Phòng khám Tai Mũi Họng Việt- Pháp

Phòng khám Tai Mũi Họng Việt- Pháp Tiến sĩ.Bs Phạm Thị Bích Thủy
Khám chuyên khoa Tai Mũi Họng
Bệnh viện Tai Mũi Họng Trung Ương
Giờ khám:
Thứ 2- Thứ 6: 17-20h
Thứ 7- CN : 8-20h

Chuyên khám và điều trị các bệnh lý chuyên khoa Tai Mũi Họng, hiệu quả, an toàn.
Đặc biệt có đốt họng, hút mũi, khí dung bằng siêu âm với kỹ thuật hiện đại nhất. Giờ khám:
Thứ 2- Thứ 6: 17-20h
Thứ 7- CN : 8-20h

Xuân mới Phòng khám TMH Việt Pháp kính chúc mọi người năm mới dồi dào sức khoẻ, niềm vui và hạnh phúc. Vạn sự như ý!
01/03/2018

Xuân mới Phòng khám TMH Việt Pháp kính chúc mọi người năm mới dồi dào sức khoẻ, niềm vui và hạnh phúc. Vạn sự như ý!

Thông báo! Phòng khám Tai Mũi Họng Việt Pháp chuyển địa điểm từ số 54 Phố  Lê Thanh Nghị về số 5 Ngõ 228 Đường Giáp Bát ...
30/11/2017

Thông báo!
Phòng khám Tai Mũi Họng Việt Pháp chuyển địa điểm từ số 54 Phố Lê Thanh Nghị về số 5 Ngõ 228 Đường Giáp Bát - Quận Hoàng Mai- Hà Nội.
Cám ơn tất cả mọi người suốt thời gian qua đã tin tưởng tín nghiệm đến khám chữa và điều trị bệnh tại phòng khám của chúng tôi.
Với đội ngũ Giáo Sư, Tiến Sĩ và Bác sĩ chuyên khoa đầu nghành Tai Mũi Họng tại phòng khám rất hân hạnh đc khám chữa bệnh cho bệnh nhân với phương châm tận tình cẩn thận và chất lượng chuyên môn cao. 😍

