Nhà thuốc Sao Đỏ Phú Thọ

Nhà thuốc Sao Đỏ Phú Thọ Dược sĩ chuyên khoa 1 Trần Đình Bách
Thuốc tân dược, biệt dược, TPCN, y dụng cụ thông thường DSCKI Trần Đình Bách

ĐỪNG NHẦM LẪN SEDACHOR NAY VỚI SEDA VÀ SEDAPA XƯA KIAHiện nay trên thị trường không còn tồn tại SEDA SEDAPA. Do vậy sản ...
27/04/2026

ĐỪNG NHẦM LẪN SEDACHOR NAY VỚI SEDA VÀ SEDAPA XƯA KIA

Hiện nay trên thị trường không còn tồn tại SEDA SEDAPA. Do vậy sản phẩm có tên SEDACHOR có thành phần và tác dụng hoàn toàn khác.
- Nên lưu ý: Sedachor có thành phần 0,2gr Paracetamol và 0, 05gr (tức là 50mg) Cafein. Không có tác dụng giảm triệu chứng cúm.
- Thực ra thành phần giống hệt viên PANADOL EXTRA (và các loại có thành phần tương đương) chỉ khác là hàm lượng Paracetamol chỉ có ~40%.

23/04/2026
Với Dược Điển Việt Nam – Tôi mới góp mặt trong danh sách tương tác hàng tuần của họ vì là một trong những người tương tá...
15/04/2026

Với Dược Điển Việt Nam – Tôi mới góp mặt trong danh sách tương tác hàng tuần của họ vì là một trong những người tương tác nhiệt tình nhất đấy 🎉

VÌ SAO TÊN THUÔC KHÔNG CÓ SỰ THỐNG NHẤT KHI VIẾT CHỮ “E” Ở CUỐIViệc thêm ký tự "e" vào cuối tên thuốc (ví dụ: Penicillin...
15/04/2026

VÌ SAO TÊN THUÔC KHÔNG CÓ SỰ THỐNG NHẤT KHI VIẾT CHỮ “E” Ở CUỐI
Việc thêm ký tự "e" vào cuối tên thuốc (ví dụ: Penicilline, Aspirine, Paracetamole) dù trong tiếng Việt không cần thiết, dù không có vẫn đảm bảo tính chính xác, chủ yếu xuất phát từ các quy tắc ngôn ngữ học, lịch sử y khoa và xu hướng quốc tế hóa.
Cụ thể là những lý do được cho là giải thích rõ cho hiện tượng này như sau:
(tuy nhiên không có văn bản pháp quy nào giải thích điều này)
1. Ảnh hưởng của tiếng Pháp (Ngôn ngữ gốc)
Lịch sử y học hiện đại và ngành dược tại Việt Nam chịu ảnh hưởng rất lớn từ hệ thống đào tạo của Pháp. Trong tiếng Pháp, rất nhiều danh từ chỉ hợp chất hóa học hoặc dược chất kết thúc bằng đuôi "-e".
Ví dụ: Morphine, Quinine, Penicilline...
Các thế hệ dược sĩ và bác sĩ trước đây thường sử dụng tài liệu Pháp văn, dẫn đến việc giữ nguyên cách viết này như một thói quen chuyên môn và sự tôn trọng nguyên bản.
Ngay cả việc ghi tên enzyme bằng đuôi “aza” thay vì “ase” là không sai, nhưng nó (aza) thuộc về cách phiên âm cũ.
Cụ thể như sau: Đuôi -ase: là chuẩn quốc tế (tiếng Anh/Pháp) và là cách dùng phổ biến nhất hiện nay trong các tài liệu khoa học, sách giáo khoa mới tại Việt Nam (ví dụ: Amylase, Protease).
Đuôi -asa: là cách phiên âm theo lối cũ hoặc chịu ảnh hưởng từ tiếng Nga và Đức trước đây (ví dụ: Amylaza, Proteaza). Tuy nhiên cũng là cách viết đúng, không sai
2. Quy ước quốc tế về hóa học và dược khoa
Hệ thống danh pháp quốc tế (như IUPAC hoặc tên gốc quốc tế INN) thường sử dụng các hậu tố đặc trưng để phân loại nhóm thuốc:
Hậu tố "-ine": Thường dùng cho các Akaloid hoặc các hợp chất có chứa nitơ (Amine). Khi chuyển sang tiếng Anh hoặc tiếng Pháp, ký tự "e" ở cuối là bắt buộc để đúng ngữ pháp.
Hậu tố "-ide": Dùng cho các muối hoặc oxide (ví dụ: Chloride, Bromide).
Khi Việt hóa, việc giữ lại chữ "e" giúp tên thuốc trông "gần" với danh pháp quốc tế hơn, thuận tiện cho việc tra cứu tài liệu nước ngoài. Nếu bỏ đi cùng không sai.
3. Tránh nhầm lẫn trong phát âm và định danh
Trong tiếng Việt, một số tên thuốc nếu bỏ chữ "e" có thể tạo ra cách phát âm hoặc mặt chữ dễ gây nhầm lẫn với các từ thông dụng khác.
Việc thêm chữ "e" tạo ra một "dấu hiệu nhận diện" rằng đây là một thuật ngữ chuyên môn, một tên riêng biệt lập của ngành y dược.
Nó giúp phân biệt rõ ràng giữa tên thương mại (brand name) và tên hoạt chất (generic name) theo phong cách cổ điển.
4. Tính quy chuẩn theo qui định
Trước khi có các thông tư mới của Bộ Y tế về việc viết tên thuốc theo danh pháp quốc tế (thường ưu tiên lược bỏ các ký tự thừa để ngắn gọn, ví dụ: *Penicilin* thay vì Penicilline), thì việc thêm chữ "e" được xem là cách viết "đầy đủ" và "sang trọng" trong văn bản khoa học cũ.
Xu hướng hiện nay
Hiện nay, theo xu hướng đơn giản hóa và thống nhất với Dược điển Việt Nam cũng như các văn bản mới của Bộ Y tế:
- Các ký tự "thừa" như chữ "e" ở cuối hoặc các chữ kép (như "ll", "ss") đang dần được lược bỏ.
Ví dụ: Cách viết cũ: Aspirine nay cách viết mới là Aspirin.
Cách viết cũ: Penicilline nay cách viết mới là Penicilin.
Việc vẫn thường thấy chữ "e" xuất hiện cuối tên thuốc chủ yếu là do không cso quy định chính thức thống nhất, nên theo thói quen sử dụng của các dược sĩ lâu năm, trong các tài liệu chuyên khảo cũ hoặc trên bao bì của một số nhà sản xuất vẫn giữ phong cách truyền thống.

