho cách mạng:

+ Quyết định hủy bỏ 16.000 ấp chiến lược. Đại sứ Mỹ Cabot Lodge hỏi Dương Văn Minh vì sao làm thế? Ông trả lời, đại ý: Người Việt Nam có phong tục tập quán riêng, không người nào muốn xa rời mảnh đất đã gắn bó đời mình và mồ mả ông cha. Dồn dân vào ấp chiến lược là chủ trương sai, vì lẽ đó tôi giải tán ấp chiến lược để người dân trở về quê cũ của mình.

+ Bộ trưởng quốc phòng Mỹ Mc Namara và Tướng Harkin yêu cầu Quốc trưởng Dương Văn Minh để cho Hoa Kỳ ném bom ra miền Bắc, không ném ồ ạt mà ném bom nổ chậm trên đê sông Hồng. Miền Bắc sẽ bị lũ lụt mất mùa, người dân sẽ đói… Dương Văn Minh lắc đầu từ chối.

+ Tháng 1/1964, Đại sứ Cabot Lodge yêu cầu Quốc trưởng Dương Văn Minh nghiên cứu, chuẩn y và thực hiện kế hoạch 34A (hoạt động gián điệp, biệt kích chống miền Bắc). Dương Văn Minh không trả lời.

+ Theo lời kêu gọi của Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam (4) Dương Văn Minh tỏ ý muốn thương lượng để tuyển cử tự do, thực hiện một chế độ trung lập, lập Chính phủ liên hiệp. Nhưng Mỹ cự tuyệt hòa đàm, chống mọi xu hướng trung lập.

- Do những chủ trương và hành động của Dương Văn Minh không theo đúng ý đồ “Bắc tiến” của Mỹ, theo chỉ thị của Tổng thống Mỹ Johnson, cuối tháng 01/1964, chính quyền Mỹ đã đưa Nguyễn Khánh lên làm Chủ tịch Hội đồng quân nhân cách mạng kiêm Thủ tướng Chính phủ Cộng Hòa Việt Nam bằng một cuộc đảo chính. Nguyễn Khánh tuyên bố: “Tôi đảo chánh Dương Văn Minh để cứu đất nước này khỏi rơi vào tay Cộng sản”.

Mỹ thấy Dương Văn Minh có hậu thuẫn ở miền Nam, nhưng khó điều khiển nên chỉ thị cho Chính quyền Sài Gòn phong Dương Văn Minh làm đại tướng và cử làm đại sứ lưu động ở Đài Loan. Mỹ mời ông Minh qua Mỹ một thời gian rồi cho lưu vong ở Thái Lan (từ đầu năm 1965) có sự giám sát của CIA, làm con bài dự trữ.

Cuối năm 1967, theo chỉ đạo của đồng chí Mười Cúc (Nguyễn Văn Linh, Phó Bí thư Trung Ương Cục miền Nam) và Ban binh vận Trung Ương Cục, đồng chí Mười Ty có chuyến qua Pháp, ở nhà em rể là Charlot để móc người em gái thứ 8 là Dương Thu Vân qua Pháp. Có thời gian Mười Ty ở nhà Dương Minh Đức (con trai Dương Văn Minh). Được biết, khi người em gái thứ 6 Dương Thu Hà bị ung thư chết, Dương Văn Minh có qua Pháp dự đám tang em gái, sau đó ở lại Pháp hơi lâu, có ý chờ tin của Mười Ty. Nhưng vì bọn CIA bảo trung tá Đẩu (sĩ quan tùy viên của Tướng Minh) kêu ông Minh về Thái Lan, nên không ở lâu hơn được nữa.

Khi chị Dương Thu Vân qua Paris gặp Mười Ty cho hay là ông Minh không thể qua Pháp được nữa, thì Mười Ty mới chuyển kế hoạch qua em (Dương Thu Vân) và cháu (Dương Minh Đức) truyền đạt ý kiến của cấp trên cho Dương Văn Minh. Sau đó Đức báo lại ý kiến của cha anh với Mười Ty như sau: “Lập Chính phủ ba thành phần là khó lắm, cần đánh cho văng Thiệu, Mỹ phải rút đi là hết chiến tranh. Tôi có ra làm chính phủ ba thành phần khi bầu cử thì ông Thọ (Luật sư Nguyễn Hữu Thọ) cũng thắng cử, tôi có thất cử cũng không nghĩa lý gì, miễn có lợi cho đất nước là hơn”. Dương Minh Đức nói thêm: Ba cháu không còn lực lượng, không biết làm chính trị, không giỏi bằng ông Thọ; ra ngoài (ra khu) lúc này là không có lợi, ở trong này khi cần có lợi hơn…

Sau đó, đồng chí Mười Ty về Hà Nội, được đồng chí Lê Duẩn gặp và mời cơm (với đồng chí Võ Văn Thời). Sau khi nghe đồng chí Mười Ty báo cáo đầy đủ chuyến đi công tác ở Pháp, đồng chí Lê Duẩn khen và nói: “Dương Văn Minh trả lời như vậy là thành thật, nói như vậy là làm được, chứ hứa hết có khi không làm được…”

Cuối năm 1970,… theo chỉ đạo của Trung Ương và Trung Ương Cục miền Nam, Ban binh vận Trung Ương Cục tìm một người khác, để tiếp cận vận động Dương Văn Minh. Đó là chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh, cơ sở của ta trong sĩ quan là bạn bè và thầy trò có thể tiếp cận được với Dương Văn Minh. Đồng chí Nguyễn Tấn Thành (tức Tám Vô Tư), bác của Nguyễn Hữu Hạnh, được Ban binh vận Trung Ương Cục giao nhiệm vụ trực tiếp nắm và bồi dưỡng cho Nguyễn Hữu Hạnh.

Tháng 3 và 4/1975, đồng chí Tám Vô Tư thường gặp ông Nguyễn Hữu Hạnh. Sau khi Nguyễn Văn Thiệu từ chức, đồng chí Tám Vô Tư gợi ý ông Hạnh nên tiếp cận và vận động Dương Văn Minh nếu lên làm Tổng thống thì tìm cách kết thúc cuộc chiến có lợi cho nhân dân.