30/11/2017

CÁC LOẠI THUỐC NHỎ TAI VÀ CÁCH SỬ DỤNG
Tai được chia làm 3 bộ phận chính gồm: tai ngoài, tai giữa và tai trong.
Tai là bộ phận chính đảm bảo chức năng nghe và thăng bằng ở người. Vì thế việc sử dụng thuốc nhỏ tai sao cho đúng chỉ định và an toàn có ý nghĩa rất quan trọng đặc biệt là khi dùng thuốc ở trẻ em dưói hai tuổi vì nếu để tai bị tổn thương trẻ sẽ không nghe được dẫn đến kết quả tất yếu là đứa trẻ đó đồng thời không nói được, để lại một gánh nặng cho gia đình và toàn xã hội.
Thuốc nhỏ tai chủ yếu là những loại thuốc được bào chế dưới dạng dung dịch, một số thuốc bột nguyên chất nhằm đáp ứng cho việc điều trị những bệnh lý về tai chủ yếu là viêm tai. Thuốc nhỏ tai được dùng trong những bệnh lý của tai ngoài và tai giữa. Thuốc nhỏ tai được chia làm hai loại cho những trường hợp viêm tai không thủng màng nhĩ và những thuốc dùng cho viêm tai có kèm theo thủng màng nhĩ. Màng nhĩ là bộ phận ngăn cách giữa tai ngoài và tai giữa. Màng nhĩ có nhiệm vụ bảo vệ tai giữa và tai trong để phần niêm mạc của tai giữa hoạt động trong môi trường kín, bảo vệ hệ thống xương con tránh bị tổn thương do chấn thương, cũng như các tác động của các yếu tố vật lý, hoá học từ môi trường bên ngoài với tai giữa và tai trong qua thành trong của tai giữa - tai giữa và tai trong được ngăn cách với nhau bởi lớp màng ở cửa sổ tròn rất dễ hấp thu các loại thuốc và là một trong những cơ chế ngộ độc tai trong gây điếc nặng không hồi phục.
- Nhóm thuốc dùng cho bệnh lý viêm tai không thủng màng nhĩ thường là những thuốc dùng cho viêm ống tai ngoài, eczema ống tai ngoài có bội nhiễm và viêm tai giữa cấp giai đoạn xung huyết. Thuốc thường chứa một trong những kháng sinh thuộc nhóm aminoglucosid là nhóm thuốc có khả năng gây độc cho ốc tai mà hậu quả là điếc không hồi phục. Ví dụ như POLYDEXA với thành phần gồm néomycine sulfate, polymycine B sulfate, dexamethasone métasulfobenzoate. Thuốc được phối hợp giữa kháng sinh và kháng viêm, thuốc có tác dụng như một trị liệu tại chỗ và đa năng do tính kháng viêm của thuốc dùng phối hợp dexamethasone. Do có sự phối hợp của hai thuốc kháng sinh là néomycine và polymycine cho phép mở rộng phổ kháng khuẩn trên các mầm bệnh Gr + và Gr - là các tác nhân gây bệnh của ống tai ngoài và tai giữa. Néomycine tiêu diệt liên cầu, Echerichia coli, Klebsiella Pneumonia, Hemophilus Influenza trong khi đó polymycine tác động trên các mầm bệnh Gr- ...OTIPAX là loại thuốc chứa phenazone và lidocain HCL có tác dụng chóng viêm và giảm đau tại chỗ được dùng trong những trường hợp viêm tai giữa cấp giai đoạn xung huyết, viêm tai chấn thương do khí áp, viêm tai bóng nước do siêu vi trùng. Thuốc không đi vào máu trừ trường hợp màng tai bị rách hay xây xước. Phải kiểm tra thật kỹ màng nhĩ của bệnh nhân trước khi cho thuốc. Trường hợp màng nhĩ bị rách, thuốc tiếp xúc với các cấu trúc tai giữa và tai trong gây các tai biến nặng nề như điếc, rối loạn thăng bằng...Nếu có biểu hiện ngoài da khi quá mẫn cảm với thành phần kháng sinh có trong thuốc nhỏ tai rất cẩn thận khi dùng kháng sinh cùng nhóm đó con đường toàn thân phối hợp. Các vận động viên nên lưu ý rằng thuốc này có chứa một thành phần mà hoạt chất đó có thể cho kết quả dương tính khi làm xét nghiệm kiểm tra sử dụng chất kích thích.