09/04/2026

ERYTHROMYXIN KHÔNG CÒN ĐƯỢC ƯU TIÊN CHỌN DÙNG Ở VIỆT NAM
Erythromycin không được ưu tiên dùng ở Việt Nam hiện nay vì một số lý do chính sau:
1. Tác dụng phụ đường tiêu hóa cao:
Erythromycin thường gây buồn nôn, nôn, đau bụng và tiêu chảy do nó kích thích nhu động ruột mạnh hơn so với các thuốc khác cùng nhóm (Macrolid).
2. Tương tác thuốc nhiều: Erythromycin là một chất ức chế mạnh enzym cytochrome P450 (CYP3A4), nên dễ gây tương tác với nhiều thuốc khác, làm tăng nguy cơ tác dụng phụ hoặc độc tính.
3. Kháng thuốc gia tăng:
Do đã được sử dụng từ rất lâu, vi khuẩn ở Việt Nam đã phát triển khả năng kháng Erythromycin tương đối cao, làm giảm hiệu quả điều trị.
4. Có thuốc thay tthế tốt hơn: Các thuốc Macrolid thế hệ mới như Clarithromycin và Azithromycin ít gây tác dụng phụ hơn, hiệu lực cao hơn và thời gian dùng thuốc ngắn hơn (đặc biệt là Azithromycin), nên được ưu tiên hơn trong điều trị.

THUỐC DÙNG CHO SUY GIẢM NỘI TIẾT TỐ NỮ TRONG GIAI ĐOẠN TIỀN MÃN KINH, MÃN KINH VÀ NHỮNG LƯU Ý (DSCKI Trần Đình Bách tổng...
02/03/2026

