Lang Thang Tự

Lang Thang Tự Làm điều lợi ích cho mọi người mọi loài và hướng đến sự giác ngộ giải thoát Ý Nghĩ và Việc Làm Phải Gắn liền Với Đạo Đức và Lòng Từ Bi

5 điều suy tư giúp người tu hành thêm tinh tấnMình muốn tinh tấn mà thiếu đề tài suy tư, thiếu lý thuyết, thiếu cẩm nang...
06/04/2022

5 điều suy tư giúp người tu hành thêm tinh tấn
Mình muốn tinh tấn mà thiếu đề tài suy tư, thiếu lý thuyết, thiếu cẩm nang, mình ráng gồng thì sớm muộn gì cũng sụm. Phật biết điều này nên Phật dạy đây là 5 điều suy tư mà một người muốn tinh tấn siêng năng thì phải thường xuyên xem nó như lá bùa hộ mệnh để trong túi, khi nào nó sắp oải, sắp chán, sắp buông, sắp sụm thì lấy 5 điều này ra đốt thành tro nuốt cái ực, còn không thì trong uống ngoài thoa năm điều này.
1 – Niềm tin đúng đắn nơi Đức Phật
Phải hiểu rõ các đức lành tiêu biểu của Phật như:
Tự ngài giác ngộ không thầy; bậc thầy của tất cả chúng sinh; là người có thể tiếp dẫn kẻ hữu duyên, ngài có vô lượng phương tiện để gợi ý cho người hữu duyên được đắc pháp. Tiếp dẫn ở đây không phải hiểu theo nghĩa là tiếp dẫn đạo sư, là phóng quang, rồi có Tràng Phan – Bảo Cái cùng với thánh chúng rước vong mình về cõi Tây Phương, mà tiếp dẫn ở đây có nghĩa là dắt dìu, (chứ đừng đi đồn nói chúng tôi nói Phật Thích Ca Mâu Ni là tiếp dẫn đạo sư, điều này là không có). Cứ nghĩ chừng đó là thấy sung sướng. Nếu mình hiểu Phật pháp tới mức suy nghĩ về ngài như trên.
2 – Phật là người ít bệnh
Ngoại trừ bốn lần trọng bệnh được kể trong kinh, ngài rất hiếm khi bị Se Mình Ương Yếu, có nghĩa là nắng không ưa, mưa không chịu, ghét gió kỵ mù sương, nhảy mũi, hắc xì, trùm chăn, quấn mền, lấy đồ che, sức dầu, mang vớ, áo len trong ngoài..v.v , Phật không bị những thứ đó. Trung bình mỗi ngày, ngài ăn đồ bá gia, họ cho đồ nóng, lạnh, chiên, xào, cà ri..v.v, ngài dùng thanh thản không sao hết. Phật thần thông đầy người, trong 45 năm hoằng đạo Phật đi bộ là chủ yếu, một người có thể lực trung bình thì đã không kham nỗi, nhưng Phật thì không. Bốn lần trọng bệnh của Phật nổi bật là:
1/ Trong kinh nói ngài bị chứng đau lưng suốt đời vì nghiệp quá khứ. Trước khi viên tịch ba tháng có một buổi chiều đó sau khi xả định, ngài thấy lưng đau, ngài nghĩ nghiệp đến đây đã mãn, thôi thì từ đây cho đến ngày ta viên tịch bệnh này đừng bao giờ tái phát nữa. Thế Tôn Chú nguyện như vậy và lập tức kể từ ấy ngài không bị đau lưng nữa.
2/ Có lần đó Thế Tôn gặp khó khăn trong đường bài tiết thì ngài có nói với ông Jīvaka danh y, ông này quí Phật lắm, ông nghĩ Thế Tôn một ngày chỉ ăn có một bữa, bây giờ Thế Tôn phải đưa vật gì vào miệng nuốt, đối với ông chuyện đó ông không muốn, ông thương quí Phật không có bến bờ nào mà kể xiết. Quí vị chỉ nghe mấy vị thầy tả về Phật, mà không nghiên cứu, trên đời này có người quí Phật đến như vậy.
Chẳng hạn như trong kinh nói nhiều lần và rất nhiều lần, Thế Tôn nhìn hội chúng Tỷ Kheo ngồi trước mặt ngài đang im lặng ngài suy nghĩ như sau: “ Nếu ta không phải là người mở lời, thì chúng Tỷ Kheo này dầu có im lặng suốt một đại kiếp, bốn lần thành trụ hoại không của vũ trụ thì họ cũng sẽ im lặng vì lòng tôn kính Như Lai.”
Ông Jīvaka này ông thương kính Phật quá cỡ, ông không nghĩ là ông đưa cho ngài một chén thuốc đắng, ông không can tâm, không đành lòng. Cuối cùng ông nghĩ ra một cách, ông làm một loại thuốc tán thiệt mịn, chính tay ông lựa, kiểm chứng một hoa sen ok nhất từ một hồ hoa sen sạch, ông rắc loại thuốc đó lên dâng cho Phật. Ông nói Thế Tôn chỉ việc cầm hoa sen này ngửi, thì tự nhiên Thế Tôn sẽ được thông đường bài tiết.
Từ chuyện đó mà mình thấy đi đâu cũng nảy ra chuyện Phật cầm bông sen, và diễn dịch nào là Phật cầm bông sen bên Linh Thứu, nhìn đại chúng mĩm cười không ai hiểu, ý là không ai hiểu, rồi hội ý hỏi Thế Tôn, riêng Tôn Giả Ca Diếp mĩm cười và Phật bèn trao truyền chánh Pháp nhãn tạng..v.v. Bên Nam Tông chuyện Phật cầm hoa sen ngửi, chỉ để chữa bệnh bài tiết (bệnh bón).
Còn việc Phật trao y cho ngài Ca Diếp là như vầy: Phật biết đây là người sẽ trì hạnh đầu đà suốt đời và sẽ là tấm gương sáng, gương lành cho tứ chúng mai hậu, cho nên ngài khen y ngài Ca Diếp đang mặc là y tốt, rồi ngài Ca Diếp dâng y đó cho Đức Phật, và Đức Phật nói thế này: “y ta là y thô, nhặt từ ngoài chỗ liệng xác, Ca Diếp không ngại thì lấy mặc” . Quí vị tưởng tượng một vị Chánh Đẳng Chánh Giác đích thân tự tay nhặt y đó về vò giặt, đệ nhất thị giả Anānda đem đi cắt may nhuộm, thì quí vị tưởng tượng lá y đó nó lớn chuyện cỡ nào. Ngài Ca Diếp không còn lý do nào mà không trân quí vô bờ đối với lá y đó. Ngài nhận y đó và phát nguyện: “từ nay cho đến con không còn thở nữa, con chỉ xài loại y này thôi, lá y Thế Tôn trao cho con có mục nát đi nữa, thì con cũng tìm một lá y khác từ ở tha ma mộ địa, vải lượm con mặc, chứ con không mặc của tín thí cúng dường may sẵn”. Thì từ chuyện đó mà qua cái chuyện Đức Phật trao y bát tùm lum. (Mình không bàn nhiều về chuyện đó ).
3/ Có một buổi chiều trước khi viên tịch ngài xả định, buổi trưa nào ngài cũng dưỡng sức bằng nhập định, có hai loại đinh: 1/ quả định ngài an trú vào tâm quả La Hán suốt một giờ, hai giờ, ba giờ, tuỳ theo ngài muốn. 2/ là ngài trú vào không tướng, an trú trong đề mục niệm xứ, thở ra biết thở ra, thở vào biết thở vào, ở đây chỉ có bốn đại, ở đây chỉ có ý thức, ở đây không hề có một người một chúng sanh thọ giả nào hết. Đó gọi là không tánh giải thoát, ngài thường an trú vào hai cái này.
Sau khi ngài xả định xong, lập tức ngài nhận ra có một cơn bạo bệnh đang diễn ra trong cơ thể của ngài, và ngài biết chắc chắn mười mươi với chứng bệnh này ở người bình thường là chết ngay lập tức, ngài biết nếu bây giờ ngài không dùng thiền định kềm lại thì ngài phải viên tịch. Cho nên Thế Tôn suy nghĩ rất nhanh ta không thể đi ngay bây giờ và ngày dùng thiền định kềm lại, tiếp tục trụ thế thêm vài tháng nữa.
