13/05/2019
📌 PHÒNG NGỪA UNG THƯ VÚ (KỲ 4): PHÂN LOẠI CÁC GIAI ĐOẠN UNG THƯ
------------------------------------------------------
❌ CÁC ĐIỂM CHÍNH:
- Sau khi chẩn đoán ung thư vú được xác định, bước tiếp theo là tiến hành các xét nghiệm để khảo sát tình trạng các tế bào ung thư vẫn còn khu trú trong mô vú hay đã lan đến các bộ phận khác của cơ thể.
- Các tế bào ung thư có thể lây lan từ nơi khởi phát ung thư đến bộ phận khác của cơ thể, tế bào ung thư thường có 3 cách lây lan.
- Trong ung thư vú, việc phân giai đoạn sẽ dựa trên kích thước và vị trí của khối u tiên phát, tình trạng lây lan của tế bào ung thư đến các hạch bạch huyết gần đó hoặc các cơ quan khác của cơ thể, bản chất khối u và có dấu ấn sinh học đặc hiệu hay không.
- Hệ thống TNM được sử dụng trên lâm sàng để mô tả kích thước của khối u nguyên phát và sự lây lan của ung thư đến các hạch bạch huyết gần đó hoặc các cơ quan khác của cơ thể.
- Hệ thống phân loại ung thư (GRADE) được sử dụng để mô tả khối u vú có khả năng phát triển và lan rộng nhanh như thế nào.
- Xét nghiệm dấu ấn sinh học được sử dụng để tìm hiểu xem các tế bào ung thư vú có các thụ thể nhất định hay không.
- Hệ thống TNM, hệ thống phân loại GRADE và dấu ấn sinh học được kết hợp để xác định giai đoạn ung thư vú.
- Bạn cần trao đổi và tư vấn thêm với bác sĩ để hiểu rõ tình trạng bệnh lý cũng như lựa chọn các phương pháp điều trị tối ưu
✔️ Tế bào ung thư có 3 cách lây lan trong cơ thể
Tình trạng tế bào ung thư bắt đầu lây lan tới những nơi khác trong cơ thể, được gọi là di căn. Các tế bào ung thư rời khỏi nơi nó hình thành ( khối u tiên phát), lây lan qua mô, hệ mạch bạch huyết hoặc đường máu để di chuyển đến những nơi khác. Ung thư có thể:
● Mô. Ung thư lây lan từ nơi khởi nguồn đến những khu vực lân cận xung quanh.
● Hệ thống bạch huyết. Ung thư lây lan từ nơi khởi nguồn vào hệ mạch bạch huyết để đến các bộ phận khác trong cơ thể
● Đường máu. Ung thư lây lan từ nơi khởi nguồn vào đường máu để tới bộ phận khác trong cơ thể
Khối u di căn là cùng loại với khối u đầu tiên. Ví dụ, nếu ung thư vú di chuyển tới xương, tế bào ung thư ở xương thực ra là tế bào ung thư vú. Như vậy, tình trạng này được gọi là ung thư vú di căn, không phải ung thư xương.
Để lên kế hoạch điều trị tốt nhất và hiểu rõ tình trạng và tiên lượng bệnh, điều quan trọng là phải xác định được giai đoạn hiện tại của bệnh.
Có ba nhóm phân loại giai đoạn ung thư vú:
● Nhóm dùng để tiên lượng trên lâm sàng (Clinical Prognostic Stage) được sử dụng đầu tay để chỉ định giai đoạn cho tất cả bệnh nhân dựa vào tiền căn sức khoẻ, kiểm tra thể chất, các xét nghiệm hình ảnh (nếu đã được tiến hành) và các xét nghiệm sinh thiết. Giai đoạn tiên lượng lâm sàng được miêu tả bằng hệ thống TNM, điểm grade của khối u, tình trạng xuất hiện của thụ thể (ER, PR, HER2). Trong giai đoạn lâm sàng, nhũ ảnh và siêu âm được sử dụng để đánh giá các hạch bạch huyết lân cận nhằm tìm các dấu hiệu ung thư.
