Doctor Hải

Doctor Hải Khám chữa bệnh, cập nhật thông tin về sức khỏe cộng đồng Phòng khám chuyên khoa Tai Mũi Họng. Trực tiếp khám :
Chẩn đoán qua hình ảnh nội soi.

Ths Bs CK2 Nguyễn Văn Hải, chuyên nghành thính học. Ông đã có kinh nghiệm hơn 35 năm trong nghành Tai Mũi Họng. Khám người lớn và trẻ em
Phục vụ tốt, tư vấn tận tình, giá hợp lý. giảm giá 20% cho mỗi lần khám. Miễn phí cho cựu chiến binh (ccb) và con em ccb, người già neo đơn.

VIÊM TAI GIỮA CẤP   Đây là bệnh thường gặp ở bất cứ lứa tuổi nào nhưng ở trẻ em thì thường gặp hơn (tuổi nhà trẻ) là do ...
16/09/2025

VIÊM TAI GIỮA CẤP







Đây là bệnh thường gặp ở bất cứ lứa tuổi nào nhưng ở trẻ em thì thường gặp hơn (tuổi nhà trẻ) là do thường gặp bệnh lý đường hô hấp trên, hơn nữa cấu trúc về mặt giải phẫu cũng như sinh lý chưa được hoàn chỉnh, cộng với sức đề kháng kém -->những yếu tố vừa nêu-->trẻ em thường gặp là điều dể hiểu.

Cơ chế bệnh sinh: có hai trường hợp-->viêm tai giữa cấp:

Một: là do đợt viêm đường hô hấp trên (hắc xì- chảy và nghẹt mũi)-->vi khuẩn theo vòi nhĩ lên hòm nhĩ (tai giữa), ngay sau ngưng chảy mũi hay còn đang chảy mũi mà chúng có biểu hiện là sốt phải chú ý ngay: đã có biến chứng và nếu bé than đau tai nếu trẻ lớn, còn như tuổi chưa nói được mà bé khóc & thường dùng tay “bức một bên tai” đây là dấu chỉ tương đối rõ của viêm tai, lúc này nên cho đi khám chuyên khoa TMH để được soi tai (thấy màng nhĩ đỏ và căng phồng) trong giai đoạn này điều trị thì đáp ứng rất nhanh nếu không kịp thời chỉ sau 2-3 ngày -->màng nhĩ bị đục thủng-->chảy mủ tai (ra ngoài) lúc này điều trị khó hơn vì dễ bị tái diễn và cứ thế viêm đi viêm lại nhiều lần và kéo dài nếu trên 4 tuần lể thì được xem là viêm tai giữa mạn-->điều trị khó khăn-->để lại nhiều di chứng như: điếc.. và biến chứng như: viêm não màng não, Abcess não, chóng mặt ( viêm mê nhĩ ), viêm tĩnh mạch bên, liệt mặt…

Hai: là khi đã có lổ thủng màng nhĩ, thì chúng dễ dàng tái phát vì chúng đem chất bẩn từ ngoài vào thông qua lổ thủng màng nhĩ (từ lần thủng đầu tiên) vào tai giữa-->viêm tái phát, chỉ biểu hiện duy nhất là chảy mủ tai ra ngoài mà không có biểu hiện đau tai hay sốt và cũng ngay gd này điều trị nội khoa tuy là khó nhưng vẫn còn điều trị tốt, nếu không để tái phát và kéo dài >4 tuần thì màng nhĩ tự động liền lại và được xem như khỏi bệnh hoàn toàn.

Người ta chia viêm tai giữa cấp ra hai loại: loại chưa thủng nhĩ và loại thủng nhĩ:

- Loại viêm tai giữa cấp chưa thủng là màng nhĩ đỏ rực-căng phồng (ví như vú bò mọng sữa).

- Loại viêm tai giữa mà màng nhĩ đã có thủng chảy ra ngoài,( nhưng chưa chảy mủ kéo dài quá 4 tuần lễ).

Cần lưu ý:

- Là bệnh thường gặp nhất ở trẻ em, cũng như di chứng và biến chứng của nó nên khám Bs chuyên khoa để được soi tai cho bé ngay, nếu phát hiện sớm việc điều trị dễ dàng( Gđ chưa vỡ mủ thì đáp ứng với kháng sinh rất tốt hoặc cần thiết chích rạch màng nhĩ). Không nên để chảy mủ ra ngoài mới phát hiện vì lúc này màng nhĩ tự vỡ khó liền lỗ thủng--> dễ tái phát--> viêm tai giữa mạn tính điều trị rất khó ( như lội nước ngược dòng vậy).

- Nếu đã có lổ thùng màng nhĩ thì chỉ được điều trị (nội khoa) bằng cách uống thuốc bên trong, không nhỏ bất cứ thuốc gì vào tai, ngay cả rữa oxy già cũng không và cần lưu ý là khi tắm không được để nước vào tai (không tắm: ao; hồ; biển…).

- Trong giai đoạn đang chảy tai hay như tạm thời đã khô (nếu như đang chảy mũi nước) thì phải “khóa” ngay lại.

Tóm lại: sở dĩ trẻ em người “Việt” thường chảy tai kéo dài-->viêm tai giữa mạn tính: có 3 lý do:

- Điều trị không đúng phát đồ (tự mua thuốc).

- Để nước vào tai, hay kèm theo thuốc nhỏ tai, ngay cả Bs chuyên khoa hay đa khoa theo phát đồ cổ điển thì họ-->ngoài thuốc uống thì đa phần có kèm “chai” thuốc nhỏ-->chảy mủ kéo dài là vậy.

- Để chảy mũi kéo dài (còn chảy mũi thì còn lên tai).

( Nhân đây là một trường hợp của đọc giả vừa gởi cho tôi câu hỏi, tôi xin mạn phép đưa lên và câu trả lời của tôi:

Câu hỏi:

Cho em hỏi ạ. Em chưa hiểu tránh nhỏ thuốc trực tiếp vào tai là như thế nào ak. Vì trong các sách các thầy đều nói có nhỏ tai. Anh chỉ cho em với ak

Trả lời:

- Chào bạn! trên sách vở thì viết theo cổ điển và cứ thế mà các thế hệ sau cứ đi theo.