THUỐC DÙNG CHO SUY GIẢM NỘI TIẾT TỐ NỮ TRONG
GIAI ĐOẠN TIỀN MÃN KINH, MÃN KINH VÀ NHỮNG LƯU Ý
(DSCKI Trần Đình Bách tổng hợp và biên soạn)
Đối với phụ nữ, giai đoạn tiền mãn kinh, không chỉ có những thay đổi về sức khỏe nói chung mà còn có những rối loạn về tâm, sịnh lý. Đây là tình trạng tất yếu tự nhiên theo quy luật tuổi tác mà không phải do bệnh lý mang lại. Tình trạng suy giảm nội tiết dù chỉ là sự thay đổi tự nhiên của cơ thể, nhưng từ đó cũng gây nên những thay đổi về tâm sinh lý, tình trạng bệnh lý bất lợi ảnh hưởng đến sức khoẻ và chất lượng sống. Tuy nhiên, có nhiều biện pháp giúp phụ nữ tạo lập sự cân bằng và khắc phục những tác động bất lợi trong giai đoạn này, trong đó việc dùng thuốc hợp lý, đúng cách là điều không thể bỏ qua.
1. Khái quát về nội tiết giới tính nữ và các giai đoạn chuyển đổi
Estrogen và Progesteron là 2 Hormon giới tính quan trọng nhất đối với phụ nữ; giúp kiến tạo, chi phối toàn bộ đặc tính hình thể, sinh lý, giới tính, sắc đẹp; chịu trách nhiệm điều hoà kinh nguyệt và chức năng sinh sản..
- Trong đó các Hormon Estrogen tự nhiên (nội sinh) chủ yếu do buồng trứng tiết ra; một phần nhỏ đuợc sản sinh từ nhau thai và tuyến thượng thận. Nó có vai trò duy trì sự phát triển hình thể , các chức năng sinh lý, sinh dục, sinh sản mang tính đặc trưng cuả phụ nữ. Đồng thời có tác động đến hầu hết các cơ quan khác trong cơ thể: nhận thức, tâm sinh lý, bảo vệ tim mạch, duy trì các quá trình chuyển hoá, giấc ngủ, mật độ xương, ổn định tâm trạng và giữ độ ẩm cho da, niêm mạc... Giai đoạn phát huy ưu thế của Estrogen vào nửa đầu chu kỳ kinh nguyệt
- Hormon Progesteron chủ yếu do thể vàng (ở buồng trứng), một phần nhỏ do nhau thai và tuyến thương thận tiết ra ở nửa sau của chu kỳ kinh nguyệt. Nó có vai trò quan trọng trong sinh sản, duy trì ổn định chu kỳ kinh nguyệt; duy trì bảo vệ thai kỳ và phát triển tuyến sữa. Đồng thời Progestogen có vai trò chống tăng sinh nội mạc, hỗ trợ tâm trạng; và ít tác động gây ảnh hưởng bất lợi đến quá trình mãn kinh ở phụ nữ.
Nội tiết tố nữ thường đạt mức cao nhất và ổn định nhất trong độ tuổi từ 20 đến 30 tuổi. Sự sụt giảm nội tiết tố không diễn ra đột ngột mà là một quá trình kéo dài, thường bắt đầu từ sau tuổi 35.
- Tình trạng tiền mãn kinh (Perimenopause) là giai đoạn chuyển tiếp từ thời kỳ sinh sản sang mãn kinh, thường bắt đầu từ từ khoảng tuổi 40 trở đi và kéo dài trong khoảng từ 2 đến 8 năm trước khi mãn kinh thực sự. Kể từ giai đoạn này, nồng độ Estrogen có thể dao động thất thường, bắt đầu giảm nhanh so với thời kỳ đỉnh cao.
- Tình trạng mãn kinh (Menopause) là trạng thái sinh lý bình thường, được xác định khi người phụ nữ mất kinh liên tục trong 12 tháng. Lúc này, buồng trứng ngừng hoạt động hoàn toàn.
Khi chính thức bước vào thời kỳ mãn kinh, nồng độ Estrogen trong cơ thể còn rất thấp, chỉ khoảng 10% đến 20% so với mức đỉnh điểm; thậm chí, ở một số người, có thể giảm sâu hơn nữa, chỉ còn dưới 10%.
Tuổi mãn kinh trung bình vào khoảng từ 48 đến 52 tuổi, cũng có thể sớm hơn do di truyền, do phẫu thuật cắt buồng trứng, hoặc hoá, xạ trị khi điều trị ung thư.
2. Bản chất, nguyên nhân và biểu hiện của tình trạng mãn kinh:
• Bản chất:
- Về sinh lý, là quy luật tự nhiên, buồng trứng giảm sản xuất nội tiết tố Estrogen và Progesteron, dẫn đến sự kết thúc chu kỳ kinh nguyệt.
- Về tâm lý, sự thiếu hụt Estrogen nội sinh ảnh hưởng đến chất dẫn truyền thần kinh gây căng thẳng, lo âu, dễ cáu gắt, trầm cảm nhẹ, mất ngủ, hay quên
- Về bệnh lý, cơ thể mất cơ chế bảo vệ của Estrogen, dẫn đến các vấn đề thực thể như teo âm đạo, khô da, loãng xương, rối loạn tim mạch (huyết áp cao).
• Nguyên nhân cốt lõi là do:
- Sự lão hóa tự nhiên của buồng trứng, dẫn đến giảm số lượng và chất lượng nang noãn, giảm sản xuất Estrogen và Progesteron.
- Ngoài ra, do tác động từ các yếu tố như Stress; phẫu thuật cắt tử cung, buồng trứng hoặc hóa trị cũng gây mãn kinh sớm.
• Những biểu hiện điển hình khi suy giảm nội tiết:
- Rối loạn kinh nguyệt, làm cho chu kỳ kinh thất thường không đều, ngắn hoặc rong kinh.
- Rối loạn vận mạch gây ra các cơn bốc hỏa, đổ mồ hôi trộm về đêm, tim đập nhanh.
- Rối loạn giấc ngủ, khó ngủ, trằn trọc
- Thay đổi về tâm lý, thường hay bị trầm cảm nhẹ đến vừa, thay đổi cảm xúc dế cáu gắt, lo âu
- Thay đổi hình thái cơ thể làm cho da khô, nhăn nheo, tích tụ mỡ bụng, ngực chảy xệ.
- Tại cơ quan sinh dục gây tình trạng khô hạn âm đạo, đau khi quan hệ, giảm ham muốn tình dục.