● Nhóm tiên lượng giai đoạn bệnh lý bằng mô học (Pathological Prognostic Stage) được sử dụng cho bệnh nhân đã phẫu thuật ở lần chữa trị đầu tiên của họ. Giai đoạn tiên lượng bệnh lý dựa vào các thông tin lâm sàng, tình trạng của thụ thể sinh học và các kết quả xét nghiệm từ các mẫu mô vú và dịch bạch huyết lấy trong lúc phẫu thuật.
● Nhóm tiên lượng giai đoạn giải phẫu dựa vào kích cỡ và sự lây lan của ung thư như được miêu tả bằng hệ thống TNM. Phân loại giải phẫu được áp dụng trong những trường hợp không có thụ thể sinh học.
✔️ Đối với bệnh ung thư vú, các giai đoạn được xác định dựa vào kích cỡ và vị trí của khối u tiên phát, tình trạng ung thư di chuyển tới các hạch bạch huyết lân cận hay các cơ quan khác trong cơ thể, điểm grade của khối u và sự hiện hiện của các thụ thể sinh học.
Đối với ung thư vú, hệ thống TNM miêu tả khối u như dưới đây:
Chỉ số (T) – tính chất khối u: Kích thước và vị trí của khối u.
Chỉ số ( N ) – di căn hạch bạch huyết. Kích thước và vị trí của các hạch bạch huyết nơi ung thư đã lan rộng.
Chỉ số (M) – di căn tạng/cơ quan. Sự lây lan của ung thư đến các bộ phận khác của cơ thể.
✔️ Khối u (T). Kích cỡ và vị trí khối u.
● Tx: Khối u tiên phát không thể đánh giá được.
● T0: Không có dấu hiệu ung thư tiên phát tại vú
● Tis: Xâm lân tại chỗ (Carcinoma in situ). Có hai loại ung thư vú xâm lấn tại chỗ:
○ Tis (DCIS): DCIS là tình trạng tế bào bất thường được tìm thấy ở thành các ống dẫn sữa. Các tế bào bất thường chưa lây lan ra bên ngoài ống tới các mô khác của vú. Trong vài trường hợp, DCIS có thể trở thành ung thư vú có khả năng xâm lân tới các mô khác. Trong tình huống này, không có cách nào để xác định phần nào của khối u bất thường sẽ xâm lấn nơi khác.
○ Tis (Bệnh paget): Bệnh paget của núm vú là tình trạng các tế bào bất thường được tìm thấy ở các tế bào da của núm vú và có thể lan qua quầng vú. Theo hệ thống TNM, đây chưa phải là một giai đoạn ung thư. Nhưng nếu bệnh paget VÀ các tế bào ung thư vú xâm lấn cùng hiện diện, hệ thống TNM được sử dụng để phân giai đoạn xâm lấn của ung thư vú.
● T1: Khối u vào khoảng 20 mm hoặc nhỏ hơn. Có 4 phân nhóm của T1 phụ thuộc vào kích cỡ khối u:
○ T1mi: khối u khoảng 1mm hoặc nhỏ hơn
○ T1a: Khối u lớn hơn 1mm nhưng không quá 5mm.
○ T1b: Khối u lớn hơn 5mm nhưng không quá 10mm
○ T1c: Khối u lớn hơn 10mm nhưng không quá 20mm
● T2: Khối u lớn hơn 20mm nhưng không quá 50mm
● T3: Khối u lớn hơn 50mm.
● T4: Khối u gồm một trong những cách dưới đây:
○ T4a: Khối u chỉ tồn tại khu trú ở thành ngực
○ T4b: Khối u lan rộng ở mặt da- hình thành vết loét trên bề mặt của da vùng vú, khối u nhỏ hình thành cùng bên vú có khối u tiên phát, và/hoặc có biểu hiện sưng vùng da vú
○ T4c: Khối u phát triển trên thành ngực và xâm lấn sâu xuống các lớp da bên dưới
○ T4d: Ung thư vú viêm (inflammatory breast cancer) một loại ung thư mà vú co triệu chứng sưng, nóng, đỏ. Vùng da vú xuất hiện những vết sần như vỏ quả cam.
✔️ Hạch bạch huyết (N). Kích cỡ và vị trí các hạch bạch huyết đã bị tế bào ung thư xâm lấn.