4/ Ngài bị kiết lị nặng nề trước khi xả bỏ Thọ Hành là ayusankhara avassaji, có nghĩa là xả bỏ mạng sống, không còn có ý tiếp tục sinh tồn nữa, tại vì với lòng tôn kính Thế Tôn, với chư Phật nói chung, chuyện qua đời, từ trần, khuất núi, quá vãng được dùng từ rất sang đó là ayusankhara avassaji, Xả bỏ mạng sống.
Giống như ngoài đời vua mất người ta gọi là Băng Hà. Mỗi lần ông vua kêu mấy cung tần vô hầu thì gọi là Triệu Hạnh, tắt đèn sụp mùng thì gọi là Lâm Hạnh, ăn gọi là Ngự Thiện. Gọi vậy cho sang.
Trong ngôn ngữ Thái Lan có ba dòng ngôn ngữ: 1/ là ngôn ngữ bình dân, bất chấp văn tự, xài tiếng lóng tha hồ, dân ngành cá, dân tiểu thương, dân làm ruộng đều có tiếng lóng riêng. 2/ là ngôn ngữ sử dụng trong văn chương sách vở, kinh điển đặc biệt là giới tu sĩ và dân trí thức, dân bình dân nghe cũng hiểu mà chỉ hiểu lốm đốm. 3/ là cách nói tiếng Thái dành riêng cho giới hoàng gia, tiếng Thái cũng cầu kỳ như vậy. Tiếng Mỹ có hai là: Formal and informal, formal English, tức là thứ tiếng chuẩn Academic English dùng trong trường lớp dành cho mấy người có học, và thứ hai là formal English, chữ Slang dùng nhiều tiếng bồi tiếng lóng. Chỉ vậy thôi, Formal and informal.
Thế Tôn ngoài những lần trọng bệnh này, chính ngài cũng nhìn nhận là ngài ít bệnh.
3 – Phật là người trung thực nhất đời
Phật là người trung thực nhất đời, nói sao làm vậy, trước mặt muôn người, hay về rừng núi một mình cũng chỉ có một cách sinh hoạt duy nhất.
4 – Sự tinh tấn của Đức Phật
Mỗi lần mình nhớ đến Thế Tôn mình cũng nghĩ ngài là người ít bệnh, ngài là người khỏe mạnh mà còn tinh tấn, trong khi mình èo uột như thế này mà không chịu tinh tấn để tu tập thì tệ quá. Thế Tôn trừ ra những ngày mưa lớn, nếu trời không mưa lớn, chỉ mưa lâm râm, Thế Tôn vẫn phải duy trì thông lệ là đi kinh hành ngoài trời mỗi đêm tiếng Pāḷi gọi là abbhokasa, tức là ngoài trời trống.
Phật là người suốt đời tinh tấn dù không còn gì để thành tựu nữa, vẫn luôn sống năng động như một hành giả thượng thừa. Loại hành giả sơn lam chướng khí ma thiên nước độc, đói không có ăn, lạnh không có mặc, ngủ không chỗ nằm, mưa nắng không có mái che, thì đó gọi là hành giả thượng thừa, thì Thế Tôn y chang như vậy. Thế Tôn là một vị tinh tấn không ngừng, quí vị tưởng tượng sáng nào cũng đi khất thực, buổi chiều thuyết pháp cho tứ chúng, buổi tối nói chuyện riêng nhắc nhở chư tăng, khuya gặp gỡ trả lời chư thiên phạm thiên, trời rạng sáng ngài dùng Phật trí soi rọi vô lượng vũ trụ xem hôm nay ai là người đủ duyên lành để ngài gặp mặt.
Đối tượng để ngài gặp mặt gồm có hai: 1/ người chứng đạo kiếp này, là ngài biết hôm nay ngài sẽ gặp người đó sẽ đắc cái này, cái kia, hoặc vài tháng, vài năm nữa họ cũng sẽ đắc, người sẽ nhờ hôm nay mà có thêm duyên phước. Đó là đắc đạo kiếp này. 2/ hạng thứ hai gặp, ngài sẽ biết họ là vị Phật tương lai, Độc Giác tương lai, Thinh Văn tương lai, hôm nay nếu họ gặp ngài là ngài đã đẩy cho họ một bàn tay để họ đi về phía trước nhanh hơn.
Với lòng đại bi của chư Phật, thương ai như mẹ thương với đứa con một duy nhất. ekaputta=con một.
5 – Phật là người có trí tuệ rốt ráo về tánh sanh diệt của vạn hữu
Cái gì cần làm thì làm nhưng luôn hiểu, cái gì cũng không còn hoài. Nếu trong room này làm được điều thứ 5 cũng đủ là một hành giả thượng thừa, cũng đủ là một Phật tử thượng thừa, cũng đủ hoàn tất đạo nghiệp giải thoát.
Tức luôn luôn ý thức rất rõ tính tùy duyên sanh diệt của mọi thứ ở đời, tuy nhiên, biết mọi thứ không bền nhưng chuyện cần làm thì phải làm, chứ không phải thấy cái gì mong manh rồi không làm là sai, cái đó không phải là thái độ của người hiểu chuyện. Người hiểu chuyện thật sự là một bậc thánh thì họ đặc biệt chỗ này: thấy nó là phù du, nhưng chuyện cần làm vẫn làm, thấy ai cần độ thì độ, ai cần gặp thì gặp, chuyện nên nói thì nói, cần bận tâm thì cũng bận tâm rồi xong.
Như Ngài Ca Diếp, lúc Phật viên tịch, ngài Ca Diếp cũng già, trong kinh nói rất rõ, lúc Phật gần tịch, ngài Ca Diếp có về lạy Phật. Đức Phật có dạy: “năm nay Ca Diếp đã lớn tuổi về sống với Như Lai, đừng khổ cực trên núi rừng nữa”.
Ngài Ca Diếp quỳ lạy Phật: “Bạch Thế Tôn con còn đi bộ được, ống chân con còn mạnh còn đi khất thực được, con muốn dùng sức tàn của thân già này làm gương lành cho kẻ hậu học đời sau, và từng bước chân khất thực của con, còn giúp được cho bao nhiêu người khác nữa, tạm thời con chưa muốn về bên cạnh Thế Tôn. Chuyện Thế Tôn kêu con, thì Thế Tôn biết con sẽ làm gì”.
Trong kinh Tương Ưng khi giảng về ngài Ca Diếp đặc biệt lắm, bậc thánh là như vậy, hiểu đời là phù du sương khói, chuyện cần làm thì phải làm, như một người mẹ già sống không còn bao lâu nữa, chuyện cần làm cho con thì mẹ vẫn làm.
Còn mình lại khác, khi mình không có tình với người, với vật, với cảnh, khi mình sắp đi thì mình xả rác một đống rồi bỏ đi. Đó là kiểu hạ nhân của mình , còn bậc thượng nhân thì sống như mẹ với con, người mẹ già biết mình sắp mất còn quét sân thì cũng quét cho con, nhuốm bếp lửa cho con cũng làm, biết lát nữa đây mình cũng đi rồi, nhưng hễ làm được gì cho con thì vẫn làm, lòng Phật đối với đời là như vậy đó quí vị.
Suy tư năm điều này khiến cho hành giả thêm bội phần tinh tấn.
Sư Giác Nguyên
Chép lại bài giảng của Sư 18-9-2018
Nguồn: Diệu Trí

7 Bài Học Làm NgườiĐại sư Tinh Vân có một người đệ tử, sau khi tốt nghiệp đại học liền học thạc sĩ, rồi lại học tiến sĩ,...
13/09/2021

7 Bài Học Làm Người

Đại sư Tinh Vân có một người đệ tử, sau khi tốt nghiệp đại học liền học thạc sĩ, rồi lại học tiến sĩ, sau nhiều năm đèn sách cuối cùng cũng đã hoàn thành luận án tiến sĩ nên vô cùng mừng vui.
Một hôm người đệ tử này trở về, thưa với Đại sư. Thưa thầy nay con đã có học vị tiến sĩ rồi, sau này con phải học những gì nữa? Ngài Tinh Vân bảo: Học làm người, học làm người là việc học suốt đời chẳng thể nào tốt nghiệp được.

