Xét nghiệm Y khoa DLAB

Xét nghiệm Y khoa DLAB Xét nghiệm y khoa dlab

Theo GLOBOCAN, năm 2022 tại VN có 108.480 bệnh nhân ung thư mới được phát hiện, và số ca tử vong do ung thư là 120.184 ....
20/06/2024

Theo GLOBOCAN, năm 2022 tại VN có 108.480 bệnh nhân ung thư mới được phát hiện, và số ca tử vong do ung thư là 120.184 .
Phần lớn các ca ung thư được chẩn đoán khi bệnh đã ở giai đoạn muộn (giai đoạn 3 hoặc 4).
Việc khám tầm soát và phát hiện sớm ung thư là vô cùng cần thiết, không chỉ giúp tăng cơ hội chữa khỏi mà còn giảm chi phí điều trị và nâng cao chất lượng cuộc sống cho người bệnh.

Để biết thêm thông tin chi tiết về gói khám sàng lọc phát hiện sớm ung thư, quý khách vui lòng liên hệ số hotline: 0784664999.

22/01/2020

Kính gửi Quý khách hàng!

Trước thềm năm mới Canh Tý, PXN Y Khoa DLAB kính chúc Quý khách Sức khỏe, Hạnh Phúc, An Khang và Thịnh Vượng.

Để chủ động trong công tác chăm sóc sức khỏe của Quý khách ngày xuân, PXN Y Khoa DLAB xin thông báo:
- Lịch nghỉ tết Nguyên Đán 2020 chính thức sẽ bắt đầu từ ngày 22/01 đến ngày 29/01 ( tức từ ngày 28 tháng Chạp năm Kỉ Hợi đến hết ngày mùng 5 tháng Giêng năm Canh Tý).
- Từ ngày 30/01 ( tức ngày mùng 6 tháng Giêng năm Canh Tý), PXN sẽ hoạt động bình thường.

Để biết thêm chi tiết và giải đáp các thắc mắc, Quý khách hàng vui lòng liên hệ
Hotline: 0784664999
Trân trọng thông báo!.
------------------------------
Xét Ngiệm Y Khoa DLAB
Kết quả chuẩn vàng - An toàn điều trị.
🌼 TƯ VẤN MIỄN PHÍ
☎️ Hotline: 0784664999
🏠 Địa chỉ: 184 Hiệp Bình - Hiệp Bình Chánh - Thủ Đức - TP. HCM

15/12/2019

Các xét nghiệm chẩn đoán sốt xuất huyết Dengue !!!

1. Các loại xét nghiệm chẩn đoán sốt xuất huyết dengue

Với sốt xuất huyết, bệnh nhân cần làm xét nghiệm máu để tìm virus dengue trong máu. Có 3 chỉ số xét nghiệm sốt xuất huyết tương ứng với ba loại xét nghiệm huyết thanh để chẩn đoán căn nguyên:

Xét nghiệm kháng nguyên Dengue NS1 (NS1Ag):

Xét nghiệm này được chỉ định thực hiện từ ngày đầu tiên đến ngày thứ 3 của bệnh. Nếu bệnh nhân mắc bệnh đã hơn 3 ngày (từ cuối ngày thứ 3 trở đi), mặc dù thật sự bị sốt xuất huyết, nhưng kết quả xét nghiệm sốt xuất huyết NS1 có thể âm tính. Nguyên nhân là vì xét nghiệm này dựa trên cơ chế xác định kháng nguyên của virus. Giai đoạn bệnh từ ngày thứ 4, nồng độ kháng nguyên virus trong máu đã giảm xuống thấp nên đôi khi chỉ số xét nghiệm sẽ âm tính.

Xét nghiệm kháng thể IgM:

Xét nghiệm này được chỉ định thực hiện từ ngày thứ 6 trở đi. Xét nghiệm IgM giúp xác định sự có mặt của kháng thể chống lại virus Dengue trong giai đoạn cấp tính của bệnh. Tuy nhiên, tùy thuộc mức độ sinh kháng thể của từng bệnh nhân mà kết quả xét nghiệm này có dương tính hay không.

Xét nghiệm kháng thể IgG:

Xét nghiệm này nhằm tìm kiếm kháng thể xuất hiện trong cơ thể người bệnh từ lâu. Có nghĩa là, xét nghiệm kháng thể IgG chỉ cho thấy người bệnh từng bị nhiễm virus Dengue, nên không thể dùng chỉ số kháng thể IgG để chẩn đoán trong trường hợp bệnh nhân có biểu hiện sốt cấp tính.

Như vậy:

Từ ngày thứ 3 đến ngày thứ 5: dù người bệnh có thật sự bị sốt xuất huyết nhưng khi xét nghiệm nhiều khả năng kết quả lại âm tính;

Từ ngày đầu đến ngày 3: nếu làm xét nghiệm IgM thì cũng sẽ ra âm tính. Còn nếu thực hiện xét nghiệm NS1 thì khả năng chẩn đoán chính xác lại tùy thuộc vào nồng độ virus trong cơ thể người bệnh có đủ ngưỡng phát hiện hay không.

Trường hợp nồng độ kháng nguyên virus quá thấp thì kết quả xét nghiệm NS1 vẫn có thể ra âm tính;

Từ ngày thứ 4 trở đi: bệnh nhân có thể phải làm xét nghiệm máu hàng ngày mới có đủ dữ kiện để bác sĩ khẳng định chẩn đoán.