Khi được tin ông Dương Văn Minh lên làm Tổng thống, ngày 28/4/1975, từ Cần Thơ, ông Nguyễn Hữu Hạnh bằng mọi cách, vượt mọi khó khăn lên Sài Gòn gặp Dương Văn Minh và được ông giao làm phụ tá Tổng tham mưu trưởng, thay Tổng tham mưu trưởng ở bên cạnh ông, sau đó là Quyền Tổng tham mưu trưởng. Với các cương vị này, ông Hạnh đã góp phần quan trọng vào việc thực hiện lệnh của Tổng thống Dương Văn Minh làm cho quân đội Sài Gòn “án binh bất động”, tan rã tại chỗ, không nổ súng và thúc đẩy Chính phủ Dương Văn Minh sớm bàn giao chính quyền cho cách mạng.

2/ Thâm nhập vào “nhóm Dương Văn Minh”

Tháng 9/1972, Ban An ninh T4 (Thành phố Sài Gòn - Gia Định) thành lập Cụm điệp báo mới, bí số là A10, với nhiệm vụ xây dựng lực lượng điệp báo bí mật trong một số đối tượng, trong đó có lực lượng thứ ba, đặc biệt là “nhóm Dương Văn Minh”… (các thành viên bộ tham mưu nhóm Dương Văn Minh, ban biên tập bản tin nội bộ nhóm Dương Văn Minh, thư ký tòa soạn báo Điện Tín, báo Đại dân tộc…).

Đầu năm 1975, đồng chí Trần Quốc Hương (Mười Hương), Trưởng Ban An ninh T4, chỉ đạo A10 tìm cách thâm nhập vào lực lượng thứ ba và nhóm Dương Văn Minh để tác động, vận động lực lượng này chống đối, cô lập, chia rẽ chính quyền Nguyễn Văn Thiệu.

Thời gian này, Cụm điệp báo A10 tiếp cận, bám sát “nhóm Dương Văn Minh”, có lúc họa sĩ Ớt (Huỳnh Bá Thành) ở luôn trong nhà Dương Văn Minh; tham gia viết và in tuyên cáo “chống Chính phủ Thiệu không có Thiệu”, đòi Trần Văn Hương từ chức (Tổng thống).

Ngày 01/3 và cuối tháng 3/1975, đồng chí Huỳnh Bá Thành (lần sau có thêm các đồng chí Trần Thiếu Bảo, Huỳnh Huề…) vào căn cứ báo cáo với đồng chí Mai Chí Thọ (Bí thư thành ủy), Trần Thanh Vân (Phó trưởng Ban An ninh T4). Đồng chí Mai Chí Thọ chỉ đạo: “…Phải bằng mọi cách để Dương Văn Minh thay Nguyễn Văn Thiệu, rồi giao chính quyền cho cách mạng. Đó là chủ trương của Đảng nhằm tránh đổ máu, tránh tổn thất cho nhân dân”.

3/ Tác động vào Chính phủ Dương Văn Minh

Cụm điệp báo VĐ2 thuộc phòng tình báo chiến lược M22, cục tham mưu Miền cũng có chỉ đạo vận động tác động nội các Dương Văn Minh đầu hàng thông qua kỹ sư Tô Văn Cang trong những ngày cuối cùng của chế độ Sài Gòn. Theo ông Tô Văn Cang, sáng ngày 28/4/1975, ông Cang đến gặp Đại tá Nguyễn Văn Khiêm (Sáu Trí) ở nhà ông Ba Lễ (cơ sở tình báo) hẻm đường Triệu Đà, Sài Gòn, để báo ý kiến của ông Nguyễn Văn Diệp (trong Chính phủ Dương Văn Minh) muốn tìm gặp đại diện Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam để xin ý kiến xử trí tình hình Sài Gòn. Đồng chí Sáu Trí phân tích tình hình và “khuyên Chính phủ Dương Văn Minh chấp nhận đầu hàng vô điều kiện”. Ý kiến này được ông Cang phản ánh lại cho ông Diệp và sau đó ông Diệp có báo cáo lại cho bộ ba Dương Văn Minh – Nguyễn Văn Huyền – Vũ Văn Mẫu.

4/ Xây dựng lực lượng thứ ba ở đô thị

Sau hiệp định Paris (1973), Hội nghị lần thứ 21 Ban chấp hành Trung Ương (tháng 7/1973) đề ra nhiệm vụ: “Xây dựng lực lượng thứ ba ở đô thị”; “mở rộng hơn nữa Mặt trận dân tộc Giải phóng gồm mọi giai cấp, tôn giáo, lực lượng hòa bình, độc lập, dân chủ ở miền Nam và Việt kiều ở nước ngoài”.

Năm 1974, theo chỉ đạo của đồng chí Mười Cúc (Nguyễn Văn Linh), Phó Bí thư Trung Ương Cục miền Nam, đồng chí Quốc Hương (Mười Hương), Ủy viên Thường vụ, Trưởng Ban An ninh T4 đã chọn một số thanh niên, sinh viên cài vào hoạt động trong lực lượng thứ ba.

Trên thực tế thì lực lượng ta đã hình thành trước khi có hiệp định Paris qua tổ chức “Lực lượng quốc gia tiến bộ” do luật sư Trần Ngọc Liễng và nhà tư sản dân tộc (ngành vật liệu xây dựng) Phan Văn Mỹ thành lập tháng 6/1969 với mục tiêu là: đòi các lực lượng ngoại nhập (Mỹ và đồng minh) phải rút khỏi miền Nam, thành lập chính phủ hòa giải dân tộc. Sau đó, lợi dụng lúc Thiệu đi nước ngoài, luật sư Trần Ngọc Liễng lập “Lực lượng hoà giải dân tộc”. Sau hiệp định Paris, tháng 02/1974, nhóm luật sư Trần Ngọc Liễng lập “Tổ chức nhân dân đòi thi hành hiệp định Paris”, xác định mình là lực lượng thứ ba, mục tiêu chính là đòi thi hành hiệp định Paris, Mỹ rút quân, thành lập Chính phủ hoà giải dân tộc.