Thứ nhất, “học nhận lỗi“. Con người thường không chịu nhận lỗi lầm về mình, tất cả mọi lỗi lầm đều đổ cho người khác, cho rằng bản thân mình mới đúng, thật ra không biết nhận lỗi chính là một lỗi lầm lớn.

Thứ hai, “học nhu hòa“. Răng người ta rất cứng, lưỡi người ta rất mềm, đi hết cuộc đời răng người ta lại rụng hết, nhưng lưỡi thì vẫn còn nguyên, cho nên cần phải học mềm mỏng, nhu hòa thì đời con người ta mới có thể tồn tại lâu dài được. Tâm nhu hòa là một tiến bộ lớn trong việc tu tập.

Thứ ba, “học nhẫn nhục“. Thế gian này nếu nhẫn được một chút thì sóng yên bể lặng, lùi một bước biển rộng trời cao. Nhẫn, vạn sự được tiêu trừ. Nhẫn chính là biết xử sự, biết hóa giải, dùng trí tuệ và năng lực làm cho chuyện lớn hóa thành nhỏ, chuyện nhỏ hóa thành không.

Thứ tư, “học thấu hiểu“. Thiếu thấu hiểu nhau sẽ nảy sinh những thị phi, tranh chấp, hiểu lầm. Mọi người nên thấu hiểu thông cảm lẫn nhau, để giúp đỡ lẫn nhau. Không thông cảm lẫn nhau làm sao có thể hòa bình được?

Thứ năm, “học buông bỏ“. Cuộc đời như một chiếc vali, lúc cần thì xách lên, không cần dùng nữa thì đặt nó xuống, lúc cần đặt xuống thì lại không đặt xuống, giống như kéo một túi hành lý nặng nề không tự tại chút nào cả. Năm tháng cuộc đời có hạn, nhận lỗi, tôn trọng, bao dung, mới làm cho người ta chấp nhận mình, biết buông bỏ thì mới tự tại được!

Thứ sáu, “học cảm động”. Nhìn thấy ưu điểm của người khác chúng ta nên hoan hỷ, nhìn thấy điều không may của người khác nên cảm động. Cảm động là tâm thương yêu, tâm Bồ tát, tâm Bồ đề; trong cuộc đời mấy mươi năm của tôi, có rất nhiều câu chuyện, nhiều lời nói làm tôi cảm động, cho nên tôi cũng rất nỗ lực tìm cách làm cho người khác cảm động.

Thứ bảy, “học sinh tồn”. Để sinh tồn, chúng ta phải duy trì bảo vệ thân thể khỏe mạnh; thân thể khỏe mạnh không những có lợi cho bản thân, mà còn làm cho gia đình, bạn bè yên tâm, cho nên đó cũng là hành vi hiếu đễ với người thân.
Nguồn sưu tầm.

LỜI THẦY DẠY.Trước khi qua đời, một Thiền Sư dạy thị giả rằng:“Con à, có những điều thầy mong con ghi nhớ:1. Đừng biến c...
19/11/2020

LỜI THẦY DẠY.

Trước khi qua đời, một Thiền Sư dạy thị giả rằng:

“Con à, có những điều thầy mong con ghi nhớ:

1. Đừng biến chùa thành cơ sở từ thiện có quy mô lớn. Vì làm thiện chưa chắc đã được người khác ủng hộ. Mà trái lại sẽ gây phiền phức cho con. Bởi họ nghĩ con có nhiều tiền sẽ tìm cách tranh đoạt.

2. Đừng giao du với quan chức, mà hãy hướng dẫn họ tu tập. Sa Môn bất kính vương giả. Nếu trái lại, con sẽ rơi vào cảnh tranh chấp kết quả là “cây ngã, bìm khô”.

3. Đừng lệ thuộc vào sự cúng dường của tín đồ Phật tử. Phải giữ lòng tự trọng trước những nhà giàu có. Vì lòng đại bi mà nói Pháp cho họ nghe. Chớ để cho danh, lợi, ái kiến cám dỗ. Muốn tồn tại phải tự lực.

4. Đừng biến chùa thành nghĩa trang và cả đời con chỉ loanh quanh trong việc độ đám. Đạo Phật là để giác ngộ và đem lại hạnh phúc cho chúng ta ngay trong thực tại. Hãy dạy cho Phật tử thấy rõ lý vô thường, vô ngã để buông xả bám chấp. Riêng con đừng lấy phương tiện làm cứu cánh.

5. Đừng ham chùa có đông đồ chúng, nên lấy lục hoà làm trọng. Đông người mà không tu tập sẽ dẫn đến phe phái tranh chấp. Ngoại đạo trà trộn vào con không kiểm soát được. Tốt nhất nên ẩn cư.

6. Đừng cố gắng chen chân vào bất kỳ tổ chức tôn giáo, thế tục nào để dành cho mình một cái ghế hay chỉ khẳng định đời tu mình bằng học vị. Những thứ ấy là nguyên nhân của sự sa đọa vì xem trọng danh lợi. Đối trước sanh tử. Con không thể lấy bằng cấp hay địa vị ra trình với Diêm Vương.

7. Đừng biến chùa thành khu du lịch, đông người đến sẽ ô hợp mất thanh tịnh. Chỗ nào có lợi ích là chỗ đó sẽ bị chiếm hữu. Hãy cố gắng gầy dựng ngôi chùa thành một đạo tràng thuần tuý tu học. Còn những việc khác con phải xem là thứ yếu!

Dặn dò xong, Thiền Sư viên tịch. Thị giả theo di nguyện của thầy, sư tiếp tục ẩn cư. Trước khi tịch, sư để lại bài kệ:

“Pháp vốn không gốc, ngọn.
Không pháp cũng không tâm
Sống chết sương ngọn cỏ
Thẳng tới đất vô sanh.”

Lý Diện Bích.

____________________________

Điều mà một vị tu hành cần ghi nhớ.

____________________________

CUỐC XE ÔM.. NHỚ ĐỜI..!9 giờ tối.. tại bến xe Xa Cảng Miền Tây...!Xách túi đồ bước xuống xe đò.. nhận ngay một cái níu t...
04/11/2020

CUỐC XE ÔM.. NHỚ ĐỜI..!

9 giờ tối.. tại bến xe Xa Cảng Miền Tây...!

Xách túi đồ bước xuống xe đò.. nhận ngay một cái níu tay.. tui quay lại.. chú xe ôm đứng cong người nài nỉ :

- Đường giờ này mát mẻ lắm.. con đi giúp chú cuốc xe nha.. ai thấy chú tật nguyền như vầy cũng ngại đi.. nên chú chạy ế lắm.. con yên tâm đi.. chú chạy được mà.. và chạy cẩn thận lắm đó..!

- Dạ được rồi.. con đi..!

Đoạn đường hơn chục cây số từ Bến xe về Tao Đàn.. tui đã được nghe một câu chuyện đời.. một câu chuyện đến tái lòng..!

Chú 58 tuổi.. nhà ở quân 7.. cứ 5 giờ chiều chú ra bến xe chạy đến 5 giờ sáng hôm sau.. Trời ráo hay mưa.. chú không dám nghỉ ngày nào.. mỗi đêm có khi kiếm được trăm mấy hai trăm.. mỗi tháng phải đóng tiền bến hết chín trăm..!

Vợ chú đi nấu cơm CA phường.. lương có triệu mốt.. nhưng được cái họ hay bỏ bữa.. cô mang thức ăn về.. nhà khỏi đi chợ.. cô đòi đi kiếm chỗ làm thêm chú không cho.. chú nói một mình chú cực là được rồi.. mình là đàn ông.. cỡ nào cũng phải sống để lo cho gia đình..!