- Nhóm thuốc dùng cho trường hợp màng nhĩ bị thủng: được bào chế bằng những kháng sinh có tính an toàn cao cho ốc tai. OTOFA được bào chế với thành phần chính là rifamycine sodium. Thuốc có tác dụng tiêu diệt vi khuẩn Gr + và Gr – trong các bệnh nhiễm trùng tai giữa. Rifamycine gây tác động trên các ARN polymerase phụ thuốc AND bằng cách hình thành một phức hợp ổn định gây ức chế sự tăng trưởng của vi khuẩn. CIPLOX, EFEXINE là một loại thuốc nhỏ tai chứa kháng sinh ciprofloxacine-nhóm Quinolone tác động chủ yếu lên các vi khuẩn Gr – và một số vi khuẩn Gr +.
Thời gian điều trị không nên quá 10 ngày, nếu quá thời hạn nên đánh giá lại phương pháp điều trị. Theo nguyên tắc chung không nên dùng dưới áp suất và ngâm ấm đến nhiệt độ khoảng 20-25°C, tránh các kích thích về áp xuất và nhiệt lên bộ phận tiền đình của tai gây chóng mặt. Tuy nhiên cũng không có bất kỳ thuốc nào là an toàn tuyệt đối do vậy việc ngừng ngay dùng thuốc nếu thấy cơ thể có những dấu hiệu bất thường như ù tai, đau nhức tai, cảm giác chóng mặt và thông báo kịp thòi, phối hợp với bác sĩ điều trị để sử trí là rất cần thiết.
Cách dùng thuốc nhỏ tai như thế nào?
Nên để đầu sao cho một bên tai hướng xuống dưới đất. Nếu bạn tự nhỏ thuốc, thì tư thế dễ nhất là đứng hoặc ngồi và nghiêng đầu sang một bên. Nếu bạn nhỏ thuốc cho người khác, thì tư thế dễ nhất là người đó nghiêng đầu hoặc nằm nghiêng về một bên.
- Nếu thuốc có ống nhỏ giọt, hãy hút một vài giọt thuốc vào trong ống nhỏ giọt. Nếu chỉ có đầu nhỏ, thì bạn chỉ cần lật úp lọ thuốc xuống.
- Với người trưởng thành, bạn có thể nhẹ nhàng kéo vành tai hướng lên và về phía sau. Đối với trẻ em, bạn nên nhẹ nhàng kéo vành tai xuống và hướng về sau. Bóp chính xác số giọt thuốc vào trong tai. Số giọt thuốc theo chỉ định của bác sỹ.
Nhẹ nhàng kéo ống tai lên xuống để thuốc chảy vào trong tai. Giữ đầu nghiên trong khoảng 2-5 phút để thuốc có thể lan vào trong tai
- Lau sạch thuốc thừa ở ngoài tai bằng giấy ăn hoặc khăn sạch, đậy nắp lọ lại, bảo quản thuốc như hướng dẫn sử dụng.
- Những việc không nên làm:
+ Không nên sử dụng ống nhỏ giọt đã bị sứt mẻ, nứt hoặc bị bẩn
+ Không nên để đầu ống nhỏ hoặc đầu nhỏ của lọt huốc chạm vào tai, ngón tay hoặc bất cứ bề mặt nào khác. Việc này sẽ giúp ống nhỏ giọt không bị nhiễm vi khuẩn hoặc vi trùng có thể dẫn đến viêm tai
+ Không làm ấm thuốc bằng nước nóng. Việc này có thể khiến thuốc bị quá nóng và gây tổn thương tai của bạn.
+ Không dùng chung thuốc nhỏ tai với người khác vì có thể làm vi khuẩn và vi trùng lây lan rộng hơn.
Sau khi nhỏ thuốc nhỏ tai
- Một số loại thuốc nhỏ tai sẽ gây ra cảm giác nóng rát hoặc ngứa râm ran khi nhỏ lần đầu. Thông thường, đây không phải là vấn đề gì đáng lo ngại. Tuy nhiên, nếu cảm giác khó chịu không biến mất trong vòng 10-15 phút, hoặc nếu cảm giác khó chịu nặng hơn, bạn nên dừng nhỏ và gọi cho bác sỹ.
- Bạn cũng nên dừng nhỏ và gọi cho bác sỹ nếu bạn bị sưng ở trong tai sau khi sử dụng thuốc nhỏ tai.
- Nếu sau khi nhỏ thuốc tai bị ù, hãy nghiêng tai nhỏ xuống dưới đồng thời lấy bông tai sạch để ngay cửa tai để hút hết lượng thuốc nhỏ còn lại trong ống tai.
Có gì bất thường nên gặp lại bác sĩ khám cho bạn