Trong quá trình phẫu thuật, hạch bạch huyết được cắt bỏ và chuyển mẫu sang phòng nghiên cứu của các bác sĩ giải phẫu bệnh để quan sát dưới kính hiển vi, quá trình phân giai đoạn bệnh lý ở mức độ (N) được sử dụng để miêu tả tình trạng của hạch bạch huyết. Qúa trình phân giai đoạn bệnh lý được miêu tả bên dưới.
● Nx: Hạch bạch huyết chưa thể đánh giá được.
● N0: Không có dấu hiệu của ung thư trong hạch bạch huyết, hay các cụm nhỏ tế bào ung thư không lớn hơn 0.2 mm trong hạch bạch huyết.
● N1: Ung thư có một trong những tính chất dưới đây:
○ N1mi: Ung thư đã lan tới hạch bạch huyết vùng dưới cánh tay, lớn hơn 0.2 mm và không lớn quá 2 mm
○ N1a: Ung thư đã lan tới từ 1 đến 3 hạch bạch huyết vùng dưới cánh tay và có ít nhất một hạch lớn hơn 2 mm
○ N1b: Ung thư đã lan tới hạch bạch huyết gần xương ức cùng bên tiên phát và tế bào ung thư lớn hơn 0.2 mm, được tìm thấy bởi sinh thiết hạch bạch huyết. Ung thư không được tìm thấy ở hạch bạch huyết vùng dưới cánh tay.
○ N1c: Ung thư đã lan tới 1 đến 3 hạch bạch huyết vùng dưới cánh tay và tế bào ung thư ở trong ít nhất một hạch bạch huyết lớn hơn 2 mm. Ung thư cũng được tìm thấy bằng sinh thiết hạch bạch huyết vùng gần xương ức cùng bên tiên phát.
● N2: Ung thư có một trong những tính chất sau:
○ N2a: ung thư đã lan từ 4 đến 9 hạch bạch huyết ở nách và có ít nhất 1 hạch bạch huyết lớn hơn 2 mm.
○ N2b: ung thư đã lan đến các hạch bạch huyết gần xương ức và ung thư được tìm thấy bằng các xét nghiệm hình ảnh. Ung thư không được tìm thấy trong các hạch bạch huyết ở nách bằng cách sinh thiết hạch bạch huyết hoặc bóc tách hạch.
● N3: Ung thư có một trong những tính chất dưới đây:
○ N3a: Ung thư đã lan trên 10 hạch bạch huyết vùng dưới cánh tay và có ít nhất một hạch lớn hơn 2 mm, hoặc ung thư đã lan tới hạch bạch huyết dưới đòn.
○ N3b: Ung thư đã lan tới từ 1 đến 9 hạch bạch huyết vùng dưới cánh tay và ung thư có ít nhất một hạch bạch huyết lớn hơn 2 mm. Bệnh cũng đã lan tới hạch bạch huyết gần xương đòn gánh và được phát hiện bởi các xét nghiệm kiểm tra hình ảnh.
Hoặc
○ Ung thư đã lan đến từ 4 tới 9 hạch bạch huyết vùng dưới cánh tay và có ít nhất một hạch bạch huyết lớn hơn 2 mm. Ung thư cũng đã lan tới hạch bạch huyết gần xương đòn cùng bên tiên phát, khối ung thư lớn hơn 0.2 mm và được tìm thấy bằng cách sinh thiết hạch.
● N3c: Ung thư đã lan tới hạch bạch huyết phía trên đòn cùng bên tiên phát
Khi các hạch bạch huyết được khảo sát bằng chụp nhũ ảnh hay siêu âm được gọi là quá trình phân giai đoạn lâm sàng. Quá trình phân giai đoạn lâm sàng không được miêu tả trong bài viết.
✔️ Di căn (M). Sự lây lan của ung thư tới phần khác của cơ thể.
● M0: Chưa ghi nhận dấu hiệu là ung thư đã lan tới phần khác trong cơ thể.
● M1: Ung thư đã lan tới cơ quan khác trong cơ thể, thường là xương, phổi, gan hay não. Trong trường hợp ung thư đã lan tới các hạch bạch huyết ở xa, ung thư trong hạch bạch huyết phải lớn hơn 0,2 mm.
✔️ Hệ thống phân loại GRADE được sử dụng để miêu tả tốc độ phát triển và di căn của khối ung thư vú.