Ngoài ra, có thể thực hiện xét nghiệm tổng phân tích tế bào máu (xét nghiệm công thức máu toàn phần, CBC) để hỗ trợ chẩn đoán, theo dõi diễn biến và tiên lượng bệnh. Theo đó, nếu thấy số lượng tiểu cầu giảm thấp, hematocrit tăng cao thì rất có thể đó là dấu hiệu bệnh đang diễn biến nặng, cần can thiệp càng sớm càng tốt.

Bên cạnh đó, tùy theo tình hình, bác sĩ có thể chỉ định thực hiện thêm một số xét nghiệm để bổ sung chẩn đoán như:

Xét nghiệm điện giải đồ (bao gồm Na+, K+, Cl-): để đánh giá tình trạng rối loạn điện giải;

Xét nghiệm chức năng gan (bao gồm AST, ALT, GGT): nhằm kiểm tra chức năng gan, đánh giá tổn thương và phát hiện biến chứng của sốt xuất huyết;

Xét nghiệm Albumin: để đánh giá tình trạng thoát huyết tương có thể xảy ra đối với sốt xuất huyết Dengue, giúp nhận biết sớm và theo dõi khi bệnh nhân nếu có tình trạng tăng tính thấm thành mạch;

Xét nghiệm chức năng thận (gồm các chỉ số như Ure, Creatinine, MicroAlbumin niệu): để thăm dò chức năng thận và tình trạng tổn thương thận sớm do các biến chứng của sốt xuất huyết;

Xét nghiệm CRP: nhằm đánh giá tình trạng viêm nhiễm, giúp chẩn đoán phân biệt nguyên nhân gây ra sốt và đánh giá hiện tượng bội nhiễm do sốt xuất huyết.

2. Kết quả xét nghiệm sốt xuất huyết có ý nghĩa gì?

Giai đoạn 1: Ngày 1-5 ngay sau thời điểm sốt

Chỉ số Dengue NS1 dương tính, IgM âm tính, IgG âm tính, Dengue RNA âm tính => sốt virus Dengue nguyên phát, tình trạng bệnh ở giai đoạn đầu.

Chỉ số Dengue NS1 dương tính, IgM âm tính, IgG âm tính, Dengue RNA dương tính => sốt virus Dengue nguyên phát, tình trạng bệnh ở giai đoạn cấp.

Chỉ số Dengue NS1 dương tính, IgM dương tính, IgG âm tính, Dengue RNA dương tính => sốt virus Dengue nguyên phát, tình trạng bệnh ở giai đoạn cấp thể.

Chỉ số Dengue NS1 dương tính, IgM âm tính, IgG dương tính, Dengue RNA dương tính => sốt virus Dengue thứ phát, tình trạng bệnh ở giai đoạn cấp thể.

Chỉ số Dengue NS1 dương tính, IgM dương tính, IgG dương tính, Dengue RNA dương tính => sốt virus Dengue thứ phát, tình trạng bệnh ở giai đoạn cấp thể.

Trong mọi xét nghiệm, ngày 3 và 4 là thời điểm phát hiện tỷ lệ nhiễm virus cao nhất, ngày 5 và 6 có thể phát hiện tỷ lệ kháng thể cao hơn kháng nguyên.

Giai đoạn 2: Ngày 6-9 ngay sau thời điểm sốt

Chỉ số Dengue NS1 dương tính, IgM dương tính, IgG âm tính, Dengue RNA dương tính => sốt virus Dengue nguyên phát, tình trạng bệnh ở giai đoạn cấp thể.

Chỉ số Dengue NS1 dương tính, IgM dương tính, IgG dương tính, Dengue RNA dương tính => sốt virus Dengue thứ phát, tình trạng bệnh ở giai đoạn cấp thể.

Giai đoạn 3: Từ ngày 9 sau thời điểm sốt

Các xét nghiệm đều cho chỉ số giảm, giá trị cho chẩn đoán giảm, chỉ số dương tính chỉ còn rơi vào 0,8 đến 1,6%.

Với xét nghiệm phân tích máu tổng thể: có thể giảm lượng bạch cầu trong máu, lượng tiểu cầu giảm, gây nguy cơ xuất huyết, lượng huyết tương thoát gây cô đặc trong máu, xuất hiện những điểm máu nhỏ dưới da.

Hiện nay chưa có thuốc điều trị bệnh sốt xuất huyết, tuy nhiên bác sĩ sẽ cung cấp những thông tin cần thiết để hạn chế triệu chứng bệnh, bao gồm chế độ nghỉ ngơi và uống nhiều nước để khắc phục tình trạng mất nước. Bên cạnh đó, bệnh nhân có thể dùng thuốc giảm đau không kê đơn (như paracetamol) để giải quyết triệu chứng đau và sốt.

Trường hợp kết quả xét nghiệm dương tính với sốt xuất huyết kèm theo các triệu chứng rõ rệt, bệnh nhân có thể phải nhập viện để theo dõi và điều trị.

xét nghiệm

Những Lưu ý về sốt xuất huyết DengueSốt xuất huyết là một căn bệnh lây truyền qua đường máu do muỗi mang mầm bệnh, nếu n...
15/12/2019

Những Lưu ý về sốt xuất huyết Dengue

Sốt xuất huyết là một căn bệnh lây truyền qua đường máu do muỗi mang mầm bệnh, nếu như không có biện pháp can thiệp kịp thời thì sẽ gây nguy hiểm cho sức khỏe. Muốn điều trị sốt xuất huyết hiệu quả, bên cạnh việc tuân thủ nghiêm phác đồ của bác sĩ còn cần có quá trình theo dõi sốt xuất huyết tại nhà đúng cách để tránh các biến chứng nặng có thể gặp phải.