- Nhưng theo nghiên cứu khoa học ngày nay thì dựa theo bệnh chứng (bằng kết quả thực nghiệm trên người bệnh và phải đúng theo nguyên lý và cơ chế bệnh sinh). như bài tôi đã nếu,(bài Vá nhĩ) và vá nhĩ để làm gì? cái chính là việc vá nhĩ để chóng tái phát, là vì nó ngăn được sự xâm nhập từ ngoài vào và nhất là các chất dịch và nước cùng chất bẩn xâm nhập vào thông qua lổ thủng màng nhĩ-->sự viêm tái phát.

- Điều cuối cùng là khi nhỏ thuốc vào tai thì nguyên tắc thuốc đó phải được ngấm vào niêm mạc bị tổn thương thì mới đáp ứng nhưng trong lúc này thì mủ đầy trong hòm nhĩ(tai giữa) thì -->thuốc không có tác dụng và chính chúng ta vô tình trực tiếp đưa chất bẩn vào tai-->sự viêm tái phát. Mong rằng những điều giả thích của tôi bạn hiểu ra vấn đề, chào).

Lưu ý: bài viết đăng trên trang này đều dựa vào nghiên cứu của bác sĩ Nguyễn Văn Hải. Vui lòng không đăng tải lại bài viết mà không có sự đồng ý của bác sĩ Hải. (nhưng có thể chia sẽ cho người thân của bạn).

(Đọc xong bài viết các bạn cần tư vấn hay có điều gì thắc mắc các bạn đừng ngại, thông qua tin nhắn trên facebook của bài viết hay gọi trực tiếp số phone: 0983100994), nếu thấy hay và bổ ích nên chia sẽ cho bạn bè nhé! rất cần bình luận về bài viết đó cho tác giả, đây là nguồn động viên lớn, rất chân thành cám ơn !

( ThS.Bs CK2.Nguyễn văn Hải )

VÁ NHĨ (màng nhĩ)    Vá nhĩ khi màng nhĩ bị thủng đã có từ rất lâu, nhưng do quan điểm không đồng nhất trong ngành thính...
16/09/2025

VÁ NHĨ (màng nhĩ)







Vá nhĩ khi màng nhĩ bị thủng đã có từ rất lâu, nhưng do quan điểm không đồng nhất trong ngành thính học VN nên một thời gian dài không được chú ý nhiều trong ngành phẫu thuật tai, ngày nay do được nhìn nhận thấu đáo hơn về tính hiệu quả của nó nên việc mổ tai kết hợp vá nhĩ trở thành thường qui không nói là bắt buộc cho Bs-ptv (phẫu thuật viên) và cũng là điều kiện tiên quyết khi mổ tai ngày nay,
VN mổ lần đầu nếu thất bại thì hiếm khi người bệnh chấp nhận mổ lại lần hai, còn đối với các nước tiên tiến thì mổ cho đến khi nào thành công thì thôi thậm chí có trường hợp (đôi ba lần) cũng không sao miễn thành công là được.

Trên các nghiên cứu bệnh chứng và các công trình nghiên cứu trên thế giới cũng như ở Việt Nam, nếu chỉ định đúng tỉ lệ thành công >90%. Tôi cho đây cũng là thành tựu mang tính cách mạng trong ngành phẫu thuật tai và cũng nhờ đó nó như món quà "cứu cánh" cho những người chảy tai lâu ngày không những giúp cải thiện một phần sức nghe sau mổ (nếu đúng phương pháp) mà còn giảm đi sự phiền toái bấy lâu với việc chảy mủ tai-->mặc cảm suốt thời gian dài mà họ đành phải cam chịu.

Vậy vá nhĩ mục đích chính là chống tái phát do được ngăn từ bên ngoài xâm nhập (nước bẩn và bụi) qua lỗ thủng-->chui vào tai giữa -->viêm tái phát.

Chỉ định vá nhĩ: bất cứ nguyên nhân nào-->lỗ thủng màng nhĩ như: viêm tai giữa mạn, thủng nhĩ do chấn thương-->rộng không thể tự liền điều có thế vá nhĩ, trừ trường hợp viêm tai giữa đặc hiệu“Cholesteatoma” do hủy xương rất nhanh, dễ tái phát và biến chứng rất nặng, trước đây phẫu thuật viên chọn mổ triệt căn (lấy sạch-phá sạch) miễn sao không tái phát và dẫn lưu tốt là được-->người bệnh phải chấp nhận điếc đăc sau mổ, nhưng với phướng pháp phẫu thuật ngày nay có thể mổ 2 thì ( thì đầu là lấy sạch bệnh tích và thì 2 thì tái tạo lại phần dã mất do bệnh lý hay quá trình mổ gây ra, giữa 2 thì cách nhau 6 tháng).

Đối với trẻ em không có chỉ định vá nhĩ là vì lỗ thủng nhỏ có thể tự liền, hơn nữa trẻ em thường bị chảy mũi thường xuyên ( bệnh nhà trẻ) nên vá nhĩ không thành công vả lại trẻ em cấu trúc chưa hoàn chỉnh “có thể tự phá rồi tự xây lại”-->không vá nhĩ cho trẻ em do những điều vừa nêu là vậy.

Nguyên tắc:

- Điều kiện tiên quyết là trước khi Vá nhĩ là tai phải khô (tránh trường hợp tai còn đang chảy mà chụp vá ngay) nếu như có đợt cấp /viêm mạn thì phải điều trị nôi khoa cho thật sự khô thì mới tiến hành vá.

