Phòng Xét nghiệm Vạn An Tâm Phúc

Phòng Xét nghiệm Vạn An Tâm Phúc Thực hiện các xét nghiệm Y khoa: Máu, dịch cơ thể...

03/06/2015

Test AMH là gì? Đây có phải là test cho chị em bù đầu với công việc và gác kế hoạch để có con cần quan tâm?

* AMH, hoặc anti-Müller hormone là một hormone được sản xuất bởi các tế bào granulosa trong nang buồng trứng.
Là chất được tạo thành đầu tiên trong nang chính từ giai đoạn nang trứng non. Từ giai đoạn nang ở thể hiển vi mà không thể được nhìn thấy bằng siêu âm.
* AMH được tạo ra cao nhất trong giai đoạn tiền thể hang và thể hang nhỏ (nhỏ hơn 4mm đường kính) của quá trình phát triển.
* AMH giảm dần và dừng sinh ra khi nang phát triển. Hầu như không có AMH được tạo trong nang hơn 8mm.
* Vì vậy, mức độ AMH là tương đối ổn định và xác định hàm lượng AMH có thể được thực hiện trên bất kỳ ngày nào của chu kỳ của một người phụ nữ.

+ Nồng độ hormone AMH có thể là một bài kiểm tra khả năng sinh sản?

* AMH chỉ được sản xuất trong nang trứng nhỏ, nồng độ trong máu của AMH được sử dụng để xác định mức dự trữ nang phát triển ở phụ nữ.
* Nghiên cứu cho thấy rằng mức dự trữ các nang phát triển bị ảnh hưởng nhiều bởi mức dự trữ các nang trứng non còn lại (các nang nhỏ trong "giấc ngủ sâu").
* Vì vậy, nồng độ AMH trong máu được cho là phản ánh mức độ nguồn cung cấp trứng còn lại - hay "dự trữ buồng trứng".
* Với sự gia tăng tuổi nữ, số lượng dự trữ vi nang giảm. Tương tự như vậy, mức độ AMH trong máu của họ và số lượng nang trứng của buồng trứng có thể nhìn thấy trên siêu âm cũng giảm.
Những người có buồng trứng đa nang, giá trị hormone AMH sẽ cao; những người chỉ có vài nang còn lại và những người đã gần mãn kinh sẽ có nồng độ AMH thấp.

+ Nồng độ AMH và cơ hội mang thai với thụ tinh ống nghiệm

* Phụ nữ với nồng độ AMH cao hơn có xu hướng phản ứng tốt hơn với kích thích buồng trứng để thụ tinh ống nghiệm và có thêm để trứng lấy ra. Nói chung, có nhiều trứng hơn với IVF sẽ cho một tỷ lệ thành công cao hơn.
* Mức AMH có thể không nói cho chúng ta biết nhiều về chất lượng trứng, nhưng có nhiều trứng hơn để thực hiện IVF - vì vậy sẽ có nhiều khả năng để có ít nhất một phôi chất lượng cao để chuyển trở lại tử cung.

Cập nhật thông tin về Gout:(Xét nghiệm tầm soát bệnh rất đơn giản với VATP!)VATP nơi cung cấp thông tin sức khỏe của bạn...
14/04/2015

Cập nhật thông tin về Gout:
(Xét nghiệm tầm soát bệnh rất đơn giản với VATP!)
VATP nơi cung cấp thông tin sức khỏe của bạn