1. Sốt xuất huyết là bệnh gì?
Sốt xuất huyết là bệnh truyền nhiễm cấp tính do virus Dengue gây ra. Nguyên nhân lây lan bệnh là do muỗi vằn truyền virus Dengue từ người bệnh sang người khỏe mạnh. Bệnh sốt xuất huyết dễ dẫn đến các biến chứng nguy hiểm nên việc theo dõi sốt xuất huyết cần phải được thực hiện đúng cách.

Sốt xuất huyết có 3 dạng:

Sốt xuất huyết cổ điển (thể nhẹ): Bệnh thường bắt đầu với triệu chứng sốt và sẽ kéo dài trong vòng 4-7 ngày tính từ sau khi bị truyền bệnh bởi muỗi. Ngoài ra, còn có các triệu chứng như: nhức đầu nghiêm trọng, đau phía sau mắt, đau khớp và cơ, buồn nôn và ói mửa, phát ban xuất hiện trên cơ thể 3-4 ngày sau khi bắt đầu sốt và sau đó thuyên giảm sau 1-2 ngày. Bạn có thể bị nổi ban lại một lần nữa vào ngày sau đó;
Sốt xuất huyết có chảy máu: Dấu hiệu sốt xuất huyết dạng này bao gồm tất cả các triệu chứng của bệnh sốt xuất huyết cổ điển kèm theo tổn thương mạch máu và mạch bạch huyết, chảy máu cam, chảy máu ở chân răng hoặc dưới da, gây ra vết bầm tím;
Sốt xuất huyết dengue (hội chứng sốc dengue): Đây là thể bệnh dạng nặng nhất của bệnh sốt xuất huyết, bao gồm tất cả các biểu hiện của bệnh sốt xuất huyết thể nhẹ cộng với các triệu chứng chảy máu, kèm theo huyết tương thoát khỏi mạch máu, chảy máu ồ ạt trong và ngoài cơ thể, sốc (huyết áp thấp). Vì vậy, việc điều trị và theo dõi sốt xuất huyết ở người bệnh cần phải thận trọng.
Khi đã phục hồi, cơ thể sẽ miễn dịch chống lại bệnh nhưng chỉ có thể kháng lại loại virus đã gây ra bệnh. Trong khi đó có tới 4 chủng virus khác nhau, có nghĩa là người bệnh vẫn có khả năng bị nhiễm lại bởi loại virus khác.

2. Biến chứng nguy hiểm của sốt xuất huyết
Nếu như bệnh nhân bị sốt xuất huyết điều trị không kịp thời và quá trình theo dõi, chăm sóc tại nhà không đúng cách thì sẽ gây nguy hiểm cho sức khỏe, có nguy cơ tử vong cao. Các biến chứng nguy hiểm của sốt xuất huyết gồm:

Thoát huyết tương nặng làm giảm khối lượng tuần hoàn dẫn đến sốc sốt xuất huyết;
Xuất huyết nặng;
Chảy máu cam nặng (cần nhét gạc vách mũi), rong kinh nặng, xuất huyết trong cơ và phần mềm, xuất huyết đường tiêu hóa và nội tạng. Xuất huyết nặng có thể dẫn đến đông máu rải rác lòng mạch;
Xuất huyết nặng cũng có thể xảy ra ở người bệnh dùng các thuốc như aspirin, ibuprofen để hạ sốt hoặc dùng corticoid, tiền sử loét dạ dày, tá tràng, viêm gan mạn;
Suy tạng nặng;
Suy gan cấp, men gan AST, ALT ≥ 1000 U/L;
Suy thận cấp: Thiểu niệu, vô niệu (không có nước tiểu), ure, creatinin tăng cao;
Rối loạn tri giác (sốt xuất huyết thể não);
Viêm cơ tim, suy tim.
3. Cách chăm sóc bệnh nhân sốt xuất huyết tại nhà
Đối với các thể bệnh nhẹ, sốt xuất huyết điều trị tại nhà được mà không cần nhập viện. Khi bị sốt xuất huyết trong 3 ngày đầu, người bệnh sẽ có phản ứng sốt cao như sốt virus thông thường khác và thường chưa có biến chứng nên có thể điều trị tại nhà bằng cách:

Theo dõi nhiệt độ bằng cách cặp nhiệt độ ở nách hoặc hậu môn hay cặp bên khóe miệng cứ vài giờ một lần;
Nghỉ ngơi tuyệt đối trong môi trường thoáng mát, có điều hòa nhiệt độ là lý tưởng;
Uống nước có pha bột điện giải oresol theo chỉ dẫn (từ 2 lít/ngày), uống nước hoa quả, sinh tố, bổ sung vitamin C, B1;
Ăn thức ăn lỏng, dễ tiêu, giàu năng lượng, giàu protein như cháo thịt nạc, súp...;
Khi sốt, nhiệt độ cơ thể tăng lên, vì vậy phải tìm mọi cách để làm cho cơ thể tỏa nhiệt ra bằng cách uống thuốc paracetamol hạ sốt kết hợp với chườm nước mát ở vị trí nách, bẹn và các nếp gấp, lau toàn bộ cơ thể bằng nước ấm để hạ nhiệt.
Để giúp nhiệt độ cơ thể tỏa ra nhanh hơn, bệnh nhân nên mặc quần áo thoáng bởi khi người bệnh sốt cao, cơ thể thường có cảm giác ớn lạnh, nhiều người không biết lại đắp chăn hoặc mặc nhiều quần áo cho người bệnh, việc làm này càng làm hạn chế việc tỏa nhiệt của cơ thể khiến bệnh sốt xuất huyết điều trị lâu hơn và dẫn đến biến chứng nặng;
Đối với trẻ nhỏ, cần tiếp tục cho trẻ ăn các thức ăn thường ngày, dễ tiêu. Nếu trẻ ăn ít hoặc bị nôn thì cần cho ăn nhiều bữa để cung cấp đủ năng lượng cho trẻ. Tránh các loại thức ăn có nhiều mỡ. Trẻ đang bú mẹ thì nên cho trẻ bú thêm số lần và kéo dài thêm thời gian. Cần dùng thêm sữa để cung cấp chất dinh dưỡng cho trẻ.
Lưu ý: Người bệnh sốt xuất huyết điều trị tại nhà tuyệt đối không được dùng aspirin hoặc ibuprofen để hạ sốt mà chỉ uống thuốc hạ sốt khi nhiệt độ trên 38,5 độ C với liều paracetamol 10-15mg/kg/lần, có nghĩa là người 40kg uống 1 viên 500mg/lần và người trên 70kg uống 2 viên/lần, cách 4-6h uống 1 lần kết hợp với hạ sốt bằng phương pháp vật lý như kể trên.

Trong ngày thứ 4 - 7, người nhà đặc biệt chú ý, khi người bệnh có dấu hiệu bất thường như mệt lả, vã mồ hôi, chân tay lạnh, đau bụng, nôn, khó thở, chảy máu cam hoặc chân răng, rong kinh... cần đến ngay cơ sở y tế để chữa trị.

4. Phòng ngừa sốt xuất huyết
Để phòng bệnh sốt xuất huyết, khi đi đến nơi có dịch sốt xuất huyết, bạn nên ở phòng máy lạnh hoặc phòng sạch sẽ để tránh muỗi; tránh đi ngoài trời lúc bình minh, hoàng hôn và buổi tối, vì khi đó có nhiều muỗi bên ngoài; mặc quần áo phủ kín; thoa kem chống muỗi ở các vùng da không được quần áo che chắn như cánh tay, mặt, chân và cổ.

Các loại muỗi mang virus sốt xuất huyết thường sống trong và xung quanh nhà, trong các vũng nước đọng, chẳng hạn như lu, thùng phuy hoặc gần hồ cá. Hãy làm sạch hồ cá thường xuyên cũng như dọn dẹp các vũng nước đọng để không tạo điều kiện cho muỗi phát triển. Bạn cũng cần đậy kín các dụng cụ chứa nước, hạn chế hoặc vứt bỏ các vật dụng có thể chứa nước; dùng các loại sinh vật trong nước tiêu diệt trứng của muỗi.

nghiệm y khoa dlab

PHÒNG XÉT NGHIỆM Y KHOA DLAB

21/09/2019

TRIỂN VỌNG MỚI CHO NGƯỜI NHIỄM HIV!!!
Các nhà khoa học TQ sử dụng công cụ sửa chữa gen (CRISPR) để điều trị cho bệnh nhân HIV bằng cách cắt vùng gen CCR5 trong các tế bào tuỷ sống của người hiến tuỷ trước khi cấy vào bệnh nhân.
Trước đó, bệnh nhân Berlin và bệnh nhân London đã được ‘chữa’ khỏi sau khi tiếp nhận tuỷ sống từ người hiến tuỷ có mang vùng đột biến một cách tự nhiên.
Người mang đột biến vùng gen CCR5 có tính miễn nhiễm cao với HIV do virus này sử dụng protein được tổng hợp từ vùng gen CCR5 làm công cụ để xâm nhập vào tế bào.
Sau khi cấy tuỷ mới, chỉ 5-8% tế bào tuỷ của bệnh nhân được sửa gen. Tỉ lệ này sẽ được tăng lên trong tương lai. Các nhà KH cho biết không có tác dụng phụ nào trên bệnh nhân.
Người mang gen đột biến CCR5 có mối tương quan với tỉ lệ chết sớm lên tới 21% theo một công bố trên tạp chí Nature hồi tháng 6 dù rằng nguyên nhân cụ thể chưa được biết tới.
Hồi tháng 12/2018, một nhà nghiên cứu khác ở TQ đã công bố thay đổi gen CCR5 của hai bé sinh đôi để tạo cho cơ thể khả năng kháng HIV đã dấy lên nỗi lo ngại và phản đối của các nhà khoa học trên thế giới.
Tương lai của ứng dụng công nghệ gen đang ngày một rộng mở.