- Vòi nhĩ phải thông và một số yếu tố khác như không có đang mắc bệnh viêm nhiểm đường hô hấp trên cấp, đường huyết không cao, không có các bệnh mạn tính như tim mạch...Trước đây qui định màng nhĩ thủng >4mm thì không vá nhưng ngày nay thì dù thủng sạch chỉ còn lại rìa mang nhĩ Ptv chúng tôi vẫn vá thành công và cách tốt nhất là được Bs khám chỉ định và trực tiếp đứng ra phẫu thuật cho người bệnh đó thì tỉ lệ thành công mới cao .

Miếng vá có nhiều loại nhưng Bs PTV chọn mảnh ghép tự thân của người bệnh thường là “cân cơ thái dương” để tránh thải ghép ; cũng cần lưu ý ở đây là mảnh ghép không trực tiếp thay thế màng nhĩ mà nó đóng vai trò như một giá đỡ-->màng nhĩ tự bò vào cho đến khi lắp đầy lổ thủng thì miếng ghép tự rời ra và tự tiêu hủy.

Đề cập sơ qua về kỷ thuật vá màng nhĩ là sau khi cắt rìa làm tươi quanh lổ thủng, dán mảnh ghép vào lổ thủng dùng chất liệu ép trên và ép dưới ( không phải khâu màng nhĩ như kỷ thuật khâu vải thông thường).

Để kết thúc bài viết tôi khuyên nên vá nhĩ sớm, vì lợi ích bạn và người thân của bạn nếu gặp phải bệnh lý trên, nhưng phải đứng trên quan niêm là chống tái phát là chính chứ không phải vá nhĩ để phục hồi chức năng nghe vì phải hiểu rằng màng nhĩ đóng góp cho sức nghe không đáng kể thì đồng nghĩa khi thủng nhĩ (thủng mới) sức nghe chỉ giảm 15dB, nhưng bù lại việc vá nhĩ sớm giữ lại được thính lực ngay khi chưa bị rớt, do chưa bị tổn thương nhiều các bộ phận ở tai giữa--> thì chỉ cần vá nhĩ đơn thuần (đơn giản), còn nếu thính lực đã giảm thì tương ứng tổn thương nhiều các cơ quan ở tai giữa lúc này Bs Ptv buộc phải mở tai “mổ lớn” ( đục xương chũm vào hòm nhĩ lên thượng nhĩ mục đích là lấy sạch bệnh tích) thính lực chỉ duy trì ngay ở mức đó cho dù vá nhĩ có thành công.

Quan điểm: Phẫu thuật tai trước đây làm sao lấy sạch bệnh tích là được. Ngày nay không những lấy sạch bệnh tích, (hạn chế phá hủy) mà còn tái tạo để phục hồi chức năng nghe và "vá nhĩ "cũng không nằm ngoài tiêu chí đó.

Lưu ý: bài viết đăng trên trang này đều dựa vào nghiên cứu của bác sĩ Nguyễn Văn Hải. Vui lòng không đăng tải lại bài viết mà không có sự đồng ý của bác sĩ Hải.

(Đọc xong bài viết các bạn cần tư vấn hay có điều gì thắc mắc các bạn đừng ngại, thông qua tin nhắn trên facebook bài viết hay gọi trực tiếp số phone: 0983100994), nếu thấy hay và bổ ích nên chia sẽ cho bạn bè nhé, rất cần bình luận về bài viết đó cho tác giả, đây là nguồn động viên lớn, rất chân thành cám ơn ! ( ThS.Bs CK2 Nguyễn văn Hải )

(Nhớ vào "Google / Doctor Hai - Ho Chi Minh City" để xem nhiều bài có liên quan)

Hình 1: Sau này chớ dùng thành ngữ " Đờn gảy tai trâu" nữa nhé !

TẬT CÂM ĐIẾC   Tật câm điếc => là điếc bẩm sinh, rất phổ biến trước đây, ngày nay và sau này vẫn vậy. Bệnh câm điếc nó l...
16/09/2025

TẬT CÂM ĐIẾC







Tật câm điếc => là điếc bẩm sinh, rất phổ biến trước đây, ngày nay và sau này vẫn vậy. Bệnh câm điếc nó là thuật ngữ do thói quen hay dùng nhưng kỳ thật sử dụng đúng phải là điếc câm ( điếc-->câm).

Thật vậy khi con người không nghe được thì không thể hình thành ngôn ngữ-->không thể nói được, muốn nói được thì phải có hai điều kiện bắt buộc đó là ( cần và đủ ):

Đk cần là phải nghe được, nghĩa là sinh lý và giải phẫu tai phải bình thường.

Đk đủ là sống trong môi trường đó phải có tiếp xúc thường xuyên với tiếng người thì mới-->hình thành lên ngôn ngữ một cách hoàn chỉnh.

Nếu vì lý do nào đó mà mất một trong hai đk này thì được gọi là tật câm điếc.

Người là động vật cấp cao nhờ có ngôn ngữ ( tiếng nói ) đề trao đổi và giao tiếp trong cộng đồng mà họ sinh sống nhưng không nghe và không nói được thì đây là điều bất hạnh, không chỉ bản thân họ mà còn là gánh nặng cho gia đình và xã hội vì vậy việc phòng bệnh trong chừng mực nào đó là còn hạn chế, nhưng việc phát hiện sớm là điều quan trọng ngay khi đang ở độ tuổi từ 1-3 ( độ tuổi này hình thành nên ngôn ngữ ) với sự tiến bộ của khoa học ngày nay thì việc hướng đến trả lại sức nghe cho người bệnh-->để có thể hoà nhập như những người bình thường khác là tối cần thiết.

Tai trong bao gồm ốc tai và tiền đình, riêng chức năng nghe của tai trong nằm ở ốc tai-->muốn nghe được tốt thì trong ốc tai không bị khiếm khuyết nó được hình thành--> hoàn chỉnh ngay từ khi còn trong bụng mẹ, trong ốc tai có nhiều các tế bào lông và thạch nhĩ cùng cơ quan Corti nhờ cấu trúc này nên việc dẫn âm của tai trong rất nhạy là vì bằng điện sinh học .