Hệ thống chấm điểm GRADE miêu tả khối u dựa trên sự bất thường của các tế bào và mô ung thư khi được quan sát dưới kính hiển vi cũng như tốc độ phát triển và lây lan của tế bào ung thư. Các tế bào ung thư có tính chất gần giống các tế bào bình thường cũng như xu hướng phát triển và lây lan chậm hơn sẽ được đánh giá thấp điểm hơn các tế bào ác tính khác. Để miêu tả sự bất thường của các tế bào ung thư, các nhà giải phẫu bệnh học sẽ dựa vào ba tiêu chuẩn dưới đây:
● Có bao nhiêu mô u trong các ống dẫn sữa bình thường
● Kích cỡ và hình dạng của nhân tế bào của tế bào khối u.
● Có bao nhiêu tế bào đang phân chia hiện diện, để tiên lượng tốc độ phát triển và phân chia của tế bào ung thư.
Đối với mỗi tiêu chuẩn, các nhà giải phẫu bệnh học chấm điểm từ 1 tới 3; điểm “1” có nghĩa là các tế bào và khối u trông giống các tế bào và mô bình thường nhất, và điểm “3” có nghĩa các tế bào và mô trông bất thường nhất. Điểm của mỗi tiêu chuẩn được cộng lại và lấy tổng điểm từ 3 đến 9. Được chia thành 3 thang điểm sau đây:
● Điểm tổng từ 3 đến 5: G1 (Điểm thấp - trông bình thường và phát triển chậm)
● Điểm tổng từ 6 đến 7: G2 (Điểm trung bình - trông khá bất thường và phát triển trung bình)
● Điểm tổng từ 8 đến 9: G3 (Điểm cao - trông rất bất thường và phát triển nhanh)
✔️ Xét nghiệm dấu ấn sinh học được sử dụng để xác định tế bào ung thư vú có hay không những thụ thể đặc biệt
Các tế bào khoẻ mạnh, và một vài tế bào ung thư, có các thụ thể gắn với các nội tiết tố (hormones) estrogen và progesterone. Những nội tiết tố này là cần thiết ở các tế bào khoẻ mạnh, và một vài tế bào ung thư vú, để phát triển và phân chia. Để kiểm tra những thụ thể này, các mô mẫu chứa tế bào ung thư được lấy từ quá trình sinh thiết hay phẫu thuật. Các mẫu vật được kiểm tra trong phòng thí nghiệm để xem liệu tế bào ung thư vú có estrogen hay thụ thể progesterone hay không.
Một vài loại thụ thể khác được tìm thấy trên bề mặt của tất cả các tế bào ung thư vú được gọi là HER2. Thụ thể HER2 đóng vai trò quan trọng giúp tế bào ung thư vú phát triển và phân chia.
Trong ung thư vú, kiểm tra thụ thể bao gồm:
● Thụ thể estrogen (ER). Nếu tế bào ung thư vú có thụ thể estrogen, tế bào ung thư được gọi là dương tính estrogen (ER+). Nếu tế bào ung thư không có thụ thể estrogen, tế bào ung thư được gọi là âm tính estrogen (ER-)
● Thụ thể Progesterone. Nếu tế bào ung thư vú có thụ thể progesterone, tế bào ung thư được gọi là dương tính PR (PR+). Nếu tế bào ung thư không có thụ thể progesterone, tế bào ung thư được gọi là âm tính PR (PR-)
● Thụ thể yếu tố tăng trưởng loại 2 (HER2/neu hay HER2). Nếu tế bào ung thư vú có lượng thụ thể HER2 nhiều hơn bình thường trên bề mặt, tế bào ung thư được gọi là dương tính HER2 (HER2+). Nếu tế bào ung thư vú có lượng thụ thể bình thường trên bề mặt, tế bào ung thư được gọi là âm tính HER2 (HER2-). Ung thư vú HER+ có tốc độ phát triển và phân chia nhanh hơn ung thư vú HER2-/
Đôi khi tế bào ung thư sẽ được miêu tả như: “âm tính ba lần” hoặc “dương tính ba lần”.
● Ba lần âm tính. Nếu như tế bào ung thư vú không có thụ thể estrogen, không có thụ thể progesterone hay lượng thụ thể HER2 không nhiều hơn bình thường, tế bào ung thư được gọi là ba lần âm tính.