NGOÁY TAI – THÓI QUEN TỐT HAY XẤU  Ngoáy tai là một động tác thường thấy ở rất nhiều người và khi được ...
30/11/2017

NGOÁY TAI – THÓI QUEN TỐT HAY XẤU

Ngoáy tai là một động tác thường thấy ở rất nhiều người và khi được hỏi tất cả mọi người đều trả lời cùng một nội dung là việc họ làm là tốt với mục đích vệ sinh tai cho sạch.
Quan điểm này được các thầy thuốc nhìn nhận như thế nào?
Trước hết hãy tìm hiểu cấu tạo của ống tai ngoài.
Là một ống đi từ cửa tai tới màng nhĩ. Do màng nhĩ nằm chếch xuống dưới và vào trong, nên thành trước dưới của ống tai ngoài dài hơn thành trên sau (thành trên sau dài 25 mm, thành trước dưới dài 30-31mm). Ống tai ngoài cong hình chữ S, lúc đầu hướng vào trong, ra trước và lên trên, rồi hơi cong ra sau và cuối cùng lại tiếp tục hướng vào trong, ra trước, nhưng lại hơi xuống dưới. Vì vậy, khi thăm khám màng nhĩ, ở người lớn ta phải kéo loa tai lên trên ra ngoài và ra sau, để giảm bớt độ cong. Ống tai có hình bầu dục, nhưng không đều nhau.
Ống tai có 2 chỗ hẹp: chỗ hẹp thứ nhất ở nơi tận hết của phần sụn, chỗ hẹp thứ 2 ở phần xương cách xoăn tai 20mm. Ống tai mở ra ngoài ở đáy xoăn tai bởi lỗ ống tai ngoài. Phía trước: ống tai ngoài liên quan với mỏm lồi cầu của xương hàm dưới. Lách giữa phần sụn của tai ngoài và mỏm lồi cầu có một phần nhỏ của tuyến nước bọt mang tai. Do vậy, một va chạm vào cầm làm cho lồi cầu xương hàm dưới trật ra sau, có thể làm vỡ ống tai ngoài.
- Phần trên: phần xương ống tai ngoài liên quan với tầng sọ giữa.
- Phía sau: ống tai ngoài ngăn cách với xoang chùm bởi 1 lớp xương mỏng.
Màng nhĩ là một màng mỏng, kết thúc giới hạn ống tai ngoài. Màng nhĩ nằm chếch tạo với thành dưới ống tai ngoài một góc khoảng 55°. Ống tai ngoài có các tuyến ráy, có nhiệm vụ tạo thành một lớp bảo vệ ống tai ngoài.
Việc sử dụng dụng cụ ngoáy tai như tăm bông…. Tác động lên thành ống tai, làm mất đi lớp biểu bì bảo vệ tai, có thể gây tổn thương da ống tai, tạo điều kiện thuận lwoij cho các vi khuẩn có thể xâm nhập xuống dưới lớp biểu bì gây viêm ống tai ngoài.
Đồng thời do ống tai ngoài có cấu trúc tạo thành một đường cong vì thế dễ chấn thương nếu tự ngoái tai.
Do không kiểm soát được vị trí tác động nên người ngoáy tai có thể làm tổn thương ống tai ngoài, đẩy khối ráy tai vào sâu hơn, thủng màng nhĩ, trong một số trường hợp cá biệt có thể tổn thương hệ thống xương con thậm chí cả tai trong (ví dụ khi đang ngoáy tai bị các lực khác tác động vào như bị người khác xô vào, vướng tay vào vật nào đó xung quanh hoặc ngã… Và việc xử trí những tai biến này rất khó khăn.
Và lời khuyên của thầy thuốc là không nên dùng bất cứ dụng cụ nào để ngoáy tai. Nếu ngứa tai hoặc có ráy tai, nên đến gặp bác sĩ tai mũi họng để xử trí.

24/02/2017

THỜI TIẾT THAY ĐỔI TRỞ LẠNH, GỬI BẠN ĐỌC BÀI VIẾT THAM KHẢO

CẢM LẠNH THÔNG THƯỜNG HAY VIÊM MŨI XOANG?

Đây là câu hỏi của rất nhiều người đến với bác sĩ? Họ thường mô tả sau khi cảm giác bị nhiễm lạnh, họ thấy sốt, hắt hơi, chảy nước mũi, ho. 90% các trường hợp này đều mua thuốc cảm uống và cảm nhận thấy các triệu chứng họ có đều nặng lên. Thường sau 10 ngày, họ mới đến với bác sĩ với các triệu chứng chảy nước mũi vàng xanh, kèm theo đau nhức mặt, mắt.

Vậy đây là bệnh gì? Quan điểm thế nào cho đúng?

Vậy hãy để ý các triệu chứng này nhé!

Nếu sau khi bị lạnh! Bên cạnh hắt hơi, dịch mũi chảy ra có màu vàng xanh thì đây là viêm mũi xoang đợt cấp! Cần đến bác sĩ ngay
Nếu sau khi cảm lạnh, bạn thấy hắt hơi, dịch mũi trong như nước mưa kèm theo đau mình mẩy thì đây là cảm lạnh. Có thể điều trị cảm lạnh bằng các thuốc có thành phần chủ yếu là thành phần paracetamol (acetaminophen) có công dụng hạ sốt, giảm đau, nhưng khi phối hợp với các dược chất khác như chlorpheniramin maleat (hoặc loratadin, fexofenadin) còn có thêm tác dụng chống dị ứng. Tuy nhiên nhiều kết quả nghiên cứu và sử dụng trên lâm sàng cũng cho thấy paracetamol uống gây hại gan, còn phenylpropanolamin và pseudoephedrin có thể gây đột quỵ cho người tăng huyết áp. Vì thế việc tham khảo ý kiến thầy thuốc trước khi sử dụng thuốc là rất quan trọng.