Điếc bẩm sinh hay còn gọi là bệnh “ câm điếc” là điếc tai trong ( ốc tai ), người ta quan sát thấy trên tai họ: các tế bào giác quan của cơ quan Corti bị thoái hoá vô sản hay thâm nhiễm, màng nền bị teo và ốc tai thì không phát triển, xơ hoá các tổ chức thần kinh của mê nhĩ, dây thần kinh ốc tai cũng bị thoái hoá đôi khi mào thính giác và bãi thạch nhĩ cũng bị hư_hỏng.

Điếc bẩm sinh ở trẻ em do các nguyên nhân sau:

- Do di truyền: các nhà khoa học đã tìm ra một loại gen ( PVS ) và chính gen này là thủ phạm, những trường hợp nếu như bố mẹ không mắc “tật câm điếc” nhưng trẻ sinh ra cũng bị, là do cha và mẹ đều cùng mang gen lặn (tổ hợp lặn).

- Ngoài ra gây ra điếc bẫm sinh thì còn có các yếu tố khác tác động vào như: trong quá trình mang thai: mà người mẹ có các bệnh lây nhiễm qua đường tình dục như lậu hay gian mai cũng có nguy cơ cao hoặc như trong 3 tháng đầu của thai kỳ mà người mẹ có nhiễm virus Rubella và một số virus khác-->nguy cơ cao, ví như trong thai kỳ mà người mẹ vô tình có sử dụng một số thuốc như: Streptomycin, Neomecin, Quinine, Arcenic…-->tật bẫm sinh; Các tai biến như trong quá trình chào đời như sinh non, ngạt ( thở ), sinh khó ( sang chấn ), vàng da ( tán huyết ) cũng được đề cập đến.

Bé sinh ra bắt đầu bắt đầu từ 4 tháng thì biết lưu ý đến tiếng động bên ngoài, nên việc cần thử như gõ thìa vào cốc hay khua chùm chìa khoá bên cạnh chúng, nghe được tiếng động thì quay lại, nếu như chúng không có phản ứng thì ta phải lưu ý ngay vì đây là hiện tượng không bình thường, tiếp tục theo dõi sát nếu thấy nghi ngờ thì nên cho cháu khám chuyên khoa, những trường hợp này thì chúng tôi vẫn phải test lại đồng thời khám tìm phản xạ ốc tai_mi mắt ( xem có phản ứng không ), phương pháp này cũng chỉ có giá trị định tính, muốn định lượng chắc chắn chúng tôi cho đo điện ký âm ốc tai, điện thính giác thân não ngoài phát hiện điếc ra chúng tôi còn có thể xác định điếc từng tần số một, cũng như cường độ.

Cần phải phân biệt một số trường hợp như:

Trẻ chậm nói ( nhưng vẫn nghe được và bập bẹ những từ đơn giản ).

Bệnh tự kỷ ( vẫn nghe_nói được nhưng chúng không chịu nói ).

Tinh thần trì độn ( bé có bộ mặt đần độn ) do không có khả năng học nói.

Bệnh mất ngôn ngữ ở trẻ em cũng là trường hợp chậm nói thường kéo dai đến 9-10t mới nói bập bẹ và thường thì có kèm theo rối loạn vận động ( chậm: ngồi__biết đi).

Bệnh điếc lời: em bé nghe được tiếng nói nhưng không hiểu lời do thương tổn ở não-->mất nhận thức thính giác tiên lượng xấu do không thể thích ứng với đời sống bình thường.

Bệnh cấm khẩu do xúc động mạnh bình thường thì vẫn nói được nhưng khi có tác nhân-->bệnh nhân không nói nữa và thường thì thờ ơ với ngoại cảnh.

Điều trị: trong điều trị tật câm điếc thật là khó khăn và phải kiên trì ( chỉ có bằng tình thương thì mới làm được) và tuỳ theo mức độ điếc mà có cách điều trị khác nhau: ví như “điếc vừa” là tập cho em bé bằng cách đọc môi mà phải nói to cho đến khi em bé có thể nghe được rồi bắt chước nói theo, nếu như điếc nặng nên cho bé vào viện câm điếc ( trường khiếm thính ), ở đây người ta dùng máy khuếch đại âm thanh ở tần số thích hợp mà bé cảm nhận được, cũng như dùng phương pháp xúc giác và thị giác để luyện âm.

Ngày nay tiên tiến và cũng là hiệu quả nhất đó là phương pháp cấy điện cực ốc tai ( hiện tại thì giá thành còn cao), nhưng muốn trả lại ngôn ngữ để hoà nhập với đời sống bình thường thì phải phát hiện sớm ( phải dưới 3t ) và nếu được thì có thể sớm hơn nữa thì càng có gia trị.

Phòng bệnh: nên dựa vào các điểm sau:

- chống các bệnh gây ra do truyền trong thời kỳ mang thai như: bệnh Rubella các nhiễm siêu vi khác, giang mai, lậu, nghiện rượu.

- Trong thời kỳ mẹ mang thai trành sử dụng các thuốc mà gây tổn hai đến ốc tai như: Streptomycin, Gentamycin, Quinine…

- Tránh các sang chấn trong sản khoa.

- Tránh các cuộc hôn nhân giữa những người đồng huyết hay cận huyết.

- Tránh hôn nhân giữa những người điếc bẩm sinh, những người đần độn.

Để kết thúc bài viết này tôi muốn đề cập chính là phải phát hiện sớm ngay khi em bé mới vừa chào đời cho đến khi bé 3 tuổi. Theo tâm lý thường thì người ta hay chú ý ngay sau sinh là: “ xem mặt -mũi-miệng hay tứ chi có khiếm khuyết gì không” ( là đủ ), trên thực tế ít ai lưu ý đến vấn đề nghe của hài nhi vì vậy dễ dàng bỏ qua, cho đến khi bé ngoài 3t thì mới phát hiện thì lúc này hốt hoảng tìm đến thầy thuốc thường thì đã muộn.