BỆNH GÚT (GOUT)
1. ĐỊNH NGHĨA
Bệnh gút là bệnh viêm khớp do lắng đọng vi tinh thể muối urat natri trong các mô khớp, gây ra do tăng acid uric trong máu, đặc trưng bởi những đợt viêm khớp cấp tái phát. Đây là bệnh do rối loạn chuyển hóa nhân purin, thuộc nhóm bệnh rối loạn chuyển hóa.
2. NGUYÊN NHÂN
Chia làm hai loại gút nguyên phát (đa số các trường hợp) và gút thứ phát.
a) Nguyên phát
Chưa rõ nguyên nhân, chế độ ăn thực phẩm có chứa nhiều purin như: gan, thận, tôm, cua, lòng đỏ trứng, nấm… được xem là làm nặng thêm bệnh. Gặp 95% ở nam giới, độ tuổi thường gặp là 30-60 tuổi.
b) Thứ phát
Một số hiếm do các rối loạn về gen (nguyên nhân di truyền). Ngoài ra có thể do tăng sản xuất acid uric hoặc giảm đào thải acid uric hoặc cả hai, cụ thể:
- Suy thận nói riêng và các bệnh lý làm giảm độ thanh lọc acid uric của cầu thận nói chung
- Các bệnh về máu: bệnh bạch cầu cấp.
- Dùng thuốc lợi tiểu như Furosemid, Thiazid, Acetazolamid…
- Sử dụng các thuốc ức chế tế bào để điều trị các bệnh ác tính; thuốc chống lao (éthambutol, pyrazinamid…
Các yếu tố nguy cơ của bệnh là tăng huyết áp, béo phì và hội chứng chuyển hóa, tăng insulin máu và sự đề kháng insulin, uống nhiều rượu.
3. CHẨN ĐOÁN
a) Lâm sàng
Cơn gút cấp tính đầu tiên thường xuất hiện ở lứa tuổi 35 - 55, ít khi trước 25 hoặc sau 65 tuổi. Ở nữ ít xảy ra trước tuổi mãn kinh, ở nam mắc ở tuổi càng trẻ thì bệnh càng nặng.
Điều kiện thuận lợi: nhiều khi không rõ nhưng có thể xảy ra sau bữa ăn có nhiều thịt (nhất là loại thịt có nhiều purin), rượu, sau xúc cảm mạnh, sau chấn thương kể cả vi chấn thương (đi giày chật), sau nhiễm khuẩn, dùng các thuốc lợi tiểu như thiazid...
- Cơn gút cấp
Xuất hiện đột ngột ban đêm, bệnh nhân thức dậy vì đau ở khớp, thường là khớp bàn - ngón chân cái (60 - 70% ): khớp sưng to, đỏ, phù nề, căng bóng, nóng, đau dữ dội và ngày càng tăng, va chạm nhẹ cũng rất đau, thay đổi thứ tự: bàn chân,cổ chân, gối, bàn tay, cổ tay, khuỷu, hiếm thấy ở khớp háng, vai, cột sống. Lúc đầu chỉ viêm khớp một khớp sau đó có thể viêm nhiều khớp.
Ngoài khớp ra, túi thanh dịch, gân, bao khớp cũng có thể bị thương tổn.
Các dấu hiệu viêm có thể kéo dài nhiều ngày, thường từ 5-7 ngày rồi các dấu hiệu viêm giảm dần: đỡ đau, đỡ nề, bớt đỏ. Hết cơn, khớp trở lại hoàn toàn bình thường.
Trong cơn gút cấp có thể có sốt vừa hoặc nhẹ, tăng tốc độ lắng hồng cầu, dịch khớp (chỉ làm được ở khớp gối) thấy bạch cầu 5000/mm3, đa số là loại đa nhân, dưới kính hiển vi thấy nhiều tinh thể urat.
Cơn gút cấp dễ tái phát, khoảng cách có thể gần nhưng cũng có thể rất xa, có khi >10 năm.
Bên cạnh thể điển hình, cũng có thể tối cấp với khớp viêm sưng tấy dữ dội, bệnh nhân đau nhiều nhưng cũng có thể gặp thể nhẹ, kín đáo, đau ít dễ bị bỏ qua.
- Lắng đọng urat
Lắng đọng urat làm cho hình thành các tôphi dưới da và gây nên bệnh khớp mạn tính do urat.
+ Tôphi: thường biểu hiện chậm, hàng chục năm sau cơn Gút đầu tiên nhưng cũng có khi sớm hơn. Khi đã xuất hiện thì dễ tăng số lượng và khối lượng và có thể loét. Tôphi thường thấy trên sụn vành tai rồi đến khuỷu tay, ngón chân cái, gót chân, mu bàn chân, gân Achille.
Tôphi đầu gối. Tôphi lớn và nhiều tôphi bề mặt của đầu gối ở bệnh nhân có bệnh gút mạn tính không được kiểm soát
Bệnh gút có tôphi viêm sưng. Có 3 tôphi viêm sưng trên các khớp gian ngón tay gần ở bệnh nhân có bệnh gút tôphi mạn tính. Một vài tổn thương bị vỡ tự nhiên trong 3 ngày tiếp theo, thoát ra chất sền sệt bao gồm các tinh thể urat và các tế bào viêm nhưng không có vi khuẩn. Viêm phần lớn giảm bớt hơn một tuần sau khi được dùng thuốc kháng viêm không steroid
+ Bệnh khớp do urat: Xuất hiện chậm. Khớp bị cứng, đau khi vận động và làm hạn chế vận động, khớp có thể sưng to vừa phải, không đối xứng, cũng có thể có tôphi kèm theo. Trên X-quang thấy hẹp khớp, hình ảnh khuyết xương hình hốc ở đầu xương.
- Biểu hiện về thận
Urat lắng đọng rải rác ở tổ chức kẽ thận, bể thận, niệu quản.