Thành viên của “nhóm Dương Văn Minh” gồm một số trí thức, dân biểu đối lập, ký giả, tướng lĩnh . Hằng tuần, nhóm họp bàn về tình hình thời sự chính trị (lúc tình hình sôi động mỗi tuần họp hai lần). Cạnh tướng Dương Văn Minh có Văn phòng báo chí. Lúc báo Điện tín bị đóng cửa, “nhóm Dương Văn Minh” ra bản tin bán công khai để phát cho các tổ chức, đoàn thể, báo chí trong và ngoài nước.

- Theo ông Lý Quý Chung (Hồi ký), tuần lễ đầu tháng 4/1975, tướng Dương Văn Minh và “nhóm Dương Văn Minh” đã họp tại Dinh Hoa Lan (nhà ông Minh) bàn và quyết định công bố ý định thay thế Nguyễn Văn Thiệu để góp phần chấm dứt chiến tranh.

5/ Phối hợp phong trào đấu tranh chính trị của nhân dân Sài Gòn

Với các khẩu hiệu “đuổi Mỹ, lật Thiệu”, đòi Nguyễn Văn Thiệu từ chức, đòi thi hình hiệp định Paris, hòa bình, chấm dứt chiến tranh, đòi dân chủ, cải thiện dân sinh… các cuộc xuống đường diễn ra liên tục, mạnh mẽ thu hút hàng ngàn, hàng vạn người. Như cuộc xuống đường của 200 ký giả Sài Gòn ngày 10/10/1974, ngày “ký giả đi ăn mày” lôi cuốn gần hai vạn quần chúng tham gia đã có tiếng vang lớn cả trong và ngoài nước. Cuộc tuần hành ngày 20/4/1974 của hàng vạn công nhân lao động, sinh viên, học sinh, trí thức, thương phế binh… đòi Nguyễn Văn Thiệu từ chức, đòi thi hành hiệp định Paris, đòi hòa bình, cơm áo, chống sa thải, chống thuế VAT…, là cuộc đấu tranh lớn nhất từ sau hiệp định Paris.



MỸ, PHÁP VỚI TƯỚNG DƯƠNG VĂN MINH

* Mỹ: Năm 1971, Mỹ yêu cầu Dương Văn Minh ra tranh cử Tổng thống với Nguyễn Văn Thiệu để tỏ ra chế độ Cộng hòa miền Nam có dân chủ, nhưng phải thất cử để trở thành lãnh tụ của phe đối lập trong nghị viện. Tướng Dương Văn Minh từ chối. Đại sứ Mỹ Bunker còn trắng trợn hỏi ông Minh cần bao nhiêu đô-la cho cuộc tranh cử. Ông Minh cố nén giận, nhưng giữ lịch sự, đưa tay chỉ đại sứ Mỹ về phía của phòng (không tiếp đại sứ Mỹ nữa). Cuộc bầu cử đó, Tướng Dương Văn Minh có ra ứng cử, nhưng đến giờ chót quyết định rút lui, chỉ còn Nguyễn Văn Thiệu trở thành ứng cử viên Tổng thống “độc diễn”, làm bẽ mặt Mỹ – Thiệu.

Sau khi Thiệu từ chức, Phó tổng thống Trần Văn Hương lên thay tổng thống, tuyên bố “cương quyết tử thủ dù phải hi sinh đến nắm xương tàn”, đã bị nhân dân và báo chí Sài Gòn đấu tranh đòi Chính phủ Trần Văn Hương từ chức ngay lập tức. Trần Văn Hương trì hoãn việc giao quyền cho Dương Văn Minh, mãi đến ngày 26/4/1975, lưỡng viện Sài Gòn đã bầu Dương Văn Minh làm Tổng thống Việt Nam Cộng hòa với 147/151 phiếu.

* Pháp: Theo đồng chí Phan Nhẫn, ngày 27 (hoặc 28/4/1975), Bộ Ngoại giao Pháp gặp đồng chí Phạm Văn Ba (Giám đốc Trung tâm thông tin Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng Hòa miền Nam) gợi ý Chính phủ Cách mạng lâm thời nên đi vào đàm phán. Lúc đó, Pháp hi vọng “giải pháp Dương Văn Minh” và khả năng thương lượng với Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam.

Theo chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh và ông Lý Quý Chung, sáng ngày 30/4/1975, tướng tình báo Pháp Vanuxem đến Phủ thủ tướng (số 7 Thống Nhất, nay là đường Lê Duẩn) gặp Tổng thống Dương Văn Minh, gợi ý ông Minh nên kêu gọi Trung Quốc can thiệp để cứu miền Nam không rơi vào tay Cộng sản Bắc Việt. Ông Minh từ chối, nói rằng: “Tôi đã từng làm tay sai cho Pháp rồi cho Mỹ, đã quá đủ rồi. Tôi không thể tiếp tục làm tay sai cho Trung Quốc”.



TƯỚNG DƯƠNG VĂN MINH VỚI 3 NGÀY LÀM TỔNG THỐNG

15 giờ chiều ngày 28/4/1975, Tướng Minh làm lễ nhậm chức Tổng thống, cử Nguyễn Văn Huyền làm Phó tổng thống, Vũ Văn Mẫu làm Thủ tướng.

Tổng thống Dương Văn Minh cử một số Bộ trưởng và người phụ trách quân đội, cảnh sát, trong đó có đảng viên và cơ sở của ta là: Luật sư Triệu Quốc Mạnh, Giám đốc Nha cảnh sát đô thành, và chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh, phụ tá Tổng tham mưu trưởng sau là quyền Tổng tham mưu trưởng.