(Đọc xong bài viết các bạn cần tư vấn hay có điều gì thắc mắc các bạn đừng ngại, thông qua tin nhắn trên facebook bài viết hay gọi trực tiếp số phone: 0983100994), nếu thấy hay và bổ ích nên chia sẽ cho bạn bè nhé, rất cần bình luận về bài viết đó cho tác giả, đây là nguồn động viên lớn, rất chân thành cám ơn ! ThS.Bs CK2.

Lưu ý: bài viết đăng trên trang này đều dựa vào nghiên cứu của bác sĩ Nguyễn Văn Hải. Vui lòng không đăng tải lại bài viết mà không có sự đồng ý của bác sĩ Hải nhưng có thể chia sẽ.

(Nhớ vào "Google / Doctor Hải " để xem nhiều bài có liên quan )

VIÊM MŨI DỊ ỨNG DẪN ĐẾN VIÊM XOANG   “Dị ứng là sự sống” câu nói nổi tiếng này xuất phát từ vị GS – viện sĩ (viện hàn ...
16/09/2025

VIÊM MŨI DỊ ỨNG DẪN ĐẾN VIÊM XOANG







“Dị ứng là sự sống” câu nói nổi tiếng này xuất phát từ vị GS – viện sĩ (viện hàn lâm dị ứng học Paris- pháp). Thật vậy đối với dị ứng thì muôn màu, khi mà cơ thể của con người không chịu một vật chất nào đó mỗi khi ta tiếp xúc thì cơ thể phản ứng lại thông qua cơ quan đích ( mũi,phế quản, da), thường hay gặp: với mũi( hắc xì, chảy mũi, nghẹt…); phế quản( suyễn: do co thắt) và da ( nổi mề đay; chàm ngứa ở da )…

Mũi đóng vai trò là cơ quan tiếp xúc trực tiếp với môi trường bên ngoài thông qua không khí và khi môi trường đó bị “ ô nhiễm” thì cơ thể phản ứng lại ngay để bảo vệ, như là: hắc hơi; chày mũi và nghẹt mũi nhưng vì tích cực (thái quá) các triệu chứng gây cho người bệnh phiền toái và nguy hại hơn hết là biến chứng của nó là viêm xoang.

Nguyên nhân dị ứng thì rất nhiều để dễ hiểu tôi tóm thành ba nhóm chính:

Nhóm thực phẩm: qua đường ăn- uống. Bất cứ thức ăn nào cũng có thể dị ứng tùy theo cơ địa không thích nghi của mỗi người, nhưng hay gặp hơn cả là nhóm đạm lạ như: các loại mắm; M Nêm; M Ruột; M Ruốc, M Đồng; M Mực; M. Ba Khía…Cá: Nục; Ngừ, Ồ, Tôm, Cua, Ghẹ…Câu chuyện có thật: một lần tôi khám cho một bệnh nhân viêm mũi dị ứng, sau khi khai thác hết bệnh sử nhưng không tìm ra nguyên nhân tôi có khuyên nên tránh thức ăn có đạm lạ, họ nói ngay ( Bs ạ! Em ăn những thức ấy thì không việc gì, nhưng khi chuyển qua ăn "chay" là em dị ứng mũi ngay; đúng là bó tay.com).

Nhóm qua đường hô hấp: Bụi phấn hoa, lông thú, bụi nhà, bụi đường, bụi khói, chăn màn chiếu gối… Mùi: thuốc lá, mùi hóa chất, xăng dầu, nước hoa, sách củ, côn trùng- bọ…

Nhóm thời tiết: Chuyển mùa, sáng nắng- chiều mưa, thức khuya- dậy sớm, chuyển vùng đột ngột…

Tam chứng biểu hiện viêm mũi dị ứng là: chảy, hắc xì và nghẹt mũi, trong tam chứng này đáng sợ là nghẹt mũi, vì khi nghẹt mũi thì con đường--> viêm xoang rất nhanh do phản ứng dội ( thay vì dich đỗ ra ngoài)--> dịch đổ qua lỗ thông mũi xoang--> vào xoang--> viêm xoang. Có người viêm mũi dị ứng > 10 năm nhưng chưa bị viêm xoang do họ chỉ hắc xì và chảy mũi, ngược lại có những người viêm mũi dị ứng vài tháng sau đã bị viêm xoang là vì lý do triệu chứng nghẹt mũi trội hơn những triệu chứng khác, vì vậy người thầy thuốc chúng tôi đứng trước bệnh nhân VMDU thường hỏi ngay triệu chứng nào là trội hơn, (nếu không có nghẹt mũi thì yên tâm).

Nguyên nhân của viêm xoang thì có nhiều nhưng ở khuôn khổ bài viết này tôi chỉ đề cập đến viêm xoang do VMDU. Vậy thế nào là viêm xoang (xoang đươc chia hai nhóm trước và sau).

Đau và chảy mũi là hai triệu chứng chính, đau do viêm xoang là đau vùng sọ mặt (thực chất đúng hơn là đau đầu), đau tương ứng với vị trí mà xoang đó bị viêm; Với nhóm xoang trước thì đau vùng má, vùng trán; Với nhóm xoang sau đau: vùng sau gáy, tính chất đau của viêm xoang là đau âm ỉ rất khó chịu, đau theo lối “công chức lười biếng” (đến cơ quan ngồi chơi thì không đau khi phân công việc hay cầm bút suy nghĩ thì đau, cho đến khi bấm chuông tan sở thì hết đau).

Chảy mũi: nhóm xoang trước thì chảy ở khe giữa theo ra cửa mủi trước, tự động chảy một hoặc hai bên thường xuyên phải chậm khăn được gọi là “triệu chứng váy bẩn khăn tay”; nhóm xoang sau thì chảy ở khe trên mũi do gần họng nên chảy ngược ra thành họng sau, bệnh nhân hay khịt khạc, khạc đàm thường buổi sáng màu vàng- xanh hoặc trắng đục, mùi tanh- hôi. Với các triệu chứng trên thì xem như đã viêm xoang, nên đi Bs chuyên khoa khám xem viêm đang cấp hay đã mạn, để được điều trị nội khoa hay quyết định phẫu thuật.