28/07/2019

CÁC XÉT NGHIỆM CHẨN ĐOÁN U GAN

Bệnh lý gan mật có rất nhiều loại, trong đó khối u ở gan là một tình trạng bệnh rất hay gặp. U ở gan có rất nhiều loại từ lành tính đến u ác tính. U nguyên phát ở gan thường xuất phát từ nhiều loại tế bào. Gan cũng là nơi thường hay gặp u ác tính di căn từ nơi khác đến, các u di căn thường từ: Đại tràng, tụy, dạ dày, vú…Hai loại u gan nguyên phát quan trong nhất là HCC (Hepatocellular Carcinoma) và Cholangiocarcinoma.

Để chẩn đoán một u gan là một vấn đề đôi khi rất là khó khăn, thậm chí một số trường hợp không chẩn đoán được. Quan trọng nhất là phải chẩn đoán được u gì? Lành hay ác? Và chẩn đoán được sớm bệnh để có phát đồ điều trị và theo dõi tối ưu.
Có nhiều phương tiện để chẩn đoán 1 trường hợp u gan, có thể chia thành 2 nhóm:
1, Nhóm chẩn đoán hình ảnh như siêu âm, CT, MRI, giải phẩu bệnh…
2, Nhóm các xét nghiệm máu để chẩn đoán 1 u gan.
Có 3 nhóm các xét nghiệm máu để chẩn đoán u gan:

I. CÁC XÉT NGHIỆM CHỨC NĂNG GAN.

Xét nghiệm (XN) chức năng gan giúp ích cho việc: Phát hiện bệnh, chẩn đoán, đánh giá độ nặng của bệnh, theo dõi điều trị và đánh giá tiên lượng của bệnh. Tuy nhiên đối với các XN chức năng gan chúng ta phải lưu ý mấy đặc điểm sau: Không có 1 xét nghiệm nào để đánh giá chức năng gan; XN chức năng gan bình thường hay bất thường cũng không loại trừ được 1 tình trạng nặng nề của bệnh gan; XN chức năng gan bất thường là 1 chỉ điểm đầu tiên của bệnh và gợi ý cho chúng ta các bước tiến hành tiếp theo.
Các XN chức năng gan:

1. Bilirubin: Chẩn đoán vàng da và độ nặng của tình trạng viêm gan.
Tăng bilirubin trực tiếp: Sỏi mật, tắc mật ngoài gan…
Tăng bilirubin gián tiếp (Unconjugated): Tán huyết, phản ứng truyền máu, viêm gan, xơ gan…

2. Alkaline Phosphatase: Giúp chẩn đoán các rối loạn chuyển hóa và các rối loạn ở trẻ sơ sinh.
Men này có nhiều trong các mô, gan, biểu mô ống mật, xương.
Tăng trong: Sinh lý thai kỳ, phát triển xương ở trẻ em; Tắc mật trong hay ngoài gan, xơ gan, ung thư gan; Bướu xương; cường cận giáp; bệnh Paget; Viêm khớp dạng thấp; Nhồi máu cơ tim; Sarcoidosis…
Giảm trong các trường hợp như: Hypophosphatemia, rối loạn dinh dưỡng, thiếu máu, thiếu Vitamine C.

3. SGOT (Serum Glutamic-Oxaloacetic Transaminase).
AST: Aspartate AminoTransferase.
Men này chủ yếu ở các mô có chuyển hóa cao như tim, gan, cơ xương.
Tăng trong các trường hợp tổn thương tế bào gan do viêm, xơ, ung thư; Tổn thương tim do nhồi máu, chấn thương cơ; phỏng; thiếu máu tán huyết cấp; viêm tụy cấp…
Giảm trong một số trường hợp như tiểu đường, thai kỳ, Beriberi…

4. SGPT ( Serum Glutamic- piruvic Transaminase).
ALT: AlanineAminoTransferase.
Chủ yếu dùng để phát hiện các tổn thương ở tế bào gan: Nhạy & đặc hiệu. ngoài ra còn có trong các tế bào thận, tim, cơ, xương.
Tăng: Có tổn thương tế bào gan do nhiều nguyên nhân; tắc mật, viêm cơ, viêm tụy, nhồi máu cơ tim, sốc…

5. Albumin.
Chủ yếu được tổng hợp ở gan. Chiếm 65% protein trong máu.
Giảm trong những trường hợp bệnh gan mãn tính & nặng.
Giảm trong những trường hợp mất Protein như phỏng, kém hấp thu, suy dinh dưỡng, thừa nước.

6. Prothombin time (PT).
Đo PT có thể giúp phân biệt giữa 1 trường hợp ứ mật và 1 bệnh tế bào gan nặng. Nếu sau khi sử dụng Vitamin K mà PT không được cải thiện thì có thể nghĩ tới tình huống tổn thương tế bào gan nặng.

7. GGT (Gamma- Glutamyl Transferase), công thức máu, cholesterol, glucose…: Các xét nghiệm này tùy vào từng trường hợp cụ thể sẽ có các thay đổi nhưng không đặc hiệu cho chức năng gan.