3. Nguy cơ và tác động bất lợi đến tâm, sinh lý và sức khỏe
Nguy cơ và các tác động bất lợi chủ yếu xuất phát từ sự thiếu hụt, sụt giảm đột ngột Estrogen gây ra các hệ lụy dài hạn:
• Trên hệ xương khớp: Mất đi sự bảo vệ của Estrogen, quá trình hủy xương nhanh hơn tạo xương, dẫn đến loãng xương và tăng nguy cơ gãy xương.
• Trên hệ tim mạch: Tăng Cholesterol xấu (LDL) và giảm Cholesterol tốt (HDL), gây xơ vữa động mạch và cao huyết áp.
• Trên chuyẻn hoá: Tăng Insulin, đa số gây béo phì
• Trên hệ tiết niệu: Teo niêm mạc bàng quang, niệu đạo thường gây tiểu són, đễ nhiễm trùng đường tiết niệu, dễ tái phát.
• Về tâm lý: Rối loạn lo âu, trầm cảm, dễ cáu gắt, mất ngủ kéo dài gây suy giảm trí nhớ, giảm tự tin. Giảm ham muốn và khó khăn trong quan hệ tình dục
• Về chất lượng sống và năng lực làm việc: Giảm hiệu suất lao động, hạn chế năng động trong giao tiếp
4. Biện pháp khắc phục tổng thể
Cần áp dụng các biện pháp tổng thể nhằm tăng cường Hormon nội sinh, giảm các bệnh mãn tính.
• Duy trì chế độ dinh dưỡng và lối sống phù hợp:
- Chế độ ăn cần tăng cường bổ xung các loại thực phẩm giàu Estrogen tự nhiên (Phytoestrogen) giúp cân bằng nội tiết tố nữ bao gồm:
+ Đậu nành và các sản phẩm từ đậu nành (đậu phụ, mầm),
+ Hạt lanh và hạt mè (vừng).
+ Các loại rau họ cải (súp lơ, cải xoăn, bắp cải).
+ Trái cây khô và trái cây tươi (mơ, mận, chà là...) và quả mọng.
+ Tỏi và các gia vị có tỏi.
+ Các loại hạt như dẻ cười, hạnh nhân, đậu phộng...
+ Các loại thực phẩm khác như cá hồi, bơ, khoai tây, mầm cải, rượu vang đỏ....
- Chú trọng sử dụng các loại thực phẩm giàu vitamin D, Omega 3 và Canxi.
- Hạn chế các loại thực phẩm là đường tinh luyện và chất béo bão hoà.
- Tạo các điều kiện tối ưu để duy trì đảm bảo giấc ngủ đều (tránh dùng thuốc kích thích gây mất ngủ)
• Luyện tập:
- Các bài tập chịu trọng lực (đi bộ, yoga, nâng tạ nhẹ) vừa sức, giúp duy trì mật độ xương và kiểm soát cân nặng.
• Liệu pháp thay thế hormone (HRT)
Đây là tiêu chuẩn vàng trong điều trị triệu chứng nặng, cho hiệu quả cao, nhưng cần có sự chỉ định và hướng dẫn đầy đủ từ thầy thuốc.
5. Cập nhật các thuốc sử dụng cho phụ nữ tuổi mãn kinh và tiền mãn kinh
5.1. Thuốc dùng cho liệu pháp thay thế Hormon (HRT)
- Đối với phụ nữ bình thường (tử cung nguyên vẹn) cần kết hợp sử dụng Estrogen với các Progestoron.
Sử dụng Progestogens trong trường hợp này giúp chống tăng sinh nội mạc tử cung, giảm nguy cơ ung thư nội mạc tử cung (có thể xảy ra nếu chỉ dùng riêng Estrogen trong điều trị).
- Tuy nhiên đối với phụ nữ đã bị phẫu thuật cắt bỏ tử cung, chỉ sử dụng Estrogen (Oestrogen và các dẫn chất tổng hợp) đơn thuần.
• Các Estrogen và dẫn chất tổng hợp (còn gọi là Oestrogens):
- Estron còn gọi là: E1.hay Foliculin, là Estrogen yếu. Biệt dược: Foliculin, Folestrin, Oestrol, Progynon...
- Estropipat là Piperazine Estrone Sulfate dẫn chất của Estron, có hoạt tính của Estron. Biệt dược: Harmogen, Improvera, Ortho Est, Sulestrex, Ogen ...
- Estradiol còn gọi là: E2, là Estrogen mạnh nhất. Biệt dược: Progynova, Oestrogel, Aerodiol, Herafeme, Mercifort, Novestra, Katesa, Ovadiol, Valiera, Estrace ...
- Ethinylestradiol, dẫn chất của Estradiol. Biệt dược: Mikrofollin, Lynoral, Progynon C, Estinyl, Marvelone...
- Estriol còn gọi là: E3, là Estrogen yếu nhất. Biệt dược: Ovestin, Eskdiol...
• Các Progesteron và dẫn chất tổng hợp (còn gọi là Progestin hoặc Progestogens):
- Progesteron, có tên khác là Lutogynon, Prolusteron, Syntolutin. Biệt dược: Cyclogest, Utrogestan, Gladucorpin, Progestaject, Progendo, Lugerol, Progeffik, Progentin, Proges...
- Các Progesteron tổng hợp:
+ Medroxyprogesteron, thường dùng dạng muối Acetat. Biệt dược: Contracep, Plentiva, Petogen, Provedic...
+ Dydrogesteron, tên khác: Gestatron. Biệt dược: Duphaston, Dufaston... có tác dụng tương tự như Progesteron
+ Ethisteron, tác dụng mạnh hơn gấp 5, 6 lần so với Progesteron. Biệt dược: Lutocycol, Nalutron, Oraluton, Pranon...
+ Levonorgestrel. Biệt dược: Cerciorat, Estinor, Postinor, Postimew, Posinsap, Medonor..
+ Allylestrenol; Biệt dược: Turinal, Orageston, Gestanin, Gestanon...
+ Lynestrenol; Biệt dược: Exluton, Orgametril, Orgametrol, Emiception...
+ Norethisteron; Biệt dược: Triaklim; Pausogest, Primolut N
- Các thuốc Progesteron tổng hợp khác: Etynodion (mạnh hơn Progesteron khoảng 40 lần), Norgestrel (mạnh hơn Progesteron khoảng 9 lần), HydroxyProgesteron (mạnh hơn Progesteron khoảng 7 lần),
• Các thuốc phối hợp sẵn cho liệu pháp thay thế hormone (HRT):