Viêm xoang có nhiều nguyên nhân, những nguyên nhân khác có thể điều trị dứt điểm nhưng do viêm mũi dị ứng thì điều trị rất khó, cho dù giải quyết hết viêm xoang lần này, thì sau đó vẫn tái diễn vì không giải quyết triệt để nguyên nhân của VMDU thì --> dịch vẫn đổ vào xoang--> viêm tái phát.

Ngày nay có phẫu thuật chức năng (FESS) đây là phẫu thuật tiên tiến nhất trong mỗ xoang nó loại bỏ phần tổn thương và giử lại mô lành mà không phải đục phá bỏ như trước đây, ngoài ra nó còn dẫn lưu mũi xoang rất tốt là vì giải quyết được sự thông thoáng trong xoang ( thông thì bất thống, thống thì bất thông), tạm dịch: tắc--> đau, thông thì không đau, cho dù không giải quyết triệt để với nguyên nhân do viêm mũi dị ứng.

Việc phòng bệnh viêm mũi dị ứng(VMDU) cách ly nguồn tiếp xúc là hiệu quả nhất. Trong thức ăn( đừng ăn nó nữa) thì tuyệt nhiên hết ngay nhưng không phải dễ tìm vì cả ngàn loại biết loại nào không chịu; với mùi cho dù có đeo khẩu trang vẫn xuyên qua dể dàng, với thời tiết thì càng khó hơn (có khi phải thay đổi vùng, chỗ ở, hay nghề nghiệp). Ở các nước phát triển họ làm test theo từng nhóm dị ứng, sau đó dùng thuốc giải mẫn cảm nhưng vô cùng tốn kém. Nhưng ở ta tốt hết là sống hòa bình với nó và cách ly nguồn tiếp xúc nếu được và mỗi khi có đợt cấp VMDU kèm nghẹt mũi thì nên đi Bs chuyên khoa khám để được tư vấn hòng tránh biến chứng.

Lưu ý: bài viết đăng trên trang này đều dựa vào nghiên cứu của bác sĩ Nguyễn Văn Hải. Vui lòng không đăng tải lại bài viết mà không có sự đồng ý của bác sĩ Hải. (nhưng có thể chia sẽ cho người thân của bạn).

(Đọc xong bài viết các bạn cần tư vấn hay có điều gì thắc mắc các bạn đừng ngại, thông qua tin nhắn trên facebook bài viết hay gọi trực tiếp số phone: 0983100994), nếu thấy hay và bổ ích nên chia sẽ cho bạn bè nhé, rất cần bình luận về bài viết đó cho tác giả, đây là nguồn động viên lớn, rất chân thành cám ơn ! ThS.Bs CK2.

(Nhớ vào "Google ỏ facebook / Doctor Hải" để xem nhiều bài có liên quan)

VIÊM AMYDAL CẤP- MẠN & CHỈ ĐỊNH CẮT AMYDAL    Viêm Amydal là bệnh lý hay gặp bất cứ lứa tuổi nào nhưng thường gặp hơn là...
16/09/2025

VIÊM AMYDAL CẤP- MẠN & CHỈ ĐỊNH CẮT AMYDAL







Viêm Amydal là bệnh lý hay gặp bất cứ lứa tuổi nào nhưng thường gặp hơn là tuổi thiếu niên và trẻ nhỏ ngoài những đợt viêm cấp người bệnh nuốt đau sốt-> không những ảnh hưởng đến lao động và học tập mà còn tác hại lâu dài đến toàn thân mà biến chứng do nó gây ra.

Như ta biết đối với cấu trúc cơ thể con người không có gì là thừa, thì đối với Amydal cũng vậy nhờ nó mà phát hiện-nhận biết các vật lạ xâm nhập vào cơ thể qua đường Mũi-họng. Đó là vòng “waldeyer”, chức năng của vòng này là bảo vệ thông qua cơ chế miễn dịch hình thành kháng thể đặc hiệu là Gama-Globuline. Nhưng nếu không còn hữu dụng và chính nó gây tác hại ngược lại cho cơ thể ( toàn thân cũng như tại chỗ ) không còn cách nào khác đành phải loại bỏ.

+ VIÊM AMYDAL CẤP: thường gặp sau một đợt nhiễm vi rút thường là cúm, hay nhiễm lạnh hoặc cơ thể giảm sức để kháng thì vi khuẫn hiện hữu các hốc tư nhiên vòm mũi họng hay tại chỗ bộc phát gây viêm cấp hoặc là do Amydal nằm ngay vị trí ngã ba phải tiếp xúc trực tiếp và thường xuyên cũng là điều kiện thuận lợi để vi khuẩn tác động trức tiếp vào gây viêm và vi khuẫn hay gặp là liên cầu, phế cầu, tụ cầu trong đó đáng sợ nhất là liên cầu khuẩn Beta tan máu nhóm A, nó gây ra biến chứng như: thấp khớp cấp--> thấp tim hay viêm cầu thận cấp nhất là độ tuổi thiếu niên. Khi bị viêm cấp thì thường có các dấu hiệu sau: Tại chổ nuốt rất đau kể cả nuốt nước bọt, hơi thở hôi, Amydal sưng phồng đỏ và đặc biệt là trên bề mặt của khối Amydal có những chấm mủ (dể nhận thấy).Toàn thân thì sốt cao, có hạch cổ hai bên, vẽ mặt có dấu hiệu nhiễm trùng cơ thể gầy sút rất nhanh.