+ Sỏi thận: 10 - 20% các trường hợp gút, điều kiện thuận lợi là pH nước tiểu quá toan, nồng độ acid uric cao. Sỏi urat thường nhỏ và không cản quang.
+ Tổn thương thận: lúc đầu chỉ có prôtein niệu, có thể có kèm theo hồng cầu, bạch cầu vi thể, dần dần diễn tiến đến suy thận. Suy thận thường gặp ở thể có tôphi, tiến triển chậm và là nguyên nhân gây tử vong.
b) Cận lâm sàng
- Acid uric máu tăng > 420 μmol/l, tuy nhiên khoảng 40% bệnh nhân có cơn gút cấp nhưng acid uric máu bình thường.
- Định lượng acid uric niệu 24 giờ: để xác định tăng bài tiết (> 600mg/24h) hay giảm thải tương đối (< 600mg/24h). Nếu acid uric niệu tăng dễ gây sỏi thận và không được chỉ định nhóm thuốc tăng đào thải acid uric.
- Xét nghiệm dịch khớp: quan trọng nhất là tìm thấy tinh thể urat trong dịch khớp. Dịch khớp viêm giàu tế bào (> 2000 tb/mm3), chủ yếu là bạch cầu đa nhân trung tính.
- Các xét nghiệm khác: tốc độ lắng máu tăng, CRP bình thường hoặc tăng...
- X quang khớp: giai đoạn đầu bình thường, nếu muộn có thể thấy các khuyết xương hình hốc ở đầu xương, hẹp khe khớp, g*i xương...
c) Chẩn đoán xác định (có thể áp dụng một trong các tiêu chuẩn sau)
- Tiêu chuẩn Bennet và Wood (1968): Độ nhạy 70%, độ đặc hiệu 82,7%
Tiêu chuẩn Bennet và Wood (1968) được áp dụng rộng rãi nhất ở Việt Nam do dễ nhớ và phù hợp với điều kiện thiếu xét nghiệm.
a. Hoặc tìm thấy tinh thể natri urat trong dịch khớp hay trong các hạt tôphi.
b. Hoặc tối thiểu có 2 trong các yếu tố sau đây:
+ Tiền sử hoặc hiện tại có tối thiểu 2 đợt sưng đau của một khớp với tính chất khởi phát đột ngột, đau dữ dội, và khỏi hoàn toàn trong vòng 2 tuần.
+ Tiền sử hoặc hiện tại có sưng đau khớp bàn ngón chân cái với các tính chất như trên.
+ Có hạt tophi
+ Đáp ứng tốt với colchicin (giảm viêm, giảm đau trong 48 giờ) trong tiền sử hoặc hiện tại.
Chẩn đoán xác định khi có tiêu chuẩn a hoặc 2 yếu tố của tiêu chuẩn b.
- Theo tiêu chuẩn của ILAR và Omeract năm 2000:Độ nhạy 70%, đặc hiệu 78,8%
+ Có tinh thể urat đặc trưng trong dịch khớp, và / hoặc:
+ Hat tôphi được chứng minh có chứa tinh thể urat bằng phương pháp hóa học hoặc kính hiển vi phân cực, và / hoặc:
+ Có 6 trong số 12 biểu hiện lâm sàng, xét nghiệm và X quang sau:
1. Viêm tiến triển tối đa trong vòng một ngày.
2. Có hơn một cơn viêm khớp cấp.
3. Viêm khớp ở một khớp.
4. Đỏ vùng khớp.
5. Sưng, đau khớp bàn ngón chân I.
6. Viêm khớp bàn ngón chân I ở một bên.
7. Viêm khớp cổ chân một bên.
8. Tôphi nhìn thấy được.
9. Tăng acid uric máu (nam ≥ 420 mmol/l, nữ ≥ 360mmol/l)
10. Sưng đau khớp không đối xứng.
11. Nang dưới vỏ xương, không có hình khuyết xương trên X quang
12. Cấy vi khuẩn âm tính.
Bệnh gút ở chân. Chụp X-quang có chuẩn bị bàn chân cho thấy các đặc điểm phù hợp với bệnh gút. Có sưng nề mô và sự ăn mòn rộng liên quan tới khớp ngón bàn chân đầu tiên, cũng như sự calci hóa trong hạt tôphi
d) Phân loại
- Bệnh gút cấp
- Bệnh gút mạn tính
- Thời gian ổn định giữa các cơn gút cấp
e) Chẩn đoán phân biệt
- Viêm khớp do lắng đọng các tinh thể khác (pyrophosphat calci dihydrat) hay bệnh giả gút.
- Viêm khớp nhiễm khuẩn
- Viêm khớp dạng thấp
- Viêm khớp phản ứng
- Bệnh lí khác: viêm mô tế bào, bệnh mạch máu ngoại biên…
4. ĐIỀU TRỊ
4.1. Nguyên tắc chung
- Điều trị viêm khớp trong cơn gút cấp
- Dự phòng tái phát cơn gút, dự phòng lắng đọng urat trong các tổ chức và dự phòng biến chứng thông qua điều trị hội chứng tăng acid uric máu với mục tiêu kiểm soát acid uric máu dưới 360 mmol/l (60 mg/l) với gút chưa có hạt tô phi và dưới 320 mmol/l (50 mg/l) khi gút có hạt tô phi.
4.2. Điều trị cụ thể
a) Chế độ ăn uống- sinh hoạt
- Tránh các chất có nhiều purin như tạng động vật, thịt, cá, tôm, cua… Có thể ăn trứng, hoa quả. Ăn thịt không quá 150g/24 giờ.
- Không uống rượu, cần giảm cân, tập luyện thể dục thường xuyên…
- Uống nhiều nước, khoảng 2-4lít/24 giờ, đặc biệt là các loại nước khoáng có kiềm hoặc nước kiềm 14‰. Điều này sẽ làm tăng lượng nước tiểu trong 24 giờ, giúp hạn chế tối đa sự lắng đọng urat trong đường tiết niệu.