- Prempro, Premphase; kết hợp Conjugated estrogens (dạng liên hợp là hỗn hợp Estrogens) và Medroxyprogesteron acetat hàm lượng 0,625 mg và 2,5mg
- Femoston; kết hợp Ethinyl Estradiol và Didrogesterona hàm lượng 1mg và 10mg hoặc 1mg và 5mg
- Fyavolv; kết hợp Norethindron acetat và Ethinyl Estradiol hàm lượng 0,5mg và 2,5μg. Một số biệt dược khác có cùng thành phần: Combipatch, Activella, Mimvey...
- Bijuva; kết hợp Estradiol và Progesteron.hàm lượng 0,5mg và 100mg hoặc 1mg và 100mg
• Các lưu ý khi dùng thuốc trong liệu pháp HRT:
- Cần phải được thầy thuốc hướng dẫn và chỉ định dùng thuốc. Người không có kiến thức chuyên môn về y tế đầy đủ không được tự ý sử dụng.
- Chống chỉ định đối với:
+ Chảy máu âm đạo không rõ nguyên nhân.
+ Ung thư vú, ung thư nội mạc tử cung hiện tại hoặc đã có tiền sử.
+ Bệnh lý tim mạch cấp, huyết khối tĩnh mạch sâu…
+ Cân nhắc giữa nguy cơ và lợi ích theo tuổi và thời gian sau mãn kinh.
- Những "nguyên tắc vàng" khi sử dụng liệu pháp HRT
+ Đừng bao giờ tự ý mua thuốc, dùng thuốc nội tiết khi không được hướng dẫn hoặc không có đầy đủ kiến thức y tế.
+ Phải đảm bảo không có khối u (u xơ, nhân xơ) ở vú và tử cung. Nội tiết tố có thể làm các khối u này phát triển nhanh hơn.
+ Nên kiểm tra chức năng gan và tình trạng đông máu khi sử dụng.
+ Thời điểm "vàng" đối với liệu pháp Hormon: Việc bắt đầu đúng lúc rất quan trọng. Các nghiên cứu chỉ ra rằng sử dụng HRT trong vòng 10 năm đầu kể từ khi mãn kinh sẽ mang lại lợi ích bảo vệ tim mạch tốt nhất. Nếu dùng quá muộn (sau 60 tuổi), nguy cơ tác dụng phụ sẽ cao hơn.
+ Hãy dùng liều lượng thấp nhất có hiệu quả và trong thời gian ngắn nhất để kiểm soát triệu chứng. Không nên lạm dụng thuốc trong nhiều năm liên tục nếu không có sự theo dõi sát sao.
Xem thêm bài viết Liệu pháp thay thế Hormone (đối với phụ nữ)- HRT - Hormone replacement therapy đăng trên trang Dược sĩ hành nghề dược, bài đăng có địa chỉ đường dẫn:
https://www.facebook.com/groups/449407456934934/posts/566366981905647
5.2. Thuốc cắt giảm các triệu chứng bất lợi không chứa Hormon
Các thuốc này chỉ cắt giảm các triệu chứng bất lợi, được sử dụng khi không thể dùng HRT. Thuốc không có tác dụng thiết lập cân bằng và chống rối loạn nội tiết.
- Paroxetin; là một thuốc chống trầm cảm, được FDA phê duyệt dùng cho tiền mãn kinh để điều trị các cơn bốc hỏa từ trung bình đến nặng từ năm 2014. Biệt dược: Bluetine, Brisdelle, Ferenat, Jolimood, Paxil, Sumiko...
Một số thuốc chống trầm cảm khác có thể dược dùng: Citalopram, Escitalopram, Venlafaxin, Desvenlafaxin... tuy nhiên các thuốc chống trầm cảm nói chung có nhiều tác dụng phụ, chỉ dùng liều thấp (so với dùng cho trầm cảm)
- Fezolinetant; thuốc trị các triệu chứng vận mạch (chống bốc hoả, đổ mồ hôi dêm), được FDA phê duyệt dùng cho tiền mãn kinh từ trung bình đến nặng từ năm 2023. Biệt dược: Fezotan, Lucifezo, Veoza, Veozah...
- Elinzanetant; là thuốc rất mới tương tự Fezolinetant. Được FDA chấp thuận dùng cho tiền mãn kinh từ trung bình đến nặng từ cuối tháng 10 năm 2025. Biệt dược: Lynkuet.
- Gabapentin; là một thuốc giảm kích thích TK, chống động kinh, chống co giật, cho tác dụng giảm rối loạn vận mạch, giúp giảm bốc hỏa, đặc biệt vào ban đêm. Biệt dược: Neurontin, Neuronstad, Gabalept, Garbapia... Thuốc khác cùng tác dụng: Pregabalin
- Clonidin; là thuốc huỷ giao cảm tác dụng lên TKTW (hạ huyết áp); giúp giảm bốc hỏa bằng cách ổn định thần kinh giao cảm. Biệt dược: Clomipress, Cloneon, Catapres...
5.3. Thuốc bảo vệ xương và chống loãng xương:
Đặc biệt cần thiết với phụ nữ đã loãng xương hay nguy cơ loãng xương cao.
- Glucosamin Sunfat; là thuốc kích thích và tham gia quá trình sinh tổng hợp sụn khớp, ức chế men phá huỷ sụn khớp, tăng sinh chất nhầy dịch khớp. Thường phối hợp với Chondroitin, một số thuốc phối hợp thêm MSM (Methylsulfonylmethane). Tuy nhiên, bên cạnh thuốc có nhiều sản phẩm phối hợp là thực phẩm chức năng cần xem xét kỹ hàm lượng để quyết định liều dùng.
- Bazedoxifen; tác dụng như Estrogen, dùng dự phòng loãng xương cho phụ nữ sau mãn kinh. Thuốc không dùng cho phụ nữ tiền mãn kinh có nhu cầu phòng ngừa loãng xương sớm. Biệt dược: Duavee...
- Diacerein; có tên khác: Diacetylrhein. Thuốc chống viêm, ngăn cản phá huỷ đồng thời cải thiện chức năng khớp và làm chậm quá trình thoái hóa sụn khớp. Biệt dược: Artreil, Artrodar, Bidacin...