+ VIÊM AMYDAL MẠN: Ngoài những đợt viêm cấp như mô tả ở trên thì viêm Amydal mạn tính triệu chứng nghèo nàn. Có hai thể: quá phát và viêm teo, nếu thể quá phát hay gặp ở trẻ em dấu hiệu hay gặp thể này là ngủ ngáy là do khối Amydal hai bên to--> chèn ép dường thở. Người lớn thì gặp viêm teo thường thì không biểu hiện gì thỉnh thoảng có dấu hiệu hôi miệng hoặc từ hốc Amydal đẩy ra cục "bã đậu" bằng nữa hạt gạo màu trắng đục vàng bóp mủn nát và có mùi hôi, tuy vậy thể viêm teo chớ xem thường vì đây là lò viêm mà khi đã là lò viêm lúc nào cũng hiện hữu trong cơ thể buột cơ thể sản sinh ra sức đề kháng để chống lại lò viêm này hơn thế chính lò viêm này chờ khi sức đề kháng giảm thì chúng trổi dậy--> nhiễm trùng toàn thân.

+ CHỈ ĐỊNH CĂT AMYDAL:

Vậy khi nào thì có chỉ định cắt: Bất cứ ở lứa tuổi nào mà gặp phải như mô tả dưới đây:

- Amydal viêm cấp > 3 lần / năm (nuốt đau, sốt, Amydal sưng to xung huyết, trên bề mặt bám đầy những chấm mủ).

- Amydal quá phát thường gặp trẻ em--> ngủ ngáy và ngưng thở trong giấc ngủ.(Tôi đã đề cập trong bài “ngủ ngáy và ngưng thở khi ngủ”.

- Amydal gây ra các biến chứng; tại chỗ: viêm Amydal hốc mủ( viêm teo).

- Abces quanh Amydal; Biến chứng Xa: viêm khớp--> thấp tim hay viêm cầu thận cấp (thường gặp tuổi thiếu niên do liên cầu khuẩn beta tan máu nhóm A).

- Ung thư Amydal.

Trước đây cắt A gây tê tại chỗ nên chỉ định trẻ >10 tuổi (mới có ý thức hợp tác), nó gây đau đớn, mất máu rất nhiều và cũng dễ xảy ra tai biến. Ngày này do trình độ gây mê hồi sức phát triển nên việc cắt Amydal dưới gây mê đã trở thành thường quy, vì vậy bất cứ lứa tuổi nào miễn là đúng chỉ định, hiện nay đã được triển khai tận bệnh viện tuyến huyện(quận), nó gần như là an toàn tuyệt đối, tránh đau đớn cho người bệnh khi đang phẫu thuật, đồng thời hạn chế mất máu do cầm máu tốt và có thể cho bệnh nhân xuất viện trong ngày.

Chế độ (ăn- nói) sau cắt: khi bệnh tỉnh “thuốc mê” có thể nói ngay, ăn thì cứ 2 ngày thay đổi chế độ ăn từ lỏng đến đặc dần, ngày thứ bảy có thể ăn uống bình thường.

Khi đọc bài này bạn đã có kiến thức nhất định về viêm Amydal cấp và mạn tính, nếu gặp phải đúng chỉ định như đã nêu trên thì bạn nên đến gặp Bs chuyên khoa để tư vấn và được chỉ định.

Lưu ý: bài viết đăng trên trang này đều dựa vào nghiên cứu của bác sĩ Nguyễn Văn Hải. Vui lòng không đăng tải lại bài viết mà không có sự đồng ý của bác sĩ Hải.

(Đọc xong bài viết các bạn cần tư vấn hay có điều gì thắc mắc các bạn đừng ngại, thông qua tin nhắn trên facebook bài viết hay gọi trực tiếp số phone: 0983100994), nếu thấy hay và bổ ích nên chia sẽ cho bạn bè nhé, rất cần bình luận về bài viết đó cho tác giả, đây là nguồn động viên lớn, rất chân thành cám ơn ! ( ThS BsCK2 Nguyễn văn Hải )

(Nhớ vào "Google / Doctor Hai - Ho Chi Minh City" để xem nhiều bài có liên quan)

LIỆT MẶT ( TỔN THƯƠNG DÂY VII )   Liệt mặt không phải là hiếm gặp, nó chiếm 3% trong dân số, xuất hiện quanh năm nhưng t...
16/09/2025

LIỆT MẶT ( TỔN THƯƠNG DÂY VII )







Liệt mặt không phải là hiếm gặp, nó chiếm 3% trong dân số, xuất hiện quanh năm nhưng thường vào mùa đông, ở mọi lứa tuổi nhưng càng lớn tuổi thì tỉ lệ mắc cao hơn, không biệt giới tính và khi gặp phải nó người bệnh không bị đe dọa đến tính mạng nhưng gây ảnh hưởng đến một số sinh hoạt thường ngày như: (nhai khó bên liệt, ăn uống bị đổ ra ngoài, mắt nhắm không kín-->các bệnh về mắt do khô mắt…).

Điều quan trọng hơn là mất thẩm mỹ vùng mặt khiến người bệnh thường là rất lo lắng cũng như mặt cảm không dám giao tiếp với mọi người, hòa nhập xã hội trở nên khó khăn hơn vì vậy ảnh hưởng rất lớn đến lao động và học tập.

Dây TK số VII thuộc 12 dây TK sọ não, riêng dây TK mặt (VII) nó xuất phát từ trong sọ não chia làm hai đoạn, đoạn nhân trở lên ( trước ống Fallop) thuộc trung ương “TW” và từ nhân trở xuống ( sau ống Fallop trở ra) thuộc về ngoại biên, dây TK mặt là một dây hổn hợp cảm giác ( 2/3 trước lưỡi và ống tai ngoài) vừa vận động ( các cơ vùng mặt ) và là dây chế tiết (nước bọt, nước mắt…) nó đóng vai trò quan trọng như vậy và đường đi lại dài ngoằn ngoèo chia ra nhiều nhánh, lại đi qua các nơi mà ở đó dễ bị tổn thương, nên trong số12 dây TK sọ não nó là dây dễ bị tổn thương hơn cả và khi tổn thương ở vị trí mà ở đó nó chi phối thì biểu hiện bệnh lý ở vùng đó.