- Tránh các thuốc làm tăng acid uric máu, tránh các yếu tố làm khởi phát cơn gút cấp như stress, chấn thương…
b) Điều trị nội khoa
- Thuốc chống viêm
+ Colchicin
Với mục đích chống viêm, giảm đau trong cơn gút cấp hoặc đợt cấp của gút mạn: theo quan điểm mới colchicin không nên sử dụng liều cao vì có tác dụng không mong muốn. Nên sử dụng liều 1mg/ngày, nhưng cần dùng càng sớm càng tốt (trong vòng 12 giờ đầu khởi phát cơn gút). Phối hợp với một thuốc nhóm chống viêm không steroid nếu không có chống chỉ định của thuốc này) để đạt hiệu quả cắt cơn gút.
Trường hợp bệnh nhân có chống chỉ định với chống viêm không steroid, colchicin dùng với liều 1mg x 3 lần trong ngày đầu tiên (có thể cho 0,5mg cách nhau 2 giờ một lần, nhưng tối đa không quá 4mg), 1 mg x 2 lần trong ngày thứ 2, 1mg từ ngày thứ 3 trở đi. Thông thường sau 24-48 giờ sử dụng, triệu chứng tại khớp sẽ giảm nhanh
Test colchicin: hai ngày đầu: 1mg x 3 lần; triệu chứng tại khớp sẽ giảm nhanh sau 48h. Tuy nhiên, sau 48 h thường có tiêu chảy, cần kết hợp một số thuốc như loperamid 2 mg ngày 02 –viên, chia 2 lần nhằm kiểm soát triệu chứng này.
Dự phòng tái phát: 0,5- 1,2 mg uống 1-2 lần/ ngày, trung bình 1mg/ ngày kéo dài ít nhất 6 tháng. Cần chú ý giảm liều ở bệnh nhân có bệnh thận mạn, lớn tuổi (trên 70 tuổi)…Trong trường hợp không sử dụng được bằng cochicine có thể dự phòng bằng các thuốc kháng viêm không stéroid bằng liều thấp.
+ Thuốc kháng viêm không steroid: có thể dùng một trong các thuốc sau: Indometacin, Naproxen, Ibuprofen, Ketoprofen, Piroxicam, Diclofena, các nhóm thuốc ức chế chọn lọc COX-2 (meloxicam, celecoxib, etoricoxib...).
Lưu ý các chống chỉ định của thuốc này (viêm loét dạ dày tá tràng, suy thận…). Có thể dùng đơn độc hoặc kết hợp với colchicin.
+ Corticoid: corticoid đường toàn thân được chỉ định khi các thuốc trên không hiệu quả hoặc có chống chỉ định, cần rất hạn chế và dùng ngắn ngày. Đường tại chỗ (tiêm corticoid trực tiếp vào khớp viêm) phải được thực hiện bởi thầy thuốc chuyên khoa cơ xương khớp sau khi loại trừ viêm khớp nhiễm khuẩn.
- Thuốc giảm axit uric máu
+ Nhóm thuốc ức chế tổng hợp axit uric
Allopurinol: Liều lượng hằng ngày dựa vào nồng độ axit uric máu. Liều khởi đầu: Allopurinol 100mg/ngày trong vòng 1 tuần, sau đó tăng 200-300mg/ngày. Nồng độ acid uric máu thường trở về bình thường với liều 200-300mg/ngày. Không nên chỉ định trong trong cơn gút cấp mà nên chỉ định khi tình trạng viêm khớp đã thuyên giảm, sau 1-2 tuần sử dụng colchicin. Cần lưu ý tác dụng phụ của allopurinol như sốt, nôn, buồn nôn, đau đầu, ban đỏ ở da, dị ứng… cần theo dõi sát trong những ngày đầu dùng thuốc, thậm chí sau 1-2 tuần dùng thuốc này.
+ Nhóm thuốc tăng thải axit uric:
Probenecid (250mg- 3g/ngày), Sunfinpyrazol (100-800mg/ngày), Benzbriodaron, Benzbromaron…Chỉ định nhóm này cần xét nghiệm acid uric niệu. Chống chỉ định khi acid uric niệu trên 600 mg/24h, suy thận, sỏi thận, người cao tuổi, gút mạn có hạt tophi. Đôi khi có thể dùng phối hợp allopurinol với một loại thuốc tăng đào thải acid uric. Cả hai nhóm thuốc này đều nên chỉ định trong trong cơn gút cấp
c) Điều trị ngoại khoa
Phẫu thuật cắt bỏ hạt tôphi được chỉ định trong trường hợp gút kèm biến chứng loét, bội nhiễm hạt tôphi hoặc hạt tôphi kích thước lớn, ảnh hưởng đến vận động hoặc vì lý do thẩm mỹ. Khi phẫu thuật lưu ý cho dùng colchicin nhằm tránh khởi phát cơn gút cấp. Cần kết hợp thuốc hạ acid uric máu.
5. TIẾN TRIỂN- BIẾN CHỨNG
- Thông thường có 1 - 2 cơn mỗi năm, khoảng cách các cơn ngắn lại, 10 - 20 năm sau cơn đầu tiên, xuất hiện các tophi và bệnh khớp urat làm hạn chế vận động. Bệnh nhân chết do suy thận hay do tai biến mạch máu.
- Có một số thể nhẹ hơn, cơn gút ít xảy ra, không có tophi. Cũng có một số thể nặng hơn, xảy ra ở người trẻ < 30 tuổi, cơn gút dày liên tiếp, tophi và bệnh khớp do urat xuất hiện sớm.
6. PHÒNG BỆNH
- Chế độ sinh hoạt hợp lí, giảm ăn cách chất giàu purin, chất béo…
- Điều trị tốt các bệnh lí gây bệnh gút thứ phát như suy thận, do thuốc, các bệnh lí chuyển hóa…