II. CÁC XÉT NGHIỆM CHẨN ĐOÁN NGUYÊN NHÂN CÁC BỆNH GAN.

1. Có rất nhiều nguyên nhân gây nên các bệnh gan khác nhau:

Hóa chất, độc chất.
Thuốc.
Vi sinh vật, vi rút, vi trùng.
Thuốc.
Bệnh tự miễn, bệnh lý di truyền…
Ở đây chỉ nói rõ thêm về 2 tác nhân hay gặp ở Việt Nam và hậu quả của bệnh có thể dẫn tới xơ gan, ung thư gan là HBV, HCV.
2. Viêm gan siêu vi B (HBV).
Cho đến nay có nhiều dấu ấn để chẩn đoán HBV:

HBsAg: Nhiễm HBV.
Anti HBs: Có kháng thể đề kháng lại HBV (lưu ý: Lượng kháng thể giảm theo thời gian).
HBeAg: Tình trạng HBV đang tăng sinh.
Anti HBe: Tình trạng HBV không tăng sinh, tuy nhiên phải lưu ý trường hợp có đột biến Pre-core hoặc Core promoter.
Anti HBc IgM: Là dấu ấn của viêm gan siêu vi B cấp, đặc biệt là giai đoạn cửa sổ.
Anti HBc IgG: Là chỉ điểm tốt nhất cho tình trạng nhiễm HBV trong quá khứ.
HBVDNA: Phát hiện trực tiếp DNA của HBV, là dấu hiệu tin cậy nhất của nhiễm HBV, đặc biệt là các trường hợp có đột biến Pre-core hoặc Core promoter.
Định lượng HBVDNA: Theo dõi và đánh giá hiệu quả điều trị.
Kiểu gen HBV: đánh giá tình trạng kháng thuốc.

3. Viêm gan siêu vi C (HCV).

HCVRNA: Chỉ điểm cho tình trạng đang tăng sinh của HCV.
Định lượng HCVRNA: Xác định lượng HCV trong máu. Có ý nghĩa tiên lượng, theo dõi và đánh giá điều trị đặc hiệu.

HCV genotype: lên phác đồ điều trị phù hợp.

III. CÁC XÉT NGHIỆM TÌM CÁC DẤU ẤN UNG THƯ
A. Hepatocellular Carcinoma:

HCC thường xảy ra ở những bệnh nhân xơ gan do rượu, hemochromatosis, nhiễm HBV, HCV; nhưng lại ít có ở những trường hợp viêm gan tự miễn, bệnh Wilson.

1. AFP: Alpha FetoProtein.

Giá trị lâm sàng của AFP là trong chẩn đoán ung thư tế bào gan nguyên phát và ung thư tế bào mầm ở nhóm có nguy cơ cao.
Độ nhạy và độ đặc hiệu của AFP thay đổi theo các đối tượng nguyên cứu và giá trị ngưỡng của chỉ số bình thường : 52-80% và 90-98%.

Chỉ định AFP:
- Nghi ngờ HCC.
- U tế bào mầm ( Tinh hoàn, buồng trứng, u ngoài tuyến sinh dục).
- Theo dõi điều trị HCC và u tế bào mầm.
- Theo dõi điều trị xơ gan để phát hiện sớm HCC.
- Theo dõi ở bệnh nhân có nguy cơ u tế bào mầm như tình trạng tinh hoàn ẩn, anh em sinh đôi đồng hợp tử của người bị u tinh hoàn.
Trong ung thư tế bào gan : Không có tương quan giữa lượng AFP và kích thước, sự tăng sinh, giai đoạn hoặc mức độ ác tính của u. AFP chỉ tăng trong 60-70 % trường hợp HCC. Cholangiocarcinoma thì AFP không tăng.
Bệnh nhân xơ gan thì AFP tăng nhẹ và hằng định hoặc tăng thoáng qua : 10-62 % có tăng AFP : 17% tăng từ 15-100 ng/ml ; 20% tăng < 500 ng/ml và chỉ có khoãng 1% > 500 ng/ml.
Ngưỡng để nghĩ HCC : 400 (500) ng/ml.

2. AFP-L3.

AFP-L3 là một đồng đẳng (Isoform) của AFP. (L1, L2, L3 : Dựa vào phản ứng gắn vào Lectin Lens culinaris agglutinin : LCA). Kết quả của AFP-L3% như là tỉ lệ phần trăm của AFP gắn kết với LCA và toàn bộ AFP.
Nhiều nguyên cứu cho thấy khi AFP-L3 tăng hơn 10% là có thể chỉ ra 1 tình trạng sớm của HCC, đôi khi sớm hơn phát hiện HCC bằng các kỹ thuật chẩn đoán hình ảnh (Có khi từ 3-21 tháng trước khi có thể phát hiện HCC bằng kỹ thuật chẩn đoán hình ảnh) ; tăng gấp 7 lần nguy cơ thành HCC trong vòng 21 tháng.
Giới hạn : AFP và AFP-L3 có thể tăng trong : Viêm gan cấp hoặc tối cấp ; Thai kỳ ; trẻ em dưới 18 tháng tuổi.
Độ nhạy và độ đặc hiệu chẩn đoán thay đổi từ 36-66% và 77-95%.
Do AFP-L3 được tạo ra từ các tế bào ác tính nên việc đo AFP-L3 có thể giúp phân biệt được bệnh gan không có hay có ác tính.
Tế bào gan ác tính có tạo ra AFP-L3 hay có khuynh hướng phát triển nhanh, sớm xâm lấn, di căn trong gan (Intra-hepatic metastasis) do đó AFP-L3 là 1 chỉ điểm tiên lượng xấu của bệnh.
Chỉ số bình thường AFP-L3 : 0,5 – 9,9 %.