Nếu sau 2 ngày dùng các thuốc trên không đỡ cần phải đến khám ngay tại các cơ sở khám tai mũi họng. Không nên đợi đến khi đau nhức mặt, chảy mũi vàng xanh vì đây đã là biến chứng viêm xoang của đợt viêm mũi họng do lạnh (cảm lạnh).
Với tình trạng cảm lạnh, các thuốc dùng vẫn phải do thầy thuốc quyết định, bên cạnh các thuốc có thành phần kể trên, người thầy thuốc có thể sử dụng thêm các thốc điều trị tại chỗ của mũi. Thuốc co mạch mũi, trên thị trường hiện nay, có hai dạng bào chế chính đó dạng thuốc nhỏ mũi và thuốc xịt mũi với hoạt chất chính xylometazolin, naphtazoline. Thuốc được các bác sỹ khuyến cáo chỉ nên sử dụng trung bình trong 5-7 ngày/đợt điều trị vì nếu sử dụng trong thời gian dài sẽ dẫn đến hiện tượng khô niêm mạch mũi, ngạt mũi nhiều hơn, làm giảm tính đàn hồi của mạch máu trong niêm mạc mũi, làm hư hệ thống màng nhầy - lông chuyển. Do đó, việc đáp ứng của niêm mạc mũi đối với thuốc ngày càng giảm, tạo nên bệnh viêm mũi do thuốc ngạt mũi kéo dài. Một số thuốc chống viêm Etanolamine, Ster acid, disodium phosphate. Argyrol 1% là loại thuốc có muối bạc (Ag NO3) có tác dụng sát trùng nhẹ, làm săn niêm mạc mũi.

Có thể sử dụng kháng sinh nhóm beta lactam dự phòng bội nhiễm sau cảm lạnh tùy theo quyết định người thầy thuốc khi khám, đánh giá khả năng tự phục hồi của niêm mạc mũi không không được tránh tình trạng viêm nhiễm tấn công vào xoang. Nhóm có hoạt tính kháng cầu khuẩn Gram dương và Gram âm ưa khí và kỵ khí, kể cả hầu hết các chủng Staphylococcus tiết penicilinase, và có hoạt tính kháng vi khuẩn đường ruột Gram âm – các chủng vi khuẩn hay gây viêm họng. Beta lactam có hoạt lực cao, vì vậy có nồng độ ức chế tối thiểu (MIC) thấp đối với các chủng Streptococcus (nhóm A,B,C và G), các chủng Gonococcus và Meningococcus. Ban đầu, cefuroxim vốn cũng có MIC thấp đối với các chủng Gonococcus, Moraxella catarrhalis, Haemophilus influenzae và Klebsiella spp. tiết beta - lactamase.
Liều thông thường là 750 mg, 8 giờ một lần, Trẻ em và trẻ còn rất nhỏ: 30 mg đến 60 mg/kg thể trọng/ ngày, nếu cần có thể tăng đến 100 mg/ kg/ngày, chia làm 3 - 4 liều nhỏ. Trẻ sơ sinh có thể cho dùng tổng liều hàng ngày tương tự, nhưng chia làm 2 hoặc 3 liều nhỏ. Trường hợp suy thận: Khi độ thanh thải creatinin trong khoảng từ 10 - 20 ml/phút, dùng liều người lớn thông thường 750 mg, 12 giờ một lần. Khi độ thanh thải creatinin dưới 10 ml/phút, dùng liều người lớn thông thường 750 mg mỗi ngày một lần.
Việc điều trị sớm hay muộn của người bệnh còn có giá trị tiên lượng trong điều trị.
Do đó nếu sau cảm lạnh 2 ngày các triệu chứng không thuyên giảm, người bệnh phải đến khám tại các cơ sở y tế mà không nên tự ý mua thuốc tại các nhà thuốc.
Vì nếu viêm mũi đơn thuần do lạnh, hoặc thậm chí viêm mũi mủ do bội nhiễm sau cảm lạn, việc điều trị chỉ cần 7 – 10 ngày. Tuy nhiên nếu bệnh diễn biến thành viêm mũi xoang người bệnh sẽ phải điều trị trong 1 – 3 tháng. Đồng thời viêm mũi xoang là một biến chứng từ viêm mũi họng thông thường nên khả năng phục hồi của niêm mạc mũi và xoang rất khó khăn và thường sau đó viêm xoang rất dễ xảy ra và diễn biến nhanh hơn.