Về Bộ quốc phòng, Tổng thống Dương Văn Minh chỉ định Giáo sư Bùi Tường Huân, Giáo sư Đại học Huế (không phải tướng tá) làm Bộ Trưởng. (Theo ông Lý Quý Chung, việc Tổng thống Dương Văn Minh chỉ định ông Bùi Tường Huân làm Bộ trưởng quốc phòng để chứng tỏ chính phủ này không muốn chiến tranh).

17 giờ ngày 28/4/1975, phi đội 5 chiếc A37 của Nguyễn Thành Trung ném bom sân bay Tân Sơn Nhất.

Theo ông Hồ Ngọc Nhuận (Hồi ký), tối hôm đó, Tướng Minh giao cho ông chuẩn bị chiếm đài phát thanh (đề phòng Nguyễn Cao Kỳ làm đảo chính).

Đêm 28/4, Tướng Dương Văn Minh và gia đình dời đến ở nhà một người bạn của tướng Mai Hữu Xuân ở đường Phùng Khắc Khoan do sợ Nguyễn Cao Kỳ ném bom dinh Hoa Lan (nhà ông Minh).

Theo cựu dân biểu Dương Văn Ba (Hồi ký), đêm 28/4/1975, hai đại tá phi công lái hai máy bay trực thăng phục vụ tổng thống đậu trên nóc dinh Độc Lập, gặp Tổng thống Dương Văn Minh đề nghị đưa Tổng thống và tất cả những người trong bộ tham mưu tổng thống và gia đình bay ra Đệ Thất Hạm Đội. Ông Minh trả lời: “Hai em có thể yên lòng lái máy bay ra Đệ Thất Hạm Đội, bất cứ ai có mặt ở đây muốn đi theo thì có thể ra đi. Phần tôi, tôi nhất quyết không đào ngũ bỏ chạy; không thể nào bỏ dân chúng Sài Gòn, không thể nào bỏ miền Nam như con rắn mất đầu”.

Ngày 29/4/1975

Tổng thống Dương Văn Minh, Phó tổng thống Nguyễn Văn Huyền và Thủ tướng Vũ Văn Mẫu bàn và ra lệnh cho Giám đốc Nha cảnh sát đô thành Triệu Quốc Mạnh thả tù binh chính trị; gửi công văn yêu cầu Đại sứ Mỹ Martin cho cơ quan Viện trợ quân sự Mỹ (DAO) rời khỏi Việt Nam trong vòng 24 giờ để giải quyết hòa bình ở Việt Nam.

Đến 16 giờ chiều ngày 29/4, đã thực hiện xong việc trả tù binh chính trị (trong đó có Huỳnh Tấn Mẫm). Chỉ huy các ban và cảnh sát 18 quận, huyện đã tan rã (trừ bộ phận biệt phái).

Tổng thống Dương Văn Minh chỉ thị không được di chuyển quân, không được phá cầu. Dựa vào chỉ thị trên, chiều ngày 29/4/1975, phụ tá Tổng tham mưu trưởng Nguyễn Hữu Hạnh đã ra lệnh cho các đơn vị không được phá cầu. Đơn vị nào muốn phá cầu phải có lệnh của Bộ Tổng tham mưu.

Sau đó, khoảng 15 giờ, phái đoàn do Luật sư Trần Ngọc Liễng cầm đầu có Linh mục Chân Tín, Giáo sư Châu Tâm Luân vào Trại David, được đồng chí Võ Đông Giang, Phó trưởng phái đoàn ta tiếp. Ông Liễng đã thông báo với phái đoàn ta về chủ trương “không chống cự” của Tổng thống Dương Văn Minh, mà ông coi là niềm vui sướng nhất trong đời ông, vì đã thông báo cho bên trong biết “Sài Gòn không chống cự” vào giờ chót của cuộc chiến tranh. Theo Luật sư Liễng, Tổng thống Dương Văn Minh đã chấp nhận đầu hàng từ buổi trưa hôm đó (ngày 29/4/1975).

Từ chiều và tối ngày 29/4, cũng có một số người tác động Tổng thống Dương Văn Minh hướng “Thành phố để ngõ”, đầu hàng. Như ông Lý Quý Chung, họa sĩ Ớt (Huỳnh Bá Thành). Thông qua ông Phan Xuân Huy và ông Đoàn Mai, thượng tọa Thích Trí Quang nói điện thoại trực tiếp với Tổng thống Dương Văn Minh: “còn chờ gì nữa mà không đầu hàng”.

Ngày 30/4/1975

- 6 giờ, chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh quyền Tổng tham mưu trưởng (tướng Vĩnh Lộc, Tổng tham mưu trưởng đã chuồn) và tướng Nguyễn Hữu Có đến báo cáo với Tổng thống Dương Văn Minh về toàn bộ tình hình quân sự. Sau đó, ông Minh (cùng các ông Hạnh và Có) đến Phủ Thủ tướng (số 7 Thống nhất, nay là đường Lê Duẩn).

Tổng thống Dương Văn Minh họp với Phó Tổng thống Nguyễn Văn Huyền, Thủ tướng Vũ Văn Mẫu và một số người trong nội các “nhóm Dương Văn Minh”, bàn và quyết định không nổ súng và giao chính quyền cho Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng Hòa miền Nam. Thủ tướng Vũ Văn Mẫu soạn bản thảo tuyên bố này.

- 9 giờ, Tổng thống Dương Văn Minh đọc vào máy ghi âm.

Chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh đề nghị và được Tổng thống Dương Văn Minh đồng ý có nhật lệnh cho quân đội. Ông Hạnh soạn thảo nhật lệnh này. Đồng thời tướng Nguyễn Hữu Hạnh gọi điện thoại cho tướng Nguyễn Khoa Nam, Tư lệnh Quân khu 4 yêu cầu cố gắng thi hành lệnh của Tổng thống trên đài phát thanh.

9 giờ 30: Đài phát thanh phát tuyên bố của Tổng thống Dương Văn Minh: “Đường lối của chúng tôi là hòa giải và hòa hợp dân tộc”; “yêu cầu tất cả anh em chiến sĩ Cộng Hòa ngưng nổ súng, và ở đâu thì ở đó”; “Chúng tôi chờ gặp Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng Hòa miền Nam Việt Nam để thảo luận về lễ bàn giao chính quyền trong vòng trật tự, tránh sự đổ máu vô ích cho đồng bào”.