3. DCP : Des-γ-Carboxy Prothrombin.

DCP là một tiền chất không có chức năng của Prothrombin, là protein được tạo ra bởi sự thiếu Vitamin K.
Năm 1984 : lần đầu tiên DCP được mô tả như là một dấu ấn của HCC, DCP hiện diện trong 91% bệnh nhân HCC.
Chỉ số bình thường : 0-7,5 ng/ml.
Mục đích : Đánh giá nguy cơ ở bệnh nhân bị viêm gan mãn tính diễn tiến đến HCC.
Nhiều nghiên cứu cho thấy sự tăng DCP thường phản ảnh tình trạng của bệnh, kích thước khối u, sự xâm lấn tĩnh mạch cửa.
Cần loại trừ các trường hợp bệnh nhân dùng thuốc chống đông, các trường hợp thiếu Vitamin K do các nguyên nhân khác như ở trẻ sơ sinh.

4. Các xét nghiệm về sinh học phân tử - gen.

Đây là một hướng đi mới mà nhiều nhà khoa học hy vọng có thể giúp giải quyết được các nhược điểm của các kỹ thuật chẩn đoán hiện có. Tuy nhiên, cho đến nay chỉ có các công trình nghiên cứu rãi rác với số lượng nghiên cứu nhỏ, kết quả chưa có độ nhạy, độ đặc hiệu cao cũng như chưa có được công nhận rộng rãi. Có thể kể một số gen đã được nghiên cứu như EGF (Epidermal Growth Factor), các gen ức chế u như p53, RASSF1A, N – ras gen, glypican 3, spondin -2, PEG 10, EDIL3, Osteopontin, MSRA…

B. U của túi mật và đường mật.

Cholangiocarcinoma hoặc carcinoma nguyên phát của ống mật : Có thế bắt nguồn từ bất kỳ vị trí nào của đường mật. Tổn thương này thường kết hợp với các bệnh gan như PSC, tổn thương nang bẩm sinh, nhiễm Clonorchis sinensis.

13/07/2019

Sàng lọc bệnh thalassemia bằng gói xét nghiệm tiền hôn nhân

Thalassemia Bệnh thiếu máu tan máu bẩm sinh hay còn gọi là bệnh thiếu máu Thalassemia là một nhóm bệnh di truyền về máu có liên quan đến đột biến trên gen quy định việc sản sinh hemoglobin. Đột biến gen làm huyết sắc tố (hemoglobin) bất thường dẫn đến hồng cầu thường bị vỡ (bị tan) quá nhanh. Kết quả là bệnh nhân không đủ hồng cầu để vận chuyển oxy nên còn gọi là bệnh thiếu máu. Việc hồng cầu vỡ quá nhiều làm giải phóng quá nhiều sắt vào máu nên gây ra tình trạng tích tụ sắt vào nội tạng, tình trạng này nếu kéo dài có thể gây độc cho cơ thể.

Bệnh thiếu máu hiện diện tại mọi quốc gia và dân tộc, xuất hiện ở cả nam và nữ. Hiện nay, ước tính khoảng 7% dân số thế giới mang gen bệnh, 1,1% các cặp vợ chồng có nguy cơ sinh con bị bệnh, 0,27% trường hợp có thai sinh ra con bị bệnh, mỗi năm có khoảng 300.000 – 500.000 trẻ sinh ra bị bệnh Thalassemia mức độ nặng. Tại Việt Nam hiện nay, ước tính có khoảng 20.000 người bị thiếu máu thể nặng, hàng năm có thêm khoảng 2.000 trẻ em sinh ra bị bệnh thiếu máu bẩm sinh và khoảng 10 triệu người đang mang gen bệnh Thalassemia (người mang gen thể lặn không có biểu hiện bệnh lý nhưng là nguồn di truyền gen bệnh cho thế hệ sau).
Do đó, vấn đề tầm soát Thalassemia tiền hôn nhân trở nên quan trọng trong việc phòng ngừa cũng như chuẩn bị cho việc mang thai. Trên hết, Thalassemia là bệnh nguy hiểm nhưng may mắn có thể phòng ngừa hoặc điều trị.

Xét nghiệm tầm soát bệnh Thalassemia
1. Huyết đồ:
Hồng cầu chứa hemoglobin có chức năng vận chuyển oxy tới các mô và cơ quan. Xét nghiệm huyết đồ nhằm đánh giá các chỉ số hồng cầu quan trọng, dựa vào đó có thể biết có thiếu máu hay không:

Các chỉ số
Giá trị bình thường
Hb: Hemoglobin ~ 13,5g/dl
RBC: số lượng hồng cầu ~ 4,2-5,4 triệu
MCV: thể tích trung bình hồng cầu ~ 80-100 fL
MCH (=Hb/RBC): hemoglobin trung bình hồng cầu ~ 27-31 pg
MCHC(=Hb/Hct): nồng độ hemoglobin trung bình hồng cầu ~ 32-36 g/dL
Các giá trị này có thể thay đổi tùy theo phòng thí nghiệm, với người lớn, nếu MCV

30/05/2019

Những bệnh thường gặp ở tuyến giáp !!!

Tuyến giáp là một tuyến nội tiết hình móng ngựa, nằm ở vùng cổ trước, tiết ra nội tiết tố thyroxine (T4). Khi rối loạn chức năng, tuyến giáp hay gặp các bệnh: cường tuyến giáp, suy tuyến giáp, u lành tính tuyến giáp và ung thư tuyến giáp.