Tui bắt đầu thấy ngưỡng mộ chú sau câu nói này..!

Dù bạn bè đang đợi tui ở nhà.. nhưng kệ trễ hẹn cũng không sao vì tui đã bị cuốn vào câu chuyện của chú nên nghĩ mình cũng không cần vội.. tới đường Thuận Kiều.. thấy vai chú run run.. tui hỏi.. chú nói cái chân bị tật của chú hễ trời lạnh lại nhức.

- Thôi chú dừng xe lại đi.. để con chở cho..!

- Đâu có được.. ai làm vậy được con..!.. chú không sao đâu.. ráng chạy chút nữa.. về bóp dầu là hết mà..!

- Chú sợ con cướp xe hả..? Xe chú cà tàng lắm rồi nha.. con sẽ đưa túi xách con cho chú đeo nè.. chú dừng xe lại đi..!

Tui cũng chạy chầm chậm như chú.. thanh thản như đang chở Ba mình đi dạo mát..!

Ngồi sau lưng tui.. chắc ấm được chút đỉnh.. chú trải lòng hơn.

Chú khoe hồi trẻ.. Vợ chú đẹp lắm.. con gái Cai Lậy mà.. cô lên Saigon ở mướn cho nhà chủ mà chú đang làm bảo vệ ở đó.. Ba Má cô đâu có chịu chú.. bởi họ chê chú mồ côi mà lại còn nghèo nữa.. sợ cô khổ khi về với chú.. nhưng cô hỏng sợ.. cô bỏ nhà theo chú.. thế là Ba Má cô từ con gái..!

- Chú biết cô thương chú lắm nên chú muốn cô được sung sướng.. mà muốn vậy thôi chứ tới bây giờ cô cũng chưa được sướng ngày nào con ơi..!

- Sướng chứ chú.. làm lụng thì ai cũng phải làm thôi.. chỉ cần có người chồng thương mình là được rồi..!

- Thiệt hong con..?

- Hổng tin.. bữa nào chú về hỏi cô đi..!

Rồi chú khoe có hai thằng con.. thằng lớn 20t.. thằng nhỏ 13t.. đứa nào cũng rất ngoan.

- Em lớn đang còn đi học.. hay đi làm rồi chú..?

- Nó học giỏi lắm con.. học năm 3 Đại học Sư Phạm.. mà nó đẹp trai lắm à nha.. nó có hiếu lắm.. hong bao giờ dám xài tiền..!

- Nhìn chú con cũng nghĩ hồi trẻ chú cũng đẹp trai mà..!

- Ừ.. thì…...

Tự nhiên chú ấp úng trong lời nói như nghèn nghẹn...
Câu chuyện còn đang dang dở.. thì đã tới nơi.. xuống xe.. chú nói bớt 20 ngàn cho cái công tui đã chở chú.

- Chú bớt phân nửa luôn đi.. hehe..!

- Sao cũng được mà con..!

Trả tiền cho chú.. tui dắm dúi một ít vô tay chú.. dặn dò :

- Chú về mua cho cô cái áo mới đi.. áo màu tím nghen chú.. con tin là cô sẽ thích.. mà cũng phải mua thêm cho chú một cái nữa.. cô mặc áo đẹp mà áo chú thì cũ quá hong có xứng đâu nha.. mà quên nữa.. hai thằng nhỏ.. mỗi thằng một cái nữa nhe chú..!

Cúi sát nhìn vào số tiền tui vừa đưa.. tay chú run lên.. chú níu tay tui.. tui ghẹo thêm :

- Tính cám ơn con nữa hay gì đây.. thôi khỏi.. mai mốt có gặp lại con.. chú chở rẻ cho con là được rồi ha.. hehe..!

- Hỏng có.. hồi nãy chú hỏng dám kể hết.. thằng con lớn của chú đó.. tại chú.. nhớ nó quá nên chú tưởng tượng ra vậy thôi.. chứ.. sau khi thi đậu Đại học.. nó bị tai nạn.. nó mất rồi con ơi.. tới giờ.. mà chú còn chưa tin là nó đã chết.. con yên tâm.. chú sẽ lấy tiền này mua cái áo mới.. để lên.. bàn thờ cho nó..!
-----
Nguồn: Hồng Thái I

Tương lai của mỗi con người, mỗi tổ chức mỗi quốc gia và cả hành tinh này sẽ ra sao trong giai đoạn sắp tới là tùy thuộc...
18/10/2020

Tương lai của mỗi con người, mỗi tổ chức mỗi quốc gia và cả hành tinh này sẽ ra sao trong giai đoạn sắp tới là tùy thuộc vào thái độ ứng xử, nhìn nhận và thức tỉnh của từng cá nhân, từng tổ chức, từng quốc gia đó tạo nên. Nếu muốn thay đổi cần khởi đầu bằng việc nhận thức, chuyển đổi tâm thức, lan tỏa yêu thương và chia sẻ sự hiểu biết từ mỗi người chúng ta trước.
Nhân quả đừng đợi thấy mới tin. Nhân quả là bản chỉ đường, giúp con người tìm về thiện lương.

- Trích " Muôn kiếp nhân sinh" - Nguyên Phong -


Có hai động lực điều khiển đời sống con người: Lòng tham và tình thương.Lòng tham dẫn điến việc sử dụng tất cả mọi thứ, ...
16/10/2020

Có hai động lực điều khiển đời sống con người: Lòng tham và tình thương.
Lòng tham dẫn điến việc sử dụng tất cả mọi thứ, kể cả bạo lực, để chiếm lấy cái mình muốn. Tình thương thì khác, nó chỉ biết cho đi chứ không đòi hỏi gì hết.
- Trích " Muôn kiếp nhân sinh" - Nguyên Phong -


Đừng mong mỏi hay đòi hỏi được đền đáp điều gì. Nên là người cho đi, nên là người giúp đỡ người khác, thương yêu tất cả,...
14/10/2020

Đừng mong mỏi hay đòi hỏi được đền đáp điều gì. Nên là người cho đi, nên là người giúp đỡ người khác, thương yêu tất cả, dù bị lường gạt cả trăm lần. Đừng kể những điều tốt đã làm, đừng nhắc những gì đã cho, đừng chờ đợi ai trả ơn, đừng cố muốn có những gì không thuộc về mình, và hãy vui tươi thanh thản, sống như thế thì sẽ hạnh phúc thực sự.
- Trích " Muôn kiếp nhân sinh" - Nguyên Phong -

Từ Nhân Duyên cát bụi thành ngườiĐừng để vô thường đến mình ra đi mà chưa làm được gì lợi ích cho người cho mình."ĐỪNG D...
09/01/2020

Từ Nhân Duyên cát bụi thành người
Đừng để vô thường đến mình ra đi mà chưa làm được gì lợi ích cho người cho mình.

"ĐỪNG DỂ DUI TRONG CÁC DỤC."
Biết dừng đúng lúc cũng là một nghệ thuật của cuộc sống.
Nam Mô A DI Đà Phật.



🌱🙏🙏🌹🌱🙏🙏🌹🌱🙏🙏🌹
_______________________________
Tích Truyện Pháp Cú 47

Người nhặt các loại hoa ...

Thế Tôn dạy câu này ở Xá-vệ do câu chuyện vua Lưu Ly (Vidùdabha) cùng binh lính bị lũ lụt cuốn chết.

Tại Xá-vệ có hoàng tử Ba-tư-nặc con vua Kosala, tại Tỳ-xá-ly có hoàng tử Mahàli thuộc dòng Lệ-xá, tại Câu-thi-na có hoàng tử Bandhuala con vua nước Mallas. Cả ba đều đến một vị thầy lỗi lạc ở thành Hoa Thị để học tập. Tình cờ gặp nhau trong một quán trọ ngoại thành, họ hỏi thăm nhau lý do đến đây, tên tuổi, dòng họ, và sau đó họ kết bạn với nhau. Họ cùng học chung một thấy, chẳng bao lâu sở đắc nhiều học thuật, họ rời thầy cùng lên đường về nhà.