Sau đó, cả các ông Dương Văn Minh, Nguyễn Văn Huyền, Vũ Văn Mẫu cùng nội các đến Dinh Độc Lập để chờ bàn giao chính quyền cho cách mạng.

Sau khi đọc tuyên bố “đầu hàng” xong, Tướng Dương Văn Minh nói với mọi người (trong Chính phủ): “Mọi việc coi như đã xong. Bây giờ ai muốn đi hay ở thì tùy”.

11 giờ 30, xe tăng quân giải phóng vào Đinh Độc Lập. Xe quân giải phóng đưa ông Dương Văn Minh và ông Vũ Văn Mẫu đến đài phát thanh để đọc tuyên bố đầu hàng vô điều kiện.



KẾT LUẬN

1/ Tướng Dương Văn Minh là người có tinh thần dân tộc, yêu nước. Từ chỗ lúc đầu còn mơ hồ về việc Mỹ xâm lược miền Nam, cho rằng Mỹ có giúp đỡ miền Nam, dần dần tỏ thái độ chống Mỹ: chống Mỹ đưa quân viễn chinh Mỹ và đồng minh vào miền Nam, kéo dài và mở rộng chiến tranh, muốn có hòa bình, độc lập và hòa hợp dân tộc.

2/ Theo ông Nguyễn Hữu Hạnh và ông Lý Quý Chung, Tướng Dương Văn Minh lên làm Tổng thống không có ý để thương thuyết với cách mạng vì đã thấy không còn khả năng thương thuyết; cũng không có ý để tiếp tục chiến tranh vì lâu nay ông Minh chủ trương hoà bình, chấm dứt chiến tranh. Điều này thể hiện rõ ở Tổng thống Dương Văn Minh chỉ định hai cơ sở của ta (chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh và luật sư Triệu Quốc Mạnh) nắm hai lực lượng vũ trang: quân đội và cảnh sát; cử một người dân sự (giáo sư Bùi Tường Huân) làm Bộ trưởng Bộ Quốc phòng; chưa đầy một ngày sau khi nhậm chức thì ngày 29/4/1975, đã ra lệnh thả tù chính trị, đuổi phái đoàn DAO của Mỹ; không di chuyển quân, không phá cầu v.v..

3/- Trong điều kiện cuộc tổng tiến công quân sự của các binh đoàn chủ lực kết hợp với cuộc tiến công và nổi dậy của các lực lượng vũ trang và quần chúng ở thành phố Sài Gòn – Gia Định đã tạo sức ép quân sự lớn; công tác vận động, binh địch vận của nhiều lực lượng ta với Tướng Dương Văn Minh; được sự đồng tình, tác động tích cực của những người chủ yếu trong nội các, lực lượng thứ ba và “nhóm Dương Văn Minh”; Tổng thống Dương Văn Minh đã quyết định “không chống cự”, tuyên bố “ngưng nổ súng và ở đâu ở đó vào 9g30 (sau đó tuyên bố “đầu hàng vô điều kiện” vào 11g30) ngày 30/4/1975 là hành động thức thời, làm giảm ý chí đề kháng của đại bộ phận quân đội Sài Gòn vào những giờ chót của cuộc chiến tranh, tạo thuận lợi cho quân giải phóng tiến nhanh vào giải phóng hoàn toàn thành phố Sài Gòn còn nguyên vẹn và không đổ máu. Nhiều thành phố và thị xã khác cũng được giải phóng nguyên vẹn, ít tổn thất. Chúng ta biết rõ giành được thắng lợi to lớn này, cuộc tổng tiến công của các quân đoàn kết hợp với các cuộc tiến công và nổi dậy của lực lượng vũ trang và quần chúng địa phương đóng vai trò quyết định. Tuy nhiên, công bằng mà nói, hành động thức thời của Tổng thống Dương Văn Minh và nội các của ông đã góp phần làm cuộc chiến kết thúc sớm, tránh đổ nhiều xương máu của binh sĩ và nhân dân, thành phố Sài Gòn và nhiều đô thị còn nguyên vẹn. Đó là nghĩa cử yêu nước, thương dân của ông Dương Văn Minh.

Nói Láo: Đặc Sản Của Băng Nhóm Chống Cộng Cờ Vàng Từ trước đến nay các anh cờ vàng thường ví von với nhau là “nói láo nh...
28/08/2012

Nói Láo: Đặc Sản Của Băng Nhóm Chống Cộng Cờ Vàng
Từ trước đến nay các anh cờ vàng thường ví von với nhau là “nói láo như vẹm” . Vẹm ở đây là ám chỉ Việt Cộng. Câu nói này các anh thường đi kèm với việc mỉa mai, hằn học rồi lải nhải mãi rằng chính quyền Cách mạng hứa với các anh chỉ bắt đi học tập cải tạo vài ngày nhưng lại giam các anh mút chỉ.

Suy cho cùng đối với các anh không thế cũng không được, và phe chiến thằng nào cũng buộc phải làm như thế vì các ổ kháng cự của các anh vẫn còn đầy ra đấy. Nếu gọi các anh ra mà tuyên bố sẽ cho các anh vào tù dài hạn thì ai bảo đảm là các anh không chạy theo cái đám tàn quân kia? Ở hoàn cảnh như họ các anh cũng buộc phải làm như thế đúng không? Tìm mọi biện pháp để dụ các anh chui ra đầy đủ là chuyện cần làm. Các anh thử tự suy gẫm xem nếu kêu gọi các anh ra tình nguyện ở tù 5 hay 10 năm các anh có ra không ? Các anh phàn nàn là nhốt các anh lâu quá mà các anh cố tình quên đi việc các anh hò hét nhau chống phá liên tục thì thả các anh ra sao được? Bốn chục năm sau mà các anh còn chống thì thời điểm đó giam các anh để đảm bảo an ninh rõ ràng là vô cùng cần thiết. Nếu các anh không chống phá thì ai thèm giam các anh lâu làm gì, chỉ thêm tốn cơm trong khi dân đang đói.