● Ba lần dương tính. Nếu như tế bào ung thư vú có thụ thể estrogen, có thụ thể progesterone, và lượng thụ thể HER2 lớn hơn bình thường, tế bào ung thư được gọi là ba lần dương tính.
Điều quan trọng là biết tình trạng thụ thể estrogen, thụ thể progesterone và thụ thể HER2 để lựa chọn phương pháp điều trị tốt nhất. Có các loại thuốc có thể ngăn cản các thụ thể liên kết với các hormone estrogen và progesterone và dừng sự phát triển của ung thư.Một số loại thuốc khác có thể được sử dụng để ngăn cản thụ thể HER2 gắn kết lên bề mặt của tế bào ung thư vú và khiến ung thư ngừng phát triển.
✔️ Hệ thống TNM, hệ thống phân loại grade, và tình trạng thụ thể được kết hợp để tìm ra giai đoạn bệnh ung thư vú.
Dưới đây là 3 ví dụ mà sự kết hợp của hệ thống TNM, hệ thống phân loại grade, và tình trạng thụ thể để tìm ra giai đoạn ung thư vú cho một phụ nữ được phẫu thuật ngay trong lần đầu điều trị:
(1) Nếu kích cỡ khối u là 30 mm (T2), chưa lan tới các hạch bạch huyết ở gần (N0), chưa lan tới các phần xa trong cơ thể (M0), và:
● Grade 1
● HER+
● ER-
● PR-
Bệnh ở giai đoạn IIA
(2) Nếu kích cỡ khối u là 53 mm (T3), đã lan tới từ 4 đến 9 hạch bạch huyết vùng dưới cánh tay (N2), chưa lan tới phần khác trong cơ thể (M0), và:
● Grade 2
● HER2+
● ER+
● PR-
Khối u đang ở giai đoạn IIIA
(3) Nếu kích cỡ khối u là 65 mm (T3), đã lan tới 3 hạch bạch huyết vùng dưới cánh tay (N1a), đã lan tới phổi (M1), và:
● Grade 1
● HER2+
● ER-
● PR-
Ung thư đang ở giai đoạn IV
✔️ Tư vấn với bác sĩ để xác định giai đoạn ung thư và cách điều trị tối ưu
Sau phẫu thuật, bác sĩ sẽ nhận được kết quả giải phẫu bệnh của khối u và báo cáo phẫu thuật, trong đó miêu tả kích thước và vị trí của khối u đầu tiên, sự lây lan của ung thư tới các hạch bạch huyết ở gần, điểm grade của khối u, và sự hiện diện của các thụ thể. Báo cáo bệnh học và những kết quả kiểm tra khác được sử dụng để xác minh giai đoạn bệnh ung thư vú.
Nếu bệnh nhân yêu cầu được biết chi tiết cách phân chia giai đoạn, bác sĩ sẽ giải thích các quá trình và cách thức phân giai đoạn được sử dụng để đưa ra quyết định điều trị tối ưu và hiện tại có thử nghiệm lâm sàng nào phù hợp với bệnh nhân hay không.
Kì tới: Các phương pháp điều trị ung thư vú
↪️ Mời các bạn để lại câu hỏi, bình luận tại đây hoặc số điện thoại để chuyên viên của Viện trực tiếp tư vấn miễn phí cho bạn.
VIỆN Y SINH VIỆT NAM 🇻🇳 – HOA KỲ 🇺🇸
Trụ sở chính: Số 10 đường Thái Nguyên, thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hoà.
Điện thoại: 0258 3815868 - Di động: 089 9368479
Website: http://vienysinhvietnamhoaky.vn/
Mail: info@vubi.org
Phân Viện tại Thành phố Hồ Chí Minh
Địa chỉ: Phòng 605A, toà nhà Diamond Plaza, 34 Lê Duẩn, phường Bến Nghé, quận 1, thành phố Hồ Chí Minh.
Di động: 089 9379268
Nguồn: https://www.cancer.gov/types/breast/patient/pregnancy-breast-treatment-pdq
Nội dung chỉ dành cho mục đích giáo dục, cung cấp thông tin. Thông tin này không nhằm thay thế lời khuyên, tư vấn hay nhận định của các chuyên gia y tế và bác sĩ.
Biên dịch: Nguyễn Văn Tú Cường
Hiệu đính: Ban biên dịch - VUBI