Ông hoàng Ba-tư-nặc đã làm vua cha mãn nguyện với tài nghệ của mình nên được truyền ngôi. Ông hoàng Mahàli thì tận tụy giáo hóa các ông hoàng Lệ-xá đến nỗi mù mắt. Các ông hoàng đồng lòng cấp dưỡng cho ông, và ông tiếp tục dạy năm trăm ông hoàng Lệ-xá nhiều môn học thuật khác nhau. Riêng ông hoàng Bandhuala thì bị các ông hoàng dòng Mallas thách thức bảo chặt những bó tre gồm sáu mươi cây tre, mỗi bó có chèn thêm một thanh sắc vào giữa và được treo lơ lửng trên không. Bandhula nhảy cao tám mươi cubits (khuỷu tay) dùng kiếm chém. Khi chặt đến bó cuối, nghe tiếng sắt lách cách ông không biết tại sao, và khi hiểu tự sự ông quăng kiếm bặt khóc, trách bà con và bạn bè chẳng ai báo cho ông biết, vì nếu biết, ông sẽ có cách chặt mà không làm cho miếng sắt kêu. Xong ông thưa với cha mẹ ông xin giết hết các ông hoàng Mallas, và sẽ thay họ cai trị dân. Cha mẹ ông ngăn cản với lý do là vương quốc phải được cha truyền con nối và dùng mọi cách thuyết phục ông bỏ ý định này. Ông bèn bỏ đi đến Xá-vệ sống với bạn mình.

Vua Ba-tư-nặc nghe tin đón ông vào thành với vinh dự đặc biệt, và tấn phong chức thống lãnh quân đội. Bandhula cho mời cha mẹ đến và ngụ luôn tại Xá-vệ.

Một hôm, vua Ba-tư-nặc đứng trên sân thượng nhìn xuống đường, thấy hàng ngàn Tỳ-kheo đi thọ thực về hướng nhà ông Cấp Cô Ðộc, tiểu Cấp Cô Ðộc, Tỳ-xá-khư và Suppavàsà. Vua ngạc nhiên hỏi và khi biết rằng mỗi ngày có hai ngàn Tỳ-kheo đến nhà ông Cấp Cô Ðộc, năm trăm đến nhà ông Tiểu Cấp Cô Ðộc và cũng khoảng số đó đến nhà của Tỳ-xá-khư và Suppavàsà để nhận cúng đường thức ăn, thuốc men và nhiều thứ khác, vua cũng muốn cúng đường nên đến tinh-xá thỉnh Phật và một ngàn Tỳ-kheo đến hoàng cung thọ thực. Vua dâng cúng bảy ngày và đến ngày cuối đảnh lễ và thỉnh Phật với năm trăm Tỳ-kheo tiếp tục thường xuyên đến thọ thực. Vì chư Phật không bao giờ đến thọ thực thường xuyên một chỗ, nên Thế Tôn cử trưởng lão A-nan dẫn Tăng Chúng.

Trong bảy ngày, nhà vua đích thân sớt bát cho chúng Tăng, không cho phép ai làm thế. Ðến ngày thứ tám vua xao lãng bổn phận. Các Tỳ-kheo đến cung vua thọ trai nghĩ rằng vua không hạ lệnh cho ai làm thế nên không có ai lo chỗ ngồi và phục vụ chúng Tăng. Nhiều vị bỏ đi. Ngày kế tiếp cũng vậy và thêm một số nữa ra đi. Ðến hôm sau nữa, các Tỳ-kheo đi hết trừ Trưởng lão A-nan.

Những người thực sự hằng sống với chánh kiến thì làm chủ được mọi tình huống để giữ vững niềm tin cho thí chủ. Thế Tôn có hai đệ tử tăng nòng cốt là Trưởng lão Xá-lợi-Phất và Mục-kiền-liên, hai ni nồng cốt là Khemà và Liên Hoa Sắc, hai nam cư sĩ nồng cốt trưởng giả Citta và Hatthaka Alavaka, hai nữ cư sĩ nồng cốt Velukantakì, mẹ của ngài Nan-đà và Khujjutarà. Tóm lại, tất cả những môn đệ, bắt đầu với tám vị này, những vị nào đã lập nguyện, đã viên mãn Thập độ Ba-la-mật và như thế là những bậc đại công đức. Trưởng lão A-nan cũng vậy, đã lập nguyện, đã viên mãn Thập độ suốt một trăm ngàn kiếp, và đã là một bậc đại công đức. Do đó Ngài không sờn lòng trước bất cứ cảnh nào, và đã ở lại để giữ tín tâm cho nhà vua. Như vậy, chỉ một mình ngài A-nan được dâng chỗ ngồi và cúng đường.

Mãn giờ thọ trai, vua đến và thấy thức ăn còn nguyên chưa đụng đến, bèn hỏi lý do. Ðược biết các Tỳ-kheo đã về hết, ngoại trừ ngài A-nan, ông giận dữ thấy sự thiệt hại và đến ngay Phật thưa:

- Bạch Thế tôn, con đã chuẩn bị cho năm trăm Tỳ-kheo mà hiện giờ chỉ có một mình ngài A-nan. Thức ăn còn nguyên không ai đụng đến, mà không thấy bóng dáng các Tỳ-kheo tại hoàng cung. Xin Thế tôn cho con biết lý do.

Ðức Phật không quy lỗi cho các Tỳ-kheo, chỉ trả lời:

- Ðại vương, đệ tử của Ta không tin cậy nơi Ðại vương. Ðó là lý do họ không đến.

Rồi Phật dạy các Tỳ-kheo trong những điều kiện nào các Tỳ-kheo không bắt buộc phải đến nhà thí chủ, và điều kiện nào thích đáng để các Tỳ-kheo nên đến, trong bài kinh như sau:

- Này các Tỳ-kheo, một gia đình thí chủ nếu có chín điểm không đủ tư cách thì Tỳ-kheo không nên đến viếng. Như vậy Tỳ-kheo không đến viếng gia đình ấy vì họ không có bổn phận phải đến. Nếu họ có đến thăm thì cũng không có bổn phận phải ngồi lại. Chín điểm ấy là gì? Ðó là:

1) Người trong gia đình không đứng lên đón các Tỳ-kheo một cách vui vẻ.
2) Họ không chào mời các Tỳ-kheo một cách vui vẻ.
3) Họ không mời ngồi một cách vui vẻ.
4) Họ giấu giếm những gì họ có.
5) Có nhiều, cho ít.
6) Có thức ăn thượng hạng, cho thức ăn tồi tàn.
7) Thay vì cúng dường một cách tôn kính, họ cúng dường một cách vô lễ.
8) Họ không ngồi nghe pháp.
9) Họ không nói chuyện với giọng hoan hỷ.

Ngược lại, một gia đình có chín điểm đủ tư cách thì có quyền nhận sự thăm viếng của các Tỳ-kheo. Các Tỳ-kheo chưa đến gia đình ấy thì nên đến, đã đến rồi thì nên ngồi. Chín điểm ấy là gì?

1) Họ đứng lên để gặp các Tỳ-kheo một cách vui vẻ.
2) Họ chào hỏi một cách vui vẻ.
3) Họ mời ngồi một cách vui vẻ.
4) Họ không giấu diếm những gì họ có.
5) Có nhiều, cho nhiều.
6) Có thức ăn thượng hạng, cho thức ăn thượng hạng.
7) Họ không cúng dường một cách vô lễ. Họ cúng dường một cách tôn kính.
8) Họ ngồi nghe pháp.
9) Họ nói chuyện với giọng hoan hỷ.

Phật nói tiếp:

- Ðại vương, vì lý do này đệ tử của Ta thiếu lòng tin nơi ông, vì lý do này họ đã không đến. Ngay cả những bậc minh triết thuở xưa ở nhằm một nơi không an vui, tin tưởng, dù được phục vụ đầy đủ vẫn bị khổ sở đến lâm trọng bệnh, phải bỏ đến một nơi lòng họ thấy an vui, tin cậy.