Nói láo có tổ chức

Tuy nhiên sự việc trên chỉ là những biện pháp tình thế, nói láo có hẳn một tổ chức, một chiến dịch mới chính là đặc sản của các quan thầy các anh. Quan thầy các anh lên kế hoạch nói láo rất quy mô, có sơ kết tổng kết và thậm chí nói láo giỏi thì . . . có thưởng. Và nó đã được thừa kế bởi các băng nhóm chống cộng cờ vàng các anh. Nó là một thứ vũ khí để chống cộng xuyên suốt cuộc chiến không thể thiếu của các anh. Mấy chục năm qua cộng đồng cờ vàng các anh vẫn tiếp tục xem nói láo là vũ khí chủ lực để đạt mục tiêu bôi đen chế độ CSVN và luôn tin tưởng nó tác động đến được quần chúng trong nước tạo thành những làn sóng căm phẫn trả thù thay cho các anh.

Không phải các anh khôn ngoan gì, chính vũ khí nói láo này các anh cũng chỉ bắt chước sư phụ các anh mà thôi. Từ những năm 1954 sư phụ Mỹ của các anh cũng đã sử dụng thành công vũ khí này để dụ người dân di cư vào Nam. Cái khác giữa sư phụ và học trò là sư phụ đạt được mục tiêu ngoài mong đợi, nhưng học trò toàn bị những cú hồi mã thương đau như búa bổ.

Nói láo là một thủ đoạn chính trị mà bất cứ tổ chức chính trị nào cũng áp dụng nhưng không dễ thành công vì nó là con dao hai lưỡi rất nguy hiểm. Khó thành công nhưng lại dễ áp dụng. Nó quá dễ thực hiện cho nên không ngạc nhiên gì khi các anh toàn nói láo để kiếm ăn và chống cộng suốt bao năm qua.

Những vụ bể bạc

Việc nói láo của sư phụ các anh rất tinh vi và xảo quyệt nhưng những vụ bị bể bạc xưa nay không hiếm. Nói láo về vũ khí hóa học của Irak, nói láo về sự kiện tàu Maddox ở Vịnh Bắc Bộ năm 1965, nói láo hứa lèo viện trợ và yểm trợ cho các anh đánh VC v.v… Tuy nhiên trong bài này chỉ bàn tới việc nói láo của sư phụ các anh dẫn đến sự kiện di cư năm 1954 tại VN. Một trong những kế hoạch nói láo thành công và hiệu quả nhất.

Từ năm 1954 vũ khí nói láo của các quan thầy các anh VNCH đã được áp dụng triệt để và thành công ngoài mong đợi. Từ đó nói láo trở thành đặc sản tâm lý chiến của cờ vàng. Sự kiện di cư năm 1954 được sư phụ các anh và bộ máy tâm lý chiến các anh lập đi lập lại như một sự chạy trốn CS của người dân để tố cáo sự tàn ác của CS, xem đó là “bằng chứng sống” ví von đó là cuộc “bỏ phiếu bằng chân” V.V… Không riêng gì người dân cuồng tín ngu dốt thời bấy giờ, mà ngay chính các anh cũng tin sái cổ.

Ít ai trong các anh suy nghĩ và đặt câu hỏi rằng tại sao dân theo Việt Minh đánh Pháp bỏ ra biết bao nhiêu sức người sức của, không kể cả mạng sống mà lại sợ Việt Minh đến độ phải trốn chạy theo các anh như thế ? Nếu Việt Minh tàn ác như các anh vu cáo thì dân theo Việt minh để được cái gì? Vả lại Việt Minh tàn ác với dân được ích gì khi dân đang ủng hộ họ tuyệt đối? Việt Minh đang có sự ủng hộ to lớn như thế thì họ đàn áp dân chúng để làm gì? Biết bao nhiêu phong trào chống Pháp trước đó tại sao không phong trào nào có được một lực lượng quần chúng ủng hộ to lớn như Việt Minh?

nhà hát lớn Hà Nội

Mít Tinh ở nhà hát lớn Hà Nội ngày 19 tháng 8, 1945

Hiệp định Genève quy định năm 1956 là năm tổng tuyển cử thống nhất đất nước. Tổng thống Eisenhower lúc đó đã ước tính ông Hồ Chí Minh sẽ thắng với 80% phiếu. Đây là bất lợi vô cùng cho ông Diệm được Mỹ dựng lên. Tuy nhiên có điều khoản là trong vòng 300 ngày dân 3 miền có thể tự do di chuyển giữa các vùng. Đây chính là cơ hội cho Mỹ lên kế hoạch nói láo để tạo làn sóng di cư ủng hộ ông Diệm đang yếu thế.

Nhìn các thành phần bỏ chạy vào Nam năm 1954 ai cũng có thể nhận thấy như sau :

1. Thành phần theo Pháp, công bộc của Pháp lo sợ bị trả thù – Pháp đặt ách thống trị tại VN hàng trăm năm cho nên có rất nhiều người làm công bộc cho Pháp nhiều đời. Thành phần này và gia đình họ đã di cư lên đến 2 trăm ngàn.

2. Thành phần bỏ chạy do chiến dịch tuyên truyền của CIA – Chiến dịch này có tên gọi là Đường Tới Tự Do (tạm dịch từ Passage To Freedom). Hầu hết thành phần này là người theo đạo Ca tô. Những câu chuyện “Chúa vào Nam” , “Đức Mẹ Fatima vào Nam” là sản phẩm của trung tá Edward Lansdale của CIA cha đẻ chiến dịch này trong mục tiêu nhắm tới hai triệu người di cư vào Nam đã tác động mạnh vào thành phần Ca tô nghèo khổ này.