- Alendronat; ức chế làm chậm quá trình tiêu xương, giúp tăng khối lượng xương chứ không phải thuốc chứa Canxi. Biệt dược: Alent, Drate, Novotec, Fosamax... Các thuốc khác cùng cơ chế cùng tác dụng: Clodronat, Zoledronat, Etidronat...
- Các thuốc bổ sung Canxi; khi sử dụng cần phải kèm theo vitamin D3
- Denosumab (Biệt dược: Prolia, Xgeva); Romosozumab (Biệt dược: Evenity) là các thuốc sinh học, kháng thể đơn dòng điều trị loãng xương và các bệnh lý xương khớp. Tuy nhiên giá thành của nhóm thuốc này hiện còn rất cao và chưa được dùng rộng rãi .
5.4. Thuốc khác hỗ trợ triệu chứng ngoài nội tiết:
• Thuốc dùng cho khô âm đạo
- Estrogen; nội tiết tố nữ dạng cream hoặc gel bôi âm đạo,
- Dùng bôi trơn âm đạo gốc nước: D***x, KY Jelly, Sagami...
• Thuốc dùng cho rối loạn giấc ngủ và lo âu nhẹ
- Melatonin; là Hormone tuyến tùng trong não, giúp điều hòa nhịp sinh học thức ngủ ngày, đêm và gây buồn ngủ. Cần dùng liều thấp.
- Các thuốc an thần nhẹ: Eszopiclon, Zopiclon... an thần gây ngủ, ít lệ thuộc thuốc
- Các thuốc hỗ trợ ngủ nguồn gốc thảo dược cho hiệu quả hạn chế.
• Thuốc dùng cho rối loạn mỡ máu và dự phòng bệnh tim mạch.
- Các thuốc chống tăng Lipid huyết nhóm Fibrat, Statin và Resin:
+ Nhóm Statin: Atorvastatin, Simvastatin, Rosuvastatin...
+ Nhóm Fibrat: Clofibrat, Bezafibrat, Fenofibrat, Gemfibrozil... không phối hợp với các thuốc Statin.
+ Nhóm Resin gắn với acid mật: Cholestyramin, Colestipol...
Cần lưu ý, các thuốc nhóm Statin có nhiều tương tác bất lợi khi phối hợp thuốc.
- Các thuốc ức chế hấp thu Cholesterol: Ezetimib, Lomitapid
- Một số thuốc Statin dạng phối hợp sẵn với Ezetimibe, với Vitamin B3 như Silvasten, Nasrix, Simcor, Atovze, Ezvasten, Advicor ...
- Các kháng thể đơn dòng điều trị mỡ máu cao (giá thành rất cao và chưa được dùng rộng rãi).
- Các acid béo không no: Omega 3 (EPA, DHA và ALA)
- Niacin (tên khác: Acid Nicotinic, Vitamin B3, Vitamin PP)
Bằng những thông tin về các phương diện liên quan và nhìn nhận về tổng quát:
Tiền mãn kinh và mãn kinh là quá trình sinh lý bình thường đối với phụ nữ. Tuy nhiên, quá trình này luôn ảnh hưởng sâu sắc tới sức khoẻ thể chất và tâm lý.
Hãy đừng quá lo lắng, đây là một tiến trình tự nhiên của cơ thể. Việc duy trì chế độ ăn uống hợp lý, tập luyện phù hợp đều đặn và dùng thuốc cũng như áp dụng liệu pháp Hormone thay thế đúng cách sẽ giúp vượt qua giai đoạn này nhẹ nhàng và thoải mái.
TÀI LIỆU THAM KHẢO:
1. Dược lý học; sách đào tạo dược sĩ đại học; chủ biên PGS TS Mai Tất Tố, TS Vũ Thị Trâm; Nhà xuất bản y học xuất bản năm 2024. Trang 283 - 321
2. Nhiều phụ nữ khủng hoảng vì suy giảm nội tiết tố; đăng trên Website BV phụ sản trung ương. Điạ chỉ đường link bài đăng:http://benhvienphusantrunguong.org.vn/news/giai-dap-y-hoc/nhieu-phu-nu-khung-hoang-vi-suy-giam-noi-tiet-to.html
3. Suy giảm nội tiết tố nữ: Nguyên nhân, dấu hiệu và cách chẩn đoán;
đăng trên Website Bệnh viện đa khoa MEDLATEC.
Điạ chỉ đường link bài đăng: https://share.google/2jNo8dFSDNcngZ33n
4. Thời kỳ mãn kinh ảnh hưởng như thế nào tới sức khỏe phụ nữ ? đăng trên Website Bệnh viện Vinmec. Điạ chỉ đường link bài đăng: https://www.vinmec.com/vie/bai-viet/thoi-ky-man-kinh-anh-huong-nhu-nao-toi-suc-khoe-phu-nu-vi
5. Nội tiết sinh dục nữ; đăng trên Website MSD MANUAL phiên bản dành chi chuyên gia. Điạ chỉ đường link bài đăng: https://www.msdmanuals.com/vi/professional/phụ-khoa-và-sản-khoa/nội-tiết-sinh-dục-nữ/nội-tiết-sinh-dục-nữ
6. FDA chấp thuận liệu pháp điều trị đầu tiên không dùng nội tiết tố cho cơn bốc hỏa liên quan đến thời kỳ mãn kinh; đăng trên Website Bệnh viện Từ Dũ. Điạ chỉ đường link bài đăng:https://tudu.com.vn/vn/y-hoc-thuong-thuc/thong-tin-thuoc/fda-chap-thuan-lieu-phap-dieu-tri-dau-tien-khong-dung-noi-tiet-to-cho-con-boc-hoa-lien-quan-den-thoi-ky-man-kinh/
7. Hormone Replacement Therapy for Menopause (Liệu pháp thay thế Hormone cho thời kỳ mãn kinh); đăng trên Website Webmd. Địa chỉ đường link bài đăng: https://www.webmd.com/menopause/menopause-hormone-therapy
8. Nội tiết sinh dục nữ; đăng trên Website MSD MANUAL – phiên bản dành cho chuyên gia. Địa chỉ đường link bài đăng: https://www.msdmanuals.com/vi/professional/phụ-khoa-và-sản-khoa/nội-tiết-sinh-dục-nữ/nội-tiết-sinh-dục-nữ
9. Age Related Hormones Changes and Its Impact on Health Status and Lifespan (Những thay đổi nội tiết tố liên quan đến tuổi tác và tác động của chúng đến tình trạng sức khỏe và tuổi thọ); đăng trên Website PubMed central.
Địa chỉ đường link bài đăng: https://pmc.ncbi.nlm.nih.gov/articles/PMC10187696/

Bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính (COPD)
16/02/2026

Bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính (COPD)

Bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính (COPD) là bệnh lý gây ra luồng khí bị tắc nghẽn từ phổi. Các triệu chứng phổi tắc nghẽn bao gồm khó thở, ho, tiết chất nhầy (đờm...

12/02/2026

Chúc mừng năm mới

Virus Nipah là tác nhân truyền nhiễm nguy hiểm, tỉ lệ tử vong cao theo dõi
29/01/2026

Virus Nipah là tác nhân truyền nhiễm nguy hiểm, tỉ lệ tử vong cao
theo dõi

Virus Nipah là tác nhân truyền nhiễm nguy hiểm, tỉ lệ tử vong cao. Để chủ động phòng chống bệnh do virus Nipal, người dân nên hạn chế đến khu vực đang có dịch; tự theo dõi sức khỏe trong vòng 14 ngày sau khi về từ vùng dịch...

VỀ SỰ THAY ĐỔI CÁCH GỌI TÊN KHÁNG SINH CHỐNG NẤM,CHỐNG VIRUS VÀ CHỐNG UNG THƯ TRONG KHOA HỌC Y, DƯỢCNhiều thầy thuốc (cả...
28/01/2026

VỀ SỰ THAY ĐỔI CÁCH GỌI TÊN KHÁNG SINH CHỐNG NẤM,
CHỐNG VIRUS VÀ CHỐNG UNG THƯ TRONG KHOA HỌC Y, DƯỢC
Nhiều thầy thuốc (cả dược sĩ và bác sĩ) được đào tạo và hành nghề vào những thập kỷ trước năm 2000, kể cả một số tài liệu chuyên môn vẫn coi kháng sinh chống nhiễm khuẩn, chống nấm, kháng virus, chống ung thư đều là kháng sinh nói chung.
Tuy nhiên theo sự phát triển của khoa học y dược đến nay cái chung đó đã không còn chính xác.
1. Về khái niệm “kháng sinh” nguyên gốc:
Thuật ngữ “kháng sinh” (antibiotic) nguyên thuỷ ban đầu dùng để chỉ các chất do vi sinh vật (vi khuẩn, nấm, xạ khuẩn…) tiết ra để ức chế vi sinh vật khác.
Theo đúng nghĩa nguyên sơ này, một số thuốc chống nấm, thuốc kháng ung thư có nguồn gốc từ vi sinh vật thực sự là “kháng sinh” theo đúng cả bản chất hóa dược, dược lý và cả ngữ nghĩa:
- Amphotericin B (chống nấm) được phân lập từ nuôi cấy xạ khuẩn Streptomyces nodosus.
- Nystatin (chống nấm) được phân lập từ xạ khuẩn đất Streptomyces noursei.
- Natamycin (chống nấm) được phân lập từ xạ khuẩn Streptomyces natalensis
- Griseofulvin (chống nấm) được phân lập từ nấm mốc Penicillium griseofulvum.
- Vidarabin (kháng virus)được phân lập từ nấm Cryptotethya crypta
- Dactinomycin, Doxorubicin, Beomycin, Epirubicin, Mitomycin C, Pentostatin, Plicamycin... (chống ung thư) cũng có nguồn gốc từ xạ khuẩn và các loại nấm khác nhau.
Tuy nhiên đến nay, rất nhiều thuốc kháng nấm, kháng virus, thuốc chống ung thư không có nguồn gốc tự nhiên, mà được tổng hợp hoàn toàn bằng các phương pháp hóa học, hướng phát huy tác dụng về phương diện dược lý cũng không phù hợp với bản chất và cơ chế “kháng sinh”.
Tuy nhiên đến nay, rất nhiều thuốc kháng nấm, kháng virus, thuốc chống ung thư không có nguồn gốc tự nhiên, mà được tổng hợp hoàn toàn bằng các phương pháp hóa học, hướng phát huy tác dụng về phương diện dược lý cũng không phù hợp với bản chất và cơ chế “kháng sinh”.
2. Về phương diện cơ chế tác dụng:
Dù cùng là các thuốc tiêu diệt hay ức chế vi sinh vật sống, nhưng đến nay không còn gom các nhóm trên vào “kháng sinh” theo nghĩa dược lý vì cơ chế, đích tác dụng hoàn toàn khác nhau.
- Thuốc kháng sinh là các thuốc chỉ tác động trên vi khuẩn để kìm hãm hoặc tiêu diệt vi khuẩn.
- Thuốc chống nấm tác động vào màng tế bào nấm, hoặc tổng hợp tế bào nấm có tác dụng kìm hãm hoặc tiêu diệt vi nấm gây bệnh.
- Thuốc kháng virus tác động ức chế sự nhân lên và phát tán của virus, hoặc ngăn cản virus xâm nhập, hòa màng và chỉ có tác dụng kìm hãm sự phát triển của virus.
- Thuốc ung thư có cơ chế diệt tế bào phân chia, tăng sinh nhanh.
3. Về tiêu chí phân loại có tính pháp lý:
Toàn bộ các tài liệu phân loại chính thống trong hệ thống y tế gồm:
- Hệ thống phân loại thuốc (ATC) của Tổ chức y tế Thế giới WHO,
- Dược điển và Dược thư Việt Nam,
Chỉ gọi các thuốc chống vi khuẩn là kháng sinh. Còn các nhóm thuốc có tác dụng chống vi sinh vật khác không được gọi là kháng sinh.
Theo Hệ thống phân loại thống kê quốc tế về thuốc ATC (Anatomical Therapeutic Chemical Classification System) do Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) quy định cụ thể là:
- Thuốc kháng sinh (Antibacterials, mã J01: Thuốc chống nhiễm khuẩn dùng toàn thân)
- Thuốc kháng nấm (Antifungals, mã J02: Thuốc kháng nấm dùng toàn thân)
- Kháng virus (Antivirals, mã J05: Thuốc kháng virus dùng toàn thân)
- Thuốc chống ung thư (Antineoplastic agents, mã L01: Các tác nhân chống ung thư)
Hệ thống này được WHO chính thức đề xuất và khuyến nghị sử dụng từ nam 1981, được công nhận rộng rãi và WHO thiết lập mạng lưới quản lý toàn cầu chặt chẽ hơn kể từ giữa những năm 1990 (có cập nhật hàng năm) .
Chính vì vậy định nghĩa nguyên thủy từ thập niên những năm 1940, không còn phù hợp và không còn được sử dụng.

CẦN HIỂU ĐÚNG HIỂU ĐỦ VỀ THUỐC “BỔ NÃO” ĐỪNG SỬ DỤNG VÔ TỘI VẠ, LỢI ÍT HẠI NHIỀU(DSCKI Trần Đình Bách tổng ợp và biên so...
13/01/2026