Vua hỏi chuyện xảy ra lúc nào, Thề Tôn kể lại:

Chuyện quá khứ:

3A. Kesava, Kappa, Nàrada Và Vua Thành Ba La Nại.

Thuở xưa khi Phạm-ma-đạt cai trị xứ Ba-la-nại có một nhà vua tên Kesava từ bỏ ngai vàng, đi tu cùng với năm trăm tùy tùng sống đời ẩn sĩ. Kappa, người giữ kho báu cho vua cũng đi tu và trở thành đệ tử của vua. Kesava và đoàn tùy tùng ở tám tháng trong xứ Hy-mã-lạp-sơn. Mùa mưa, họ đến thành Ba-la-nại tìm muối, giấm, và vào thành khất thực. Vua Ba-la-nại hân hoan đón họ, được Kesava hứa ở lại suốt bốn tháng mưa. Vua cất nhà trong vườn và sáng chiều lui tới phục vụ.

Những ẩn sĩ đệ tử của Kesava, ở đó được vài ngày thì rất bực mình vì tiếng voi và thú khác nên đến gặp Kesava cằn nhằn và đòi đi về Hy-mã-lạp-sơn. Kesava không thuận vì đã hứa ở lại bốn tháng mưa, nhưng họ vẫn khăng khăng xin đi, viện cớ họ không được thầy họ cho biết trước. Cuối cùng họ xin đến một nơi cách đây không xa, để có thể biết được tin tức vế thầy họ. Rồi họ đảnh lễ Kesava, lên đường, để lại một mình Kesava ở lại trong cung vua. Không bao lâu Kappa cũng bất mãn. Dù vị thầy cố gắng thuyết phục nhiều lần, Kappa cũng bỏ đi và gặp lại những người trước.

Vị thầy nhớ nghĩ liên miên đến các đệ tử của mình. Sau một thời gian, ông nhuốm bệnh vì nội tâm bất an. Vua mời thầy thuốc nhưng không thuyên giảm. Cuối cùng ẩn sĩ Kesava bảo vua nếu muốn cho ông được khỏe thì đưa ông đến các đệ tử. Vua chấp thuận, đặt ẩn sĩ lên giường, sai bốn quan đại thần dẫn đầu bởi Nàrada khiêng ông đến nhóm đệ tử, không quên dặn họ cho vua biết tin ẩn sĩ sống ra sao.

Kappa nghe tin đến gặp ông, và các đệ tử cũng tụ tập lại, dâng thầy nước nóng, nhiều loại trái cây. Ông khỏi bệnh chỉ trong vài ngày, thân thể trở lại màu vàng chói.

Nàrada hỏi ông:

Ngài bỏ vị vua giàu mạnh.
Sẵn lòng đáp đủ nhu cầu.
Ðến Kappa, chốn Rừng sâu.
Thiếu thốn, Ngài sao an ổn?

- Cây cối đây xanh tươi, êm ả,
Làm lòng ta khoan khoái vô cùng.
Lời Kappa dịu ngọt, khiêm cung.
Ta mãn nguyện, Nàrada ạ.

- Gạo nàng hương nấu chung thịt ngọt.
Ngài từng quen vị tột đậm đà.
Nay kê cùng gạo lạt rừng già.
Mùi thanh đạm Ngài Kham có nổi?

- Vật thực cho dù ngon dù dở.
Ít oi hay là được phong nhiêu.
Tin tưởng nhau, vui sống thương yêu
Lòng tin tưởng, vị ngon nào sánh nổi?

Thế Tôn kết thúc bài học và hợp nhất.

- Vua lúc đó là Mục-kiền-liên, Nàrada là Xá-lợi-phất, đệ tử Kappa là A-nan và Ẩn sĩ là Ta. Như thế, Ðại Vương, thuở xưa người trí cũng phải chịu đựng sự đau đớn và cần đến nơi xứng đáng với lòng tin. Ðệ tử của Ta không tin cậy ông, không còn nghi ngờ gì nữa.

(Hết chuyện quá khứ)

Nhà vua vì muốn mua chuộc lại lòng tin của Tăng đoàn nên nghĩ cách là cưới một cô gái thân tộc của Thế Tôn. Như thế các Sa-di và những người tập tu sẽ đến cung vua, vì bây giờ là thân tộc với Thế Tôn.

Vua gởi sứ giả đến. Họ Thích bối rối không biết tính sao vì vua là kẻ thù của họ, nếu từ chối sẽ bị vua phá hoại, hơn nữa vua lại không cùng đẳng cấp.

Vua Thích Mahànàma đề nghị gả con gái của mình tên Vàsabhakhattiyà, là một con của một tỳ thiếp. Sứ giả về thuật lại. Vua hân hoan vì biết Thích Mahànàma là anh em chú bác với Thế Tôn. Vua cử sứ giả đi đón cô gái, không quên dặn dò.

- Những ông hoàng thuộc giai cấp chiến sĩ này rất dối trá, ngươi chỉ đưa cô ta về khi chắc chắn cô ta cùng ngồi ăn với cha.

Mọi việc xong xuôi, và sau đó Vàsabhakhattihà được tấn phong hoàng hậu với năm trăm cung nữ theo hầu. Chẳng bao lâu bà sanh một hoàng nam. Vua vui sướng sai người hầu đem tin đến cho Thái Thái hậu, tức là bà nội vua để xin đặt tên. Thái thái hậu thốt lên:

- Trước khi sanh hoàng nam, hoàng hậu đã được lòng mọi người. Bây giờ chắc vua càng phải "sủng ái" hoàng hậu hơn hết.

Nhưng người hầu này lãng tai, do anh ta nghe lầm chữ "Vallbhà" là sũng ái thành "Vidùdabha" (tức lưu ly) nên về tâu với vua.

- Thái thái hậu bảo đặt tên cho hoàng tử là Lưu Ly.

Vua tuân theo, vì nghĩ rằng đó là một tên rất xưa trong hoàng tộc. Dù còn nhỏ, hoàng tử được ban chức cho thống lãnh quân đội vì vua tin rằng như thế sẽ làm vui lòng Thế tôn.

Hoàng tử lúc bảy tuổi thấy các hoàng tử khác được bà ngoại tặng voi, ngựa và nhiều quà khác, thèm thuồng hỏi mẹ sao mình không có. Hoàng hậu đành trả lời là ông bà ngoại thuộc dòng họ Thích ở xa lắm. Lên mười sáu tuổi chàng lại nói với mẹ muốn đi thăm bên ngoại, bà lại thối thác bảo xa lắm đi làm gì, chàng đòi mãi, cuối cùng bà mẹ xiêu lòng cho đi với đoàn tùy tùng đông đảo và một lá thư dặn dò. Dù vậy, họ Thích vẫn đối xử với chàng lạnh nhạt, họ cho các ông hoàng nhỏ về quê hết nên không ai đến chào kính chàng. Họ giới thiệu với chàng cộc lốc:

- Ðây là ông ngoại bạn, đây là chú bạn.

Ở lại vài ngày, hoàng tử Lưu ly cùng đoàn tùy tùng lên đường trở về. Một tỳ nữ lau chùi chỗ ngồi của chàng tại nhà nghỉ hoàng gia với nước và sữa, đã nói giọng khinh bỉ:

- Ðây là chỗ ngồi của con trai nàng hầu Vàsabhakhattyyà.

Một người lính bỏ quên thanh kiếm trở lại lấy, nghe hết lời cô tỳ nữ. Ðiều tra và biết rằng Vàsabhakhattyyà là con gái của một tỳ nữ của Thích Mahànàma, anh ta loan tin trong quân đội làm náo động mọi người. Hoàng tử Lưu Ly biết chuyện thề rằng: "Bây giờ họ Thích lau chỗ ngồi của ta bằng sữa với nước, khi ta làm vua trong vương quốc của ta, ta sẽ lau chỗ ngồi của ta bằng máu phun ra từ cổ họng họ."

Ðoàn quân về đến Xá-vệ thì tin tức cũng đến tai vua. Tức giận giòng họ Thích, ông truất phế hoàng hậu và hoàng tử, giáng xuống làm người hầu.