Trời mưa rồi, mọi người nhớ giữ gìn sức khỏe!(nhớ khi nào muốn có thông tin sức khỏe thì đến VATP! hi hi)
14/04/2015

Trời mưa rồi, mọi người nhớ giữ gìn sức khỏe!
(nhớ khi nào muốn có thông tin sức khỏe thì đến VATP! hi hi)

Sự nguy hiểm của kí sinh trùng:Sán dải heo: người nhiễm khi ăn phải thịt heo bệnh (heo gạo)Đừng lo lắng, VATP có thể giú...
09/04/2015

Sự nguy hiểm của kí sinh trùng:
Sán dải heo: người nhiễm khi ăn phải thịt heo bệnh (heo gạo)
Đừng lo lắng, VATP có thể giúp bạn vì mục đích :"Phòng bệnh- Kiểm soát bệnh- Sống an vui"
Giá xét nghiệm: 85k/test xác định nhiễm sán dải heo!

Phòng Bệnh-Kiểm soát Bệnh-Sống An vui
07/04/2015

Phòng Bệnh-Kiểm soát Bệnh-Sống An vui

Bảng giá xét nghiệm cập nhật của phòng Xét nghiệm VATP
07/04/2015

Bảng giá xét nghiệm cập nhật của phòng Xét nghiệm VATP

Address

Ho Chi Minh City
08

Telephone

+84822178735

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Phòng Xét nghiệm Vạn An Tâm Phúc posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Contact The Practice

Send a message to Phòng Xét nghiệm Vạn An Tâm Phúc:

Share

Share on Facebook Share on Twitter Share on LinkedIn
Share on Pinterest Share on Reddit Share via Email
Share on WhatsApp Share on Instagram Share on Telegram

Category