Vì sự phân bố như vậy nên khi tổn thương dây TK VII có hai loại: tổn thương dây VII trung ương và tổn thương dây VII ngoại biên. Tổn thương dây VII trung ương gặp các bệnh nằm bên trong sọ-->chèn ép như: U não, xuất huyết não, nhũn não…Ở đây tôi muốn đề cập đến tổn thương dây VII ngoại biên vì hay gặp hơn cả nó chiếm đến 80-85% phần lớn là do lạnh (co mạch-->chèn ép), do virus Herpes Simplex ( bệnh zona tai), các bệnh lý về tai như: viêm tai giũa mạn tính thể Cholesteatom-->hủy xương-->phá vỡ tường dây VII-->tổn thương TK nằm ở đoạn này, chấn thương tai-->vỡ xương đá, các phẫu thuật mỗ tai cần phải hạ tường dây VII-->tổn thương-->liệt mặt.

Khi bị tổn thương dây VII, triệu chứng đầu tiên mà nhìn thấy là liệt mặt: mặt mất cân xứng do kéo lệch về một bên, mặt bên liệt các cơ vùng mặt không cử động nên cảm xúc không biểu hiên lên nét mặt-->khuôn mặt vô cảm“trông như mặt nạ - mặt mo cau”, mất các nếp tự nhiên như: nếp nhăn trán, rãnh mũi má mất_miệng và nhân trung kéo lệch về một bên lành-->làm các động tác như thổi, hít gió, cười không còn cân đối do miệng kéo lệch về bên lành_mắt nhắm không kín lộ toàn tròng trắng được gọi là dấu hiệu Charle Bell (dương tính)_nói khó nuốt khó ăn uống hay rớt ra ngoài do lưỡi kéo về bên liệt_ cảm giác tê một bên mặt, mất cảm giác 2/3 phía trước lưỡi, giảm hay tăng tiết nước mắt nước bọt.

Chú ý: dấu hiệu dễ nhận biết liệt TW( không có dấu hiệu Charle Bell, nếp nhăn trán còn). Liệt ngoại biên không có (liệt kèm ½ người).

Phòng bệnh: nếu liệt trung ương không có cách phòng bệnh.

Liệt ngoại biên: về mùa lạnh không nên để gió lùa ( khi trong nhà đang ấm mở cửa bước ra ngoài phải được choàng ấm mặt-cổ). Bệnh do virus zona vùng tai (bệnh giời leo) phải được điều trị sớm, các bệnh liên quan đến tai như viêm tai giữa do cholesteatoma ( mủ bóng như xà cừ, thối khẩm) loại này ăn xương rất nhanh-->liệt mặt cần phải mỗ tai sớm (mỗ triệt căn)…

Điều trị: khi xuất hiện liệt mặt thì ngay những ngày đầu (12-48 giờ), nên khám để được điều trị bằng corticoid liều cao, kết hợp thuốc chống virus như Vizorax liều cao, các loại vitamin nóm B và C, các loại thuốc giản mạch như Cavinton…Nếu muộn chuyển qua điều trị đông y như châm cứu cũng được “khuyến cáo” đem lại kết quả tốt.

Tiên lượng: Tùy theo nguyên nhân nhưng phần lớn là do lạnh nếu phát hiện và điều trị sớm trong khoản thời gian vàng (3 ngày đầu) đem lại kết quả tốt thành công 85% trong tuần đầu, nhưng nếu điều trị chậm hoặc không đúng cách thì phải mất từ 3-6 tháng mới hồi phục, riêng Virus--> Zona tai nếu điều trị muộn-->tổn thương vĩnh viễn, chấn thương-->vỡ xương đá nếu đứt không kịp nối ngay từ đầu hoặc phù nề mà không giải phóng chèn ép-->liệt mặt vĩnh viễn…

Lưu ý: bài viết đăng trên trang này đều dựa vào nghiên cứu của bác sĩ Nguyễn Văn Hải. Vui lòng không đăng tải lại bài viết mà không có sự đồng ý của bác sĩ Hải. (nhưng có thể chia sẽ cho người thân của bạn).

( Các bạn cần tư vấn qua tin nhắn trên facebook hay số phone:0983100994), đừng ngại nhé ! Nếu thấy bài viết hay và bổ ích nên rất cần chia sẽ cho mọi người đoc và bình luân về từng bài viết, đây cũng là nguồn động viên lớn cho tác giả ) ( ThS.Bs CK2.Nguyễn văn Hải )

(Nhớ vào "Google ỏ facebook / Doctor Hải" để xem nhiều bài có liên quan)

Address

KHU BIỆT THỰ SONG LẬP, NXLP 58, VINHOMES GRAND PARK, PHƯỜNG LONG BÌNH, Thủ Đức, Hồ Chí Minh
Ho Chi Minh City
70000

Opening Hours

Monday 08:00 - 11:30
14:00 - 20:00
Tuesday 08:00 - 11:30
14:00 - 20:00
Wednesday 08:00 - 11:30
14:00 - 20:00
Thursday 08:00 - 11:30
14:00 - 20:00
Friday 08:00 - 11:30
14:00 - 20:00
Saturday 08:00 - 11:30
14:00 - 20:00
Sunday 08:00 - 11:30
14:00 - 20:00

Telephone

0983100994

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Doctor Hải posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Share

Share on Facebook Share on Twitter Share on LinkedIn
Share on Pinterest Share on Reddit Share via Email
Share on WhatsApp Share on Instagram Share on Telegram

Category

Our Story

Phòng khám chuyên khoa Tai Mũi Họng. Ths Bs CK2 Nguyễn Văn Hải, chuyên nghành thính học. Ông đã có kinh nghiệm hơn 30 năm trong nghành Tai Mũi Họng. Bác sĩ luôn trực tiếp khám và chữa bệnh. Chẩn đoán qua hình ảnh nội soi. Khám người lớn và trẻ em Phục vụ tôt, tư vân tận tình, giá hợp lý. Miễn phi cho cựu chiên binh và con em cựu chiên binh, người già neo đơn.