Vài ngày sau, Thế Tôn đến hoàng cung, vua bạch lại tự sự. Thế Tôn khuyên vua:

- Ðại vương! họ Thích làm thế không đúng. Muốn gả con cho vua họ phải lựa người cùng đẳng cấp. Nhưng này Ðại vương! Ta cần nói thêm cho ông rõ Vàsabhakhattyyà là con gái của vị vua đã nhận lễ phong vương thuộc giai cấp chiến sĩ, và Vidùdabha cũng là con của vua. Có quan trọng gì gia đình người mẹ? Chỉ có gia đình người cha mới thật là thước đo địa vị xã hội. Minh quân thời xưa vẫn phong hoàng hậu cho một cô gái lượm củi nghèo nàn, và hoàng tử con của cô là vua xứ Ba-la-nại, một thành rộng mười hai dặm, tên vua là Katthavàhana.

Rồi Thế Tôn kể chuyện bổn sanh Katthavàhana. Vua nghe pháp sanh tâm hoan hỷ và phục hồi vương tước cho hoàng hậu và hoàng tử.

Tại Câu-thi-na, cô Mallikà con gái của ông Mallikà, và bà vợ của Bandhula vị thống lãnh quân đội, đã từ lâu hiếm muộn không sinh nở. Bandhula đuổi cô về nhà. Trước khi về cô vào kỳ-viên đảnh lễ Thế Tôn và đứng hầu. Thế Tôn hỏi thăm, cô kể lại và được Ngài khuyên hãy trở lại nhà chồng. Bandhula được nàng thuật lời dạy của đấng thập lực, biết rằng Phật có lý do nào đó nên chấp thuận.

Chẳng bao lâu Mallikà mang thai, và chợt thèm được tắm và uống nước trong hồ sen ở Vệ-xá-ly của các ông hoàng Lệ-xá thường dành cho buổi lễ đăng quang. Bandhula chiều ý lấy cây cung mà một ngàn người mới giương nổi, đặt vợ lên xe và đánh xe từ Xá-vệ đến Vệ-xá-ly, vào thành bằng cổng dành cho ông hoàng Lệ-xá Mahàli. Nghe tiếng xe của Bandhula, Mahàli đang ở trong ngôi nhà sát bên cổng, hiểu ngay là các ông hoàng Lệ-xá sắp bị phiền nhiễu.

Hồ sen được canh gác kỹ lưỡng từ trong lẫn ngoài. Bên trên hồ có giăng một lưới sắt, mắt nhỏ đến nỗi chim bay không lọt. Tướng lãnh Bandhula ngang nhiên xuống xe, tấn công lính canh, đuổi họ chạy rồi xé lưới sắt, xuống hồ sen cùng tắm với vợ. Xong ông ra khỏi thành, theo con đường cũ trở về.

Lính canh báo động cho các ông hoàng Lệ-xá. Họ phẫn nộ mang năm trăm xe đuổi theo, quyết bắt cho kỳ được Bandhula và Mallikà. Nhưng Mahàli ngăn lại vì sợ họ bị giết hết. Mặc, họ vẫn ra đi. Mahàli lại cảnh cáo họ, hãy quay lại khi thấy xe của Bandhula lún xuống đất trên trục xe, nếu họ vẫn chạy tiếp sẽ nghe tiếng sét nổ trước mặt, nếu họ không quay lại sẽ thấy một lỗ hổng trên ách xe của họ, khi đó họ chớ nên đi xa hơn. Mặc, họ vẫn đuổi theo không quay lại.

Mallikà trông thấy xe đuổi phía sau, báo với chồng, Bandhula dặn khi tất cả xe xếp thành hàng chữ nhất thì cho biết. Lúc đó ông trao dây cương cho vợ rồi nâng cung lên, bánh xe của ông liền lún xuống đất đến trục xe. Các ông hoàng vẫn đuổi theo. Ông búng dây cung, tiếng nổ vang lên như sét đánh. Họ vẫn không quay lại. Ông bắn một mũi tên thành một lỗ hổng trước mỗi xe, xuyên qua thắt lưng của năm trăm ông hoàng và chui xuống đất. Các ông hoàng Lệ-xá không biết là mình đã bị bắn, lại cố la to:

- Dừng lại! Dừng lại!

Và họ vẫn tiếp tục đuổi theo. Bandhula dừng xe nói:

- Các anh toàn là người chết. Ta không đánh nhau với người chết!

- Chúng ta là người chết sao?

- Hãy nới lỏng thắt lưng của vị chỉ huy trưởng các anh!

Họ nới lỏng thắt lưng ông hoàng kia. Ngay lúc ấy, ông ta ngả xuống chết.

Bandhula nói:

- Tất cả các anh cùng chung cảnh ngộ. Hãy về nhà giải quyết mọi việc cần thiết, dặn dò vợ con lần cuối, sau đó hãy cởi giáp.

Họ làm theo lời, và cuối cùng những ông hoàng ấy ngã ra chết hết.

Bandhula dẫn Mallikà về xá-vệ.

Mallikà sinh đẻ tất cả mười sáu lần, lần nào cũng sinh đôi. Con của bà đều dũng kiện, sức mạnh phi thường thành đạt nhiều học thuật. Mỗi người có một ngàn tùy tùng. Mỗi khi theo cha đến hoàng cung, sân chánh điện chật ních người của họ.

Có lần trong một vụ án lừa đảo, Bandhula xử lại vụ kiện sáng suốt và công bằng, người chủ thật sự được quyền hợp pháp. Dân chúng hoan hô và tán thán ông. Chuyện đến tai vua, các quan tòa bị cách chức, mọi quyền hành được vua giao lại cho Bandhula. Thấy quyền lợi bị thiệt hại, các quan tòa gây chia rẽ trong hoàng tộc bèn loan tin Bandhula muốn chiếm ngai vàng. Vua tin lời họ, muốn trừ khử Bandhula nên mua chuộc một số người, bảo họ nổi loạn ở biên giới và phái Bandhula đi dẹp loạn, đồng thời ngầm sai một nhóm lính hùng mạnh đi theo ông để chặt đầu ông và ba mươi hai người con mang về. Kết quả xảy ra đúng như vua mong muốn.

Ngày hôm ấy, Mallikà mời hai đại đệ tử của Phật cùng năm trăm Tỳ-kheo đến nhà trai tăng. Bà nhận thư báo hung tin, xem xong thản nhiên cất thư vào túi áo, và tiếp tục thết đãi tăng chúng như không có việc gì xảy ra. Lúc bấy giờ các tỳ nữ đang dâng thức ăn, sẩy tay làm bể hũ mật trước mặt các Trưởng Lão. Ngài xá-lợi-phất khuyên bà đừng quan tâm đến đồ vật vì bản chất của chúng là bể nát. Mallikà rút bức thư trong túi ra thưa:

- Con vừa nhận được tin chồng và các con đều bị chặt đầu, lòng con chẳng hề xao xuyến, huống hồ một cái hũ bể, thưa tôn Giả?

Vị thống soát của niềm tin đọc bài kệ bắt đầu như sau: "Tuổi thọ chúng sanh đây, bao lâu thật khó biết...".

Thuyết pháp xong ngài đứng dậy trở về tinh xá, Mallikà gọi ba mươi hai nàng dâu đến khuyên nhủ:

- Chồng các con không có tội lỗi gì, chỉ lãnh quả báo nghiệp ác đời trước. Ðừng đau buồn, đừng than khóc! Hãy yêu thương, đừng oán giận nhà vua!

Gián điệp của vua nghe được, tâu lại, vua cảm động vô cùng, đến gặp Mallikà xin bà và các con dâu tha thứ, và vua sẽ ban cho bà một ân huệ. Bà nhận lời.. Cúng giỗ cho chồng và các con xong, bà đi tắm rồi đến cung vua xin được ân huệ là trở về quê với các con dâu. Các con dâu về nhà họ, còn bà về nhà mình ở Câu-thi-na. Vua ban chức thống lãnh quân đội cho Dìghakàràyana, một người cháu của Bandhula. Nhưng ông này đi đâu cũng mắng nhiếc vua là đã giết chú của mình.

