26/09/2025
HOÀNG CẦM - CÂU CHUYỆN ĐẰNG SAU VỊ THUỐC QUÝ TRONG ĐÔNG Y
Tương truyền, ở vùng núi Tứ Xuyên thuở xa xưa, có hai chị em gái mệnh bạc: người chị tên Hoàng Cầm, người em gọi là Hoàng Liên. Cha mất sớm, mẹ một mình vất vả nuôi con, đến khi kiệt sức lâm bệnh. Trước lúc lâm chung, bà nghẹn ngào dặn lại: “Mai sau, hai con phải nương tựa vào nhau. Dù ai có phúc phần thì cũng nhớ chia sẻ cho người kia". Hai chị em gật đầu đồng thuận, lời hứa còn vang mãi bên nấm mộ mẹ.
Sau tang mẹ, Hoàng Cầm dắt em lang bạt khắp nơi, xin ăn qua ngày, chịu đủ gió mưa sương gió. Ban đầu tình thâm nghĩa trọng, nhưng theo năm tháng, Hoàng Cầm dần coi em là gánh nặng, nảy sinh lòng dạ ích kỷ. Một ngày kia, chị nhẫn tâm bỏ mặc Hoàng Liên bé nhỏ, yếu ớt giữa chốn núi sâu để tìm đường riêng.
Tội nghiệp thay, Hoàng Liên thơ dại, không nơi nương tựa, đói khát lạnh lẽo mà chết yểu giữa rừng. Từ nơi em nằm xuống, mọc lên những khóm cây gầy guộc, thân hình khẳng khiu như chính kiếp đời khổ hàn của nàng. Người đời thương xót, gọi đó là cây Hoàng Liên. Cũng bởi chịu nhiều cay đắng, rét lạnh mà dược tính của vị thuốc này mang tính khổ hàn, đúng như số mệnh bi thương của Hoàng Liên.
Còn Hoàng Cầm, từ khi bỏ em gái, tuy tìm được chỗ ở tốt hơn, nhưng cứ nhớ lại chuyện xưa thì trong lòng hổ thẹn, đêm ngủ ác mộng triền miên, chẳng bao lâu vì lòng trống rỗng mà chết. Tại nơi Hoàng Cầm qua đời mọc lên một loại cỏ, rễ cũng màu vàng, lúc còn non thì chắc, khi lớn lên thì ruột rỗng và lõi đen, người ta bảo đó là hóa thân của Hoàng Cầm, nên gọi là cây Hoàng Cầm.
Hoàng cầm, còn được gọi là đạm hoàng cầm hay khô hoàng cầm, chính là phần rễ của một loài cây thuộc họ Hoa môi (Lamiaceae). Trong y học cổ truyền, vị thuốc này có vị đắng, tính hàn, quy vào các kinh Phế, Đởm, Đại trường, mang công năng thanh nhiệt táo thấp, tả hỏa giải độc, an thai. Phạm vi ứng dụng của Hoàng cầm rất rộng, hễ chứng bệnh khởi phát do thấp nhiệt đều có thể dùng. Chủ trị các chứng như: hoàng đản (vàng da), tả lỵ, nhiệt lâm (tiểu buốt, tiểu rát do nhiệt), nhọt độc, ôn bệnh, sốt cao cấp tính, ho do phế nhiệt, xuất huyết do huyết nhiệt, ung nhọt độc... Trong số đó, trị phế nhiệt được xem là tác dụng nổi bật nhất của vị thuốc này.
(Vị thuốc chủ đạo được dùng trong sản phẩm SIRO HEN SUYỄN PQA)