THUỐC CHỮA BỆNH TẠI HỌNG DO VI KHUẨNViêm họng do vi khuẩn chiếm khoảng 20% các nguyên nhân gây viêm họng tuy nhiên đây l...
20/10/2016

THUỐC CHỮA BỆNH TẠI HỌNG DO VI KHUẨN

Viêm họng do vi khuẩn chiếm khoảng 20% các nguyên nhân gây viêm họng tuy nhiên đây lại là nguyên nhân để viêm họng gây biến chứng toàn thân đặc biệt là lien cầu β tan huyết nhóm A như thấp tim, thấp khớp cấp, viêm cầu thận cấp để lại hậu quả nặng nề cho bản thân người bệnh, gia đình và xã hội.
Thế nào là viêm họng cấp do vi khuẩn: người bệnh xuất hiện khô rát họng, sốt đột ngột. Tùy độc tố của từng chủng vi khuẩn mà sốt có thể từ 37°5 đến 40°C, hơi thở hôi. Khám họng thấy niêm mạc họng đỏ, bề mặt có giả mạc trắng hoặc vàng bám, giả mạc dễ lấy và dễ tan trong nước.
Thuốc gì – Hiện tại theo kết quả của nhiều công trình nghiên cứu các chủng vi khuẩn gây bệnh tại họng cho rằng nhóm kháng sinh beta-lactam vẫn là nhóm thuốc điều trị hữu hiệu. Nhóm beta-lactam là một họ kháng sinh rất lớn, bao gồm các kháng sinh có cấu trúc hóa học chứa vòng beta-lactam. Khi vòng này liên kết với một cấu trúc vòng khác sẽ hình thành các phân nhóm lớn tiếp theo: nhóm penicilin, nhóm cephalosporin và các beta-lactam khác.
Về chỉ định nhóm beta-lactam được sử dụng để điều trị nhiễm trùng khác nhau do vi khuẩn gây ra, chẳng hạn như viêm xoang, viêm phổi, nhiễm trùng tai, viêm phế quản, viêm đường tiết niệu, nhiễm trùng da và viêm họng.
Một số lưu ý khi sử dụng: Người bệnh không sử dụng nếu có dị ứng với bất ký thuốc nào thuộc nhóm beta-lactam hoặc nếu đã từng dùng thuốc nhưng men gan tăng trong thời gian dùng. Với những người bệnh có tiền sử về gan, bệnh thận, hoặc tăng bạch cầu đơn nhân, hoặc nếu bị dị ứng với kháng sinh… đang có thai, cho con bú khi khám bệnh phải thông báo với bác sĩ điều trị.
Nên dùng nhóm beta-lactam thế nào để đem lại hiệu quả điều trị cũng như hạn chế tác dụng phụ của thuốc một cách tối đa?
- Hãy dùng chính xác theo quy định của bác sĩ. Không nên dùng với số lượng lớn hơn hoặc nhỏ hơn hoặc lâu hơn so với khuyến cáo. Thực hiện theo các hướng dẫn mà bác sĩ ghi lại cho bạn.
- Dùng thuốc với một ly nước đầy. Uống thuốc vào lúc bắt đầu của một bữa ăn để giảm kích ứng dạ dày.
- Dùng thuốc tại cùng một thời điểm mỗi ngày.
- Viên thuốc kháng sinh thường phải được uống cả viên trừ dạng bào chế có thể ngậm hoặc nhai.
- Nếu người bệnh không sử dụng được thuốc dạng viên, cần phải nói với bác sĩ để sử dụng dạng khác của thuốc ví dụ bột, siro. Lắc dạng lỏng của thuốc này ngay trước khi đo liều. Để chắc chắn sẽ có được liều lượng chính xác, đo chất lỏng với một muỗng đo lường hoặc ly thuốc.
- Hãy dùng thuốc đầy đủ thời gian theo quy định.
- Triệu chứng có thể cải thiện trước khi diệt hết được vi khuẩn, tuy nhiên vẫn phải sử dụng hết liều điều trị.
- Augmentin có thể gây ra kết quả sai với một số xét nghiệm glucose (đường) trong nước tiểu. Giới thiệu bác sĩ rằng đang sử dụng Augmentin.

Address

Lãng Yên

Telephone

+84982660119

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Phòng khám Tai Mũi Họng Việt- Pháp posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Share

Share on Facebook Share on Twitter Share on LinkedIn
Share on Pinterest Share on Reddit Share via Email
Share on WhatsApp Share on Instagram Share on Telegram

Category