Kể từ ngày giết oan Bandhula, vua ăn năn đau khổ, lòng bất an và chẳng còn niềm vui nào trong việc an dân trị nước. Thời gian đó đấng Ðạo sư đang ngụ gần ngôi làng nhỏ Ulumpa của họ Thích. Vua cắm trại cách đó không xa. Ông đến tinh xá đảnh lễ Thế Tôn với số ít người hầu thân tín. Vua bước vào hương thất một mình, sau khi giao năm thứ biểu trưng vương vị cho Dìghakàràyana (Kinh Dhammacetiya đã kể như vậy).

Ông này nhận năm món ấy xong liền tôn hoàng tử Lưu Ly lên ngôi, trở về Xá-vệ, chỉ để lại một con ngựa và một tỳ nữ.

Vua thăm hỏi Thế Tôn xong trở ra không thấy quân lính, hỏi tỳ nữ biết tự sự, bèn định cùng với cháu bắt Lưu ly. Ông đi Vương-xá, đến cổng thành trời đã tối. Kiệt sức vì phơi mình ngoài nắng gió, vua Ba-tư-nặc nằm nghỉ trong một quán trọ và tắt thở ngay đêm ấy.

Trời hừng sáng, người ta nghe tiếng đàn bà than khóc:

- Vua của xứ Kosala hỡi! Ngài chỉ còn một mình, mất hết người che chở rồi!

Tân vương thành Vương Xá được họ đến báo tin bèn cử hành tang lễ trọng thể.

Nhớ lại thù xưa, vua Lưu Ly dẫn một đoàn quân ra khỏi thành cốt giết cả dòng họ Thích. Thế Tôn quan sát thế gian vào buổi sáng, thấy thân tộc sắp bị tiêu diệt, có ý muốn bảo vệ. Ngài đi khất thực, trở về nằm nghiêng bên phải như sư tử trong hương thất. Chiều, Ngài bay lên trời và ngồi xuống một gốc cây trơ trọi, ít bóng mát, trong vùng lân cận Ca-tỳ-la-vệ. Cách đó không xa, có một cây đa thật to, bóng mát che rợp, nằm ở bên biên giới của vương quốc Lưu Ly. Vua Lưu Ly ngạc nhiên tại sao Thế Tôn không ngồi dưới bóng mát cây đa khi trời quá nóng bức, bèn hỏi Thế Tôn và được Ngài trả lời:

- Ðừng lo lắng! Ðại vương! Bóng mát của thân bằng quyến thuộc là Ta mát mẻ.

Vua biết ý Thế Tôn muốn che chở dòng họ nên đảnh lễ Ngài, quay về Xá-vệ. Thế Tôn cũng đứng lên bay về Kỳ Viên.

Lòng thù hận học Thích vẫn chưa nguôi ngoai, vua lại ra đi lần thứ hai. Thấy Thế Tôn còn ở chỗ cũ, vua đành quay về. Lần thứ ba cũng vậy. Ðến lần thứ tư, Phật quán sát thấy rõ hành động quá khứ của dòng họ Thích là đã ném thuốc độc xuống sông; biết không thể ngăn chặn được quả báo nên Ngài không đi đến gốc cây trơ trọi nữa. Thế là vua Lưu Ly với binh lực hùng hậu mặc tình tiến tới.

Thân tộc của Thế Tôn giữ giới nên không giết hại kẻ thù mình, họ thà chết hơn đoạt mạng sống kẻ khác. Họ mặc giáp lên đường chiến đấu, hy vọng dùng tài ba của mình khiến kẻ địch bỏ chạy. Những xạ thủ tài giỏi họ Thích khéo léo điều khiển mũi tên bắn xuyên qua khiên và kẽ hở lỗ tai, mà không trúng ai cả. Vua Lưu Ly thấy tên bay không tin rằng họ Thích giữ lời hứa không sát hại kẻ thù, nhưng khi đếm lại số người của mình còn nguyên, ông mới hết nghi ngờ. Tuy vậy ông vẫn ra lệnh bộ hạ giết hết họ Thích, trừ những người theo Thích Mahànamà.

Họ Thích đứng trên đất của mình, không còn biết cách xoay sở nào khác nên một nhóm ngậm lá cỏ trong răng, nhóm khác cầm lau sậy chực sẵn. Khi được hỏi có phải họ Thích Sàkiyas không, thì họ trả lời hoặc không phải Sàka (rau) mà là cỏ, hoặc không phải Sàka (rau) mà là sậy. Nhờ vậy, hai nhóm này thoát chết. Sau, những người cầm lau sậy có tên là Thích-lau. Vì chữ sàka (rau) có âm tương tự chữ Sàkiyas (Thích) nên họ nói trớ để khỏi phạm giới vọng ngữ. Vua Lưu Ly chỉ tha những người đi theo Thích Mahànamà, ngoài ra trừ tiệt hết họ Thích không chừa đứa trẻ nằm nôi. Vua Lưu Ly đã gây ra một dòng sông máu, lau chỗ ngồi của mình bằng máu phun từ cổ họ Thích.

Vua trở về, bắt theo Thích Mahànama. Ðến giờ ăn sáng, vua muốn cùng ăn với ông ngoại Mahànama. Giai cấp chiến sĩ thà chịu chết hơn cùng ăn với con của nô lệ, vì vậy ông từ chối, nhưng lại sợ vua giết mình, tấn thoái lưỡng nan đành chọn tự kết liễu đời mình. Ông viện cớ tay chân lấm bẩn xin đi tắm. Rồi ông xỏa tóc xuống, thắt gút ở đuôi, thóc ngón chân to lớn của ông vào tóc, lao mình xuống nước. Do công đức của ông, long cung bị nóng lên. Long vương ngạc nhiên bèn đến chỗ ông, đặt ông ngồi trên vây và đưa ông đến long cung.Ông ở lại đó mười hai năm. Vua Lưu Ly đợi mãi không thấy ông, cho lệnh rọi đèn xuống hồ tìm, khám xét trong mớ quần áo của bộ hạ ông nhưng không thấy ông đâu cả. Cho rằng ông đã đi, vua Lưu Ly lên đường. Vua đến sông Aciravatì trong đêm và cắm trại ở lại. Ðoàn tùy tùng của vua một số nằm trên bờ trên cát trong lòng sông cạn, một số nằm trên bờ đất cứng. Người nằm trên bờ cát là những người không phạm tội ác đời trước, bị kiến cắn nên lội khỏi bờ cát lên nằm trên bờ đất; còn những người nằm trên bờ đất là những người phạm tội các đời trước, nên khiến lội xuống bờ cát trong lòng sông. Ngay lúc ấy một cơn bão thổi đến, mưa trúc xuống không ngớt. Lũ lụt tràn ngập con sông, cuốn vua Lưu Ly và đoàn tùy tùng xuống biển làm mồi cho cá và rùa.

Dư luận xôn xao về việc họ Thích bị tàn sát và cho đó là bất công. Ðức Phật giải thích là không phải bất công nếu biết nghiệp quá khứ, vì kiếp trước họ đã âm mưu ném thuốc độc xuống sông. Các Tỳ-kheo cũng lại bàn tán trong Pháp đường, Phật liền dạy:

- Các Tỳ-kheo! Trong lúc các chúng sanh này lo thỏa mãn tham vọng của họ, Diêm vương cắt ngắn mạng sống của họ và ném họ vào bốn biển phiền não, giống như lũ lụt cuốn trôi ngôi làng đang say ngũ.

Và Ngài nói Pháp Cú:

(47) Người nhặt các loại hoa,
Ý đắm say, tham nhiễm,
Bị thần chết mang đi,
Như lục trôi làng ngũ.

Address

750 Đường Nguyễn Kiệm, Quận Phú Nhuận
Ho Chi Minh City

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Lang Thang Tự posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Contact The Practice

Send a message to Lang Thang Tự:

Share