Tuyến giáp là tuyến nội tiết vô cùng quan trọng của cơ thể, giữ vai trò không thể thiếu đối với sự sinh trưởng và phát triển. Bất kỳ bất thường nào của tuyến giáp cũng gây ảnh hưởng không nhỏ tới người bệnh. Sau đây chỉ ra những nguyên nhân thường gặp ở bệnh tuyến giáp và cách phòng tránh.

1. Bệnh lý Cường tuyến giáp:

Cường tuyến giáp là bệnh lý do tuyến giáp tiết ra quá nhiều nội tiết tố T4.

Khi bị cường tuyến giáp, bệnh nhân sẽ có những biểu hiện sau: tâm trạng thất thường, tinh thần căng thẳng, hay vã mồ hôi, hồi hộp trống ngực, run tay chân, ăn nhiều nhưng lại sụt cân, suy nhược cơ thể, có thể gặp mắt lồi ra, khó thở, loạn nhịp tim, suy tim...

Để điều trị cường tuyến giáp, thông thường nhất bệnh nhân sẽ được uống thuốc ức chế tuyến giáp bài tiết nội tiết tố T4, tuy nhiên thời gian uống thuốc kéo dài, có tỉ lệ tái phát bệnh trở lại. Ngoài ra bệnh nhân có thể được chỉ định sử dụng iod phóng xạ hoặc phẫu thuật cắt bỏ một phần tuyến giáp, tuy nhiên những phương pháp điều trị này cần được bác sĩ thăm khám và tư vấn, cân nhắc kỹ lưỡng vì nó có thể xảy ra những rủi ro nhất định.

2. Bệnh lý Suy tuyến giáp:

Suy tuyến giáp là bệnh lý tuyến giáp không tiết đủ nội tiết tố T4. Bệnh xảy ra do nhiều nguyên nhân khác nhau, hoặc có thể xuất hiện sau khi phẫu thuật cắt bỏ một phần tuyến giáp.

Khi bị suy tuyến giáp, bệnh nhân mới đầu xuất hiện các biểu hiện mơ hồ như lờ đờ, mệt mỏi, tinh thần sa sút, trí nhớ kém, phù nhẹ mặt và mắt, da khô. Về sau các triệu chứng ngày càng rõ và nặng hơn, thậm chí bệnh nhân có thể rơi vào hôn mê và tử vong.

Để điều trị suy tuyến giáp, bệnh nhân buộc phải uống bổ sung nội tiết tố T4 theo chỉ định của bác sĩ. Bệnh nhân cần kiên trì trong suốt quá trình điều trị, và có cơ hội hồi phục sau vài tuần, tuy nhiên vẫn có khả năng bệnh nhân phải duy trì thuốc suốt đời.

3. Bệnh lý U lành tính tuyến giáp:

U lành tính tuyến giáp là bệnh lý hay gặp nhất của tuyến giáp
U lành tính tuyến giáp là bệnh lý hay gặp nhất của tuyến giáp, bệnh nhân chỉ có biểu hiện tuyến giáp to lên một phần hay toàn bộ nhưng không có các biểu hiện của cường tuyến giáp hay suy tuyến giáp. Khi u quá to, sẽ xuất hiện các biểu hiện do sự chèn ép của u đối với tổ chức xung quanh, như khó thở, khó nuốt,... và ảnh hưởng nặng nề tới thẩm mỹ của bệnh nhân.

Điều trị u lành tính tuyến giáp phải phụ thuộc từng cá thể người bệnh, qua thăm khám bác sĩ sẽ có chỉ định phù hợp. Các biện pháp bao gồm uống nội tiết tố T4, phẫu thuật cắt bỏ một phần tuyến giáp, và quan trọng nhất là tầm soát để kịp thời phát hiện các dấu hiệu ung thư hóa.

4. Bệnh lý Ung thư tuyến giáp:

Ung thư tuyến giáp là bệnh lý ác tính của tuyến giáp, với biểu hiện hay gặp là tuyến giáp to nhanh trong thời gian ngắn, kèm theo các triệu chứng như: tinh thần thất thường, hay căng thẳng, hồi hộp, khó thở, run chân tay, suy nhược, sụt cân nhanh...

Ung thư tuyến giáp có nhiều loại, với mỗi loại bác sĩ sẽ chỉ định phác đồ điều trị thích hợp (như sử dụng phẫu thuật, hóa trị, xạ trị,...).

Phát hiện bệnh càng sớm (ngay từ khi bệnh chưa có biểu hiện thông qua xét nghiệm kiểm tra định kỳ), càng có nhiều ý nghĩa đối với kết quả điều trị, điều trị càng sớm kết quả càng cao, chi phí càng thấp.

Xét nghiệm y khoa DLAB cung cấp cho khách hàng Gói xét nghiệm tầm soát các bệnh lý về tuyến giáp.

Chi tiết dịch vụ quý khách vui lòng gọi đến hotline để được hướng dẫn.

Address

184 Hiệp Bình, Phường Hiệp Bình Chánh, Quận Thủ Đức
Ho Chi Minh City
77777

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Xét nghiệm Y khoa DLAB posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Contact The Practice

Send a message to Xét nghiệm Y khoa DLAB:

Share

Share on Facebook Share on Twitter Share on LinkedIn
Share on Pinterest Share on Reddit Share via Email
Share on WhatsApp Share on Instagram Share on Telegram

Category