Vào thời điểm năm 1954 có 90% dân số VN mù chữ mà dân theo đạo Ca Tô phần lớn lại sống ở miền Bắc, cho nên Mỹ đã quyết định (chứ không phải ông Diệm), cần có một cuộc di dân chiến lược. Làm được việc này Mỹ đồng thời đạt được hai mục tiêu :

Thứ nhất : ông Diệm có thêm được lực lượng ủng hộ và đồng thời gây ác cảm bất lợi cho Việt Minh.

Thứ hai : Tạo được ác cảm của dư luận Mỹ đối với Việt Minh để vận động cho Mỹ can thiệp sâu vào VN. Việc can thiệp vào VN sẽ được CIA hướng dư luận vào việc Mỹ cần “cứu giúp “ nhân đạo để dân VN thoát khỏi thảm họa.

Hiệu quả của cuộc di dân này sẽ là bức tranh sống dập tắt những chống đối tại Mỹ về việc can thiệp vào VN.

Tom DooleyKhi Chiến Dịch Đường Tới Tự Do cần tuyển một bác sĩ có khả năng (http://www.umsl.edu/~whmc/exhibits/dooley/background.htm) nói tiếng Pháp, Dooley, một sĩ quan hải quân Mỹ được chuyển qua Đội Đặc Nhiệm 90. Khi Dooley tới Hải Phòng thì mỗi ngày đã có hàng ngàn người bị lừa được đưa xuống tàu vượt 1.500 cây số đường biển để vào Nam tị nạn

Việc tuyên truyền để thực hiện kế hoach di dân có phần đóng góp rất quan trọng của cuốn sách : “Đem Chúng Tôi Thoát Khỏi Quỹ Dữ” (tạm dịch từ Deliver Us from Evil). Của Dooley. Ông này làm việc y tế trong những trại tị nạn thời đó và cuốn sách này được coi như là một tư liệu sống về tội ác của Việt Minh. Cuốn sách nói láo thuộc loại best seller này đã đưa ông lên hàng người hùng trong dư luận Mỹ. Dooley được sinh ra và lớn lên trong một gia đình Ca tô giáo người Mỹ gốc Ailen. Với thành tích nói láo ông được tặng huân chương và đề nghị phong thánh.

Những gì cuốn sách viết không hề có bằng chứng, nó chỉ là là sản phẩm tưởng tượng của một con chiên có ác cảm với Việt Minh.

Trong bài viết về Dooley tác giả Diana Shaw một nhà văn, và là một nhà nghiên cứu viết như sau:(1)

Cuốn sách Dooley có những đoạn mô tả làm thế nào chữa trị những đứa trẻ với đôi bàn chân bị nghiền nát trong những bao bố đá, hay cứu chữa cho vị linh mục bị đóng đinh quanh sọ như một mô phỏng diễu cợt về thiên triều g*i của Chúa Giêsu, những hình ảnh tàn bạo đến rúng động này được đưa vào các bài điểm sách đi sâu vào trái tim người đọc. Dooley viết: “ Những sự tàn bạo này hầu như luôn có mang ý nghĩa tôn giáo. Bây giờ tôi không còn xa lạ với công việc khâu víu cho những người đàn ông bị hoạn thiến, những người đàn bà bị xẻo vú hay những đứa trẻ nhỏ bị cắt hết ngón tay hay cả bàn tay. Và dần dà tôi hiểu được rằng những trừng phạt như vậy đều có liên hệ tới đức tin của họ nơi Thiên Chúa”.

Trong một đoạn văn khác, Dooley đã mô tả một linh mục bị treo ngược chân lên xà nhà, bị đánh đập và tra tấn theo lệnh cộng sản ngừng buổi thánh lể nửa đêm. Khi Dooley gặp vi linh mục, ông ta “đang nằm trên một chỏng tre, trông như thoi thóp hấp hối nhưng đôi môi vẫn mấp máy cầu nguyện im lặng. Khi vừa giở tấm đắp bẩn thỉu, tôi phải chứng kiến một thân thể thịt da bầm nát từ vai xuống đầu gối, với bụng thì trương cứng và hạ bộ thì sưng phồng như một trái banh. Tôi chích cho ông một mủi morphin và rồi cấm một mũi kim lớn vào hạ bộ nhằm rút bớt phần nước máu”.

Norman Baker ở Santa Fe Spring, đã từng là thủy thủ dưới quyền Dooley khi còn ở Hải Phòng cũng đã phát biểu “ Nếu tôi thấy một linh mục bị treo ngược chân và bị đóng đinh trên đầu, thì tôi chắc cả trại đều được nghe qua. Điều lạ là Dooley không hề nói tới những chuyện ấy”.

Diana Show bình luận:

Dooley đã được tạo dựng nên như một vị anh hùng, nhưng đồng thời cũng là sự phỉnh gạt lớn đối với nước Mỹ.

Daniel Redmond, một cựu nhân viên của Chiến Dịch Đường đến Tự Do, thì thẳng thắn hơn khi nhận định về Dooley, ông này gọi Dooley là một “nghệ sĩ nói phét."

Và dĩ nhiên dù là sự kiện nói láo, những sự kiện nói láo của Dooley nghiễm nhiên trở thành “tài liệu” tố cộng của các anh cờ vàng.

Nhân vật quan trọng khác là trung tá Edward Lansdale một chiến lược gia và là phù thủy trong ngành tâm lý chiến. Một điểm đáng chú ý là Dooley phục vụ cho mục tiêu tâm lý chiến của thầy phù thủy CIA Lansdale mà không hề hay biết. Dooley là một con bài có khả năng thích hợp và xuất hiện đúng lúc trong ván bài người tị nạn của Lansdale. Lansdale lên kế hoạch 2 triệu người di tản. Để thực hiện hắn tung tin đồn khắp các vùng quê do bộ phận G5 của quân đội quốc gia miền Nam phụ trách rằng Việt Minh cho phép Tàu tràn vào miền Bắc, bọn Tàu này chuyên cướp bóc và hãm hiếp phụ nữ. Tin đồn lan nhanh đến nỗi Washington phải điện hỏi Lansdale rằng có thực hai sư đoàn Tàu đã vào miền Bắc hay không và Lansdale trả lời là “ việc đó do tôi bịa ra”.