CẦN HIỂU ĐÚNG HIỂU ĐỦ VỀ THUỐC “BỔ NÃO” ĐỪNG SỬ DỤNG VÔ TỘI VẠ, LỢI ÍT HẠI NHIỀU
(DSCKI Trần Đình Bách tổng ợp và biên soạn 2023, cập nhật bổ xung 01.2026)
Não là cơ quan thần kinh trung ương, điều khiển trung tâm tối quan trọng của cơ thể. Mọi chẩn đoán, điều trị, sử dụng thuốc... đối với não cần phải rất thận trọng và xử trí chuẩn xác.
Để giữ gìn, bảo vệ an toàn cho thần kinh trung ương rất cần đảm bảo chế độ bổ dưỡng não bằng dinh dưỡng, bằng các thuốc tăng cường chuyển hoá chức năng hợp lý. Tuy nhiên, theo đó cũng cần phải hiểu đúng, hiểu đủ về thuốc, về yêu cầu bổ dưỡng và tăng chuyển hoá đúng nghĩa.
Việc gọi chung các thuốc tác dụng không hội đủ các yếu tố hướng vào hoạt động trí não, tăng cường lưu thông, tăng cường chuyển hoá và bảo vệ tế bào não là các thuốc “bổ não” thực ra là “không hoàn toàn chính xác”. Về bản chất đa phần các thuốc tăng cường lưu thông máu não không cung cấp dinh dưỡng “bổ não”, không cải thiện trí não và bảo vệ não. Chỉ có một số thuốc như Cerebrolysin (tinh chế từ não lợn), Citicoline (nguồn gốc tự nhiên, nội sinh), Omega 3 (chứa DHA, EPA) mới thực sự có tác dụng bổ dưỡng não đầy đủ.
Việc sử dụng các thuốc này “vô tội vạ” cũng có thể tiềm ẩn nhiều nguy hiểm rủi ro.
1. MỘT SỐ THÔNG TIN CƠ BẢN VỀ THUỐC “BỔ NÃO”
Xét theo quan điểm của y học hiện đại, không có một định nghĩa hay qui chuẩn qui định chính thức nào về phân loại thuốc bổ. Tuy nhiên, thuốc bổ được hiểu một cách cơ bản là các loại chế phẩm tân dược hay bào chế từ dược liệu có tác dụng duy trì mọi hoạt động bình thường, thiết lập cân bằng sinh học và thúc đẩy các chức năng sinh lý của các cơ quan trong cơ thể hoạt động tốt. Rộng hơn là các thực phẩm chức năng có thành phần, nồng độ, hàm lượng phù hợp với liều điều trị cũng được “coi như” thuốc bổ.
Thuốc bổ bao gồm các hoạt chất cung cấp những thành phần cơ thể đang bị thiếu hụt như vitamin, acid amine (đạm), chất béo, đường, các loại men (enzym), khoàng chất , các nguyên tố vi lượng, các chất chống oxy hoá ngăn chặn gây tổn thương tế bào …
Cụ thể với “bổ não” còn cần các hoạt chất giúp tăng cường hoạt động dẫn truyền thần kinh, cải thiện chức năng não bộ, phục hồi trí nhớ; tăng cường lưu thông máu não ổn định, đầy đủ.
2. TÁC DỤNG CHUNG CỦA CÁC TĂNG CHUYỂN HOÁ, BẢO VỆ NÃO VÀ “BỔ NÃO”:
Có thể khái quát các tác dụng của thuốc “bổ não” như sau:
- Tăng cường khả năng tuần hoàn lưu thông máu não, hạn chế co thắt nghẽn mạch.
- Điều hoà chức năng của tế bào thần kinh, giúp an thần, cắt giảm tình trạng căng thẳng lo âu quá độ.
- Hạn chế các rối loạn chức năng thần kinh như đau đầu, hoa mắt, chóng mặt,
- Hỗ trợ phục hồi tình trạng suy giảm trí nhớ, giảm khả năng tập trung làm việc và tư duy; tăng khả năng minh mẫn ghi nhớ tốt hơn.
- Chống các gốc tự do, loại trừ các chất oxy hoá, ngăn chặn gây tổn thương tế bào não, làm chậm quá trình lão hoá.
Khi dùng thuốc “bổ não” hợp lý, đúng mục đích thì sẽ giúp cơ thể có một tinh thần sảng khoái và tư duy tỉnh táo, đi đôi có một cơ thể khỏe mạnh.
3. NHỮNG LẦM TƯỞNG CỦA NGƯỜI BỆNH SỬ DỤNG THUỐC “BỔ NÃO”:
Nhiều người lại cho rằng đã là thuốc bổ thì chỉ bao gồm những công dụng có ích. Điều này không đúng. Thuốc bổ mang lại nhiều lợi ích cho sức khỏe nhưng cũng có thể tương tác với các thuốc khác sử dụng đồng thời hay gây những tác dụng bất lợi không mong muốn cho người dùng. Việc sử dụng các loại thuốc này một cách dễ dãi sẽ vừa mang lại các lợi ích, vừa đem đến nhiều hệ quả xấu ảnh hưởng đến sức khỏe.
Theo các qui định về chế độ kê đơn, ngoài một số thuốc bổ và vitamin dạng tiêm truyền cần phải kê đơn, còn lại đa số các thuốc bổ khác đều thuộc nhóm thuốc không kê đơn, nên việc sử dụng các thuốc bổ trong đó có “bổ não” không cần thầy thuốc kê đơn chỉ định.
Rất nhiều người, chủ yếu gồm nhóm đối tượng lao động trí óc, học sinh, sinh viên do học hành và làm việc căng thẳng, rất dễ lạm dụng thuốc “bổ não” không đúng cách để “tẩm bổ” cho não. Cạnh đó, số đông phụ nữ tuổi trung niên, người cao tuổi rất hay đau đầu, chóng mặt, suy giảm trí nhớ... luôn nghĩ rằng cần minh mẫn, thoải mái phải “bổ não”, từ đó bỏ tiền mua thuốc “bổ não” về uống vô tội vạ.
Đa phần người dùng tự cảm nhận khi bệnh nhẹ, không mấy khi kiểm tra thăm khám, tự tìm mua và sử dụng các thuốc có mác “dưỡng não, bổ não, hoạt huyết...” hoặc các sản phẩm được quảng cáo.
Sai lầm ở chỗ là cứ “bổ não” là tìm đến các sản phẩm gắn với tên gọi dưỡng não, hoạt huyết... tập trung vào những thuốc được quảng cáo nhiều như Hoạt huyết dưỡng não, Hoạt huyết bổ máu, “Bổ não Mỹ”, “Bổ não Nhật”, “Bổ não tốt nhất”. Mặt khác, sử dụng kéo dài, triền miên một vài thuốc trong vài tháng liền, thậm chí có người cả năm chỉ với một thuốc vì lý do “QUEN THUỐC”.
Cần nhớ rằng các thuốc có gắn với yếu tố “bổ não” (nhất là thực phẩm chức năng) không đơn thuần chỉ gồm các thuốc tăng lưu thông máu não và dưỡng não (các vitamin và dưỡng chất) mà còn bao gồm rất nhiều hoạt chất khác đi kèm để cải thiện lưu thông máu, chống tắc nghẽn mạch, khắc phục suy nhược thần kinh, phục hồi cải thiện trí nhớ.
Đừng nghĩ rằng thuốc bổ thì thích dùng bao nhiêu và trong bao lâu cũng được. Bất cứ thuốc nào, kể cả thuốc bổ đều có thể gây tai biến cho người sử dụng nếu dùng không đúng cách, đúng liều.
Chỉ xin điểm qua một vài tác dụng bất lợi của những hoạt chất thường dùng nhất trong các sản phẩm “bổ não” để thấy rõ:
- Ginkgo biloba (hoạt chất từ lá Bạch quả) có thể gây tăng hay giảm huyết áp ngoài ý muốn, tăng nguy cơ chảy máu, gây bồn chồn, thay đổi hành vi, có thể ảnh hưởng đến đường huyết không an toàn cho người bị đái tháo đường...
- Cao rễ đinh lăng quá liều có thể gây say thuốc, mệt mỏi, hoa mắt chóng mặt, tiêu chảy. Dùng quá dư thừa dài ngày có thể gây vỡ hồng cầu...
- Citicolin có thể xảy ra quá mẫn (shock), rối loạn nhịp tim, rối loạn vận mạch, tụt huyết áp...
- Piracetam có thể gây buồn nôn, ỉa chảy; mệt mỏi, bồn chồn, dễ bị kích động, đau đầu, mất ngủ hay ngủ gà...
- Thuốc chứa thành phần an thần kinh, dùng thừa có thể gây nhược cơ, ngủ rũ, tụt huyết áp..v.v.
Chính vì vậy, việc dùng thuốc “bổ não” cũng cần tuân thủ các nguyên tắc an toàn. Việc sử dụng tuỳ hứng, hoàn toàn có thể gây ra một số tác dụng không mong muốn đối với người dùng. Cũng không loại trừ có thể xảy ra tương tác bất lợi với chính các thuốc khác đang sử dụng điều trị.
4. NHỮNG ĐIỀU CẦN LƯU Ý KHI SỬ DỤNG THUỐC “BỔ NÃO”:
- Cần phải hiểu rằng thuốc không kê đơn cũng cần tham vấn Bác sĩ, Dược sĩ để dùng