Những tin tức về vùng đất hứa Miền Nam, chúa vào Nam, Việt Minh tịch thu tài sản được phát tán rộng rãi đều là sản phẩm của Lansdale.

Từ mùa hè 1954 đến mùa xuân 1955, gần một triệu người đã di cư vào Nam, gồm hai trăm ngàn người là thân nhân của binh lính, 679 ngàn người Thiên chúa giáo, chiếm 60% trong số một triệu rưởi người theo đạo Thiên chúa. Chiến dịch Đường Tới Tự Do được xem là thành công.

o0o

Nói láo phải có nghệ thuật cho nên không phải ai nói láo cũng thành công. Đã là nghệ thuật thì nó không có khuôn mẫu mà nó cần sáng tạo cho nên các anh VNCH khó mà học cách nói láo của sư phụ mà chỉ biết học nói láo theo kiểu vẹt. Thế nên thành tích nói láo của các anh cờ vàng suốt bao năm qua chỉ đạt đến trình độ móc túi đồng hương mà thôi.

Nói láo không phải chỉ nói những điều không có thật, những lời hứa lèo mà còn phải biết cắt xen chỗ nào của sự thật để nói láo để người ta tin y như thật, và quan trọng nhất là cần phải có bộ máy nói láo chuyên nghiệp kiểu như CIA phối hợp nhịp nhàng mới mong đạt được mục tiêu. . Làm sao các anh có được điều đó. Đó mới là tuyệt chiêu mà sư phụ các anh đã lừa lừa được triệu người VN và lừa cả nước Mỹ.

Chiêu nói láo của CIA lừa được cả triệu người di cư năm xưa được các anh thừa kế và phát huy thành bài nói láo “tắm máu” khi CS chiếm Saigon rất buồn cười nhưng đã làm run sợ được khối người và khốn thay nó lại làm làm run sợ chính các anh. Điểm khác nhau giữa các anh và sư phụ là Mỹ không tin vào những gì mình nói láo còn các anh thì lại lo sợ những điều chính mình nói láo rồi ôm những điều chính mình nói láo mà run cầm cập, chạy qua Mỹ vẫn chưa hết run, run suốt gần bốn chục năm vẫn còn run, nhìn đâu cũng thấy CS rập rình.

Sư phụ các anh nói láo có chủ đích và kế hoạch được thực hiện bằng cả bộ máy CIA. Các anh không nhận thức được điều này, cho nên các anh nói láo vô tôi vạ miễn là cho nó đã cái mồm rồi mơ tưởng với nhau là 80 triệu dân trong nước tin vào những chuyện láo của các anh. Các anh nên nhớ rằng ngày xưa sư phụ các anh nói láo để lừa người dân cuồng tín và mù chữ, không thể tiếp cận sự thật. Ngày nay ở VN hơn 90% dân số biết chữ và interrnet phát triển thuộc hàng top thế giới mà các anh vẫn cứ “đường xưa lối cũ” thay phiên nhau nói láo không biết ngượng mồm rồi các anh lại còn tin rằng người dân sẽ tin các anh để nổi dậy làm cách mạng hoa lài hoa cúc cho các anh hưởng thì quả là bó tay với các anh.

Ở hải ngoại thì các anh nói láo là các anh có căn cứ kháng chiến, có cả ngàn quân để các anh xin tiền, các anh nói láo các anh xây dựng được cả một mạng lưới nằm vùng tại VN . Nói láo xin tiền ủng hộ phong trào trong nước để bỏ túi. Hiêu quả nói láo của các anh chỉ đạt được có thế.

Các anh mặc đồ lính vào, bốt đờ sô mũ nón chỉnh tể lắm, đẹp lắm oai lắm, nhưng lại đứng ở vỉa hè nước Mỹ phất lá cờ đã chết mà mồm thì cứ phùng mang trợn mép đả đảo CS và . . . nói láo. Thế mà các anh lại nghĩ và tin rằng phải như thế CS nó mới sợ các anh.

Nhà báo phỏng vấn cán bộ CS thì các anh cũng bảo phải mặc đồ lính vào để hù. Nhà báo phỏng vấn thì các anh buộc người ta phải hạch tội CS chứ không phỏng vấn gì hết, vì các anh cho rằng phỏng vấn là tạo diễn đàn cho CS. Ôi thật tội cho các anh quá, cái nỗi sợ CS của các anh làm các anh mất trí rồi..

Thời thế đổi thay chỉ có lòng thù hận và cách chống cộng của các anh là không thay đổi. Các anh nói láo quen mồm nên cứ sợ người ta nói thật, trong khi sự thật mới là chân lý. Các anh sợ sự thật nhưng vẫn chưa muộn để các anh tìm đến chân lý .

NatConCenter

Nếu các anh còn dị ứng với sự thật thì hãy để cho người khác đi tìm sự thật cho các anh. Các anh hãy dẹp qua một bên lòng tự ái đã quá lỗi thời để chấp nhận sự thật dù sự thật đó nó xốn xang đau đơn đối với các anh. Sự thật đó là đân tộc VN đã vươn mình đầy kiêu hãnh với thế giới đưới sự lãnh đạo của kẻ thù các anh : Cộng Sản ▪.

Lac TrungLactrung

Những tòa nhà kiến trúc tân thời ở Thành Phố Hồ Chí Minh năm 2009. ảnh http://www.e-architect.co.uk/vietnam/lac_trung_software_city.htm- SH minh họa.

After Tom Dooley graduated from St. Louis University Medical School in 1953, he began a medical internship with the U.S. Navy and served on the U.S.S. Montague. After Vietnam was politically divided in 1954, Dooley helped with the "Passage to Freedom"...

Address

Sư Vạn Hạnh đường, Q. Q
Ho Chi Minh City

Telephone

0962076494

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Viện Khoa Học Lịch Sử posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Share

Share on Facebook Share on Twitter Share on LinkedIn
Share on Pinterest Share on Reddit Share via Email
Share on WhatsApp Share on Instagram Share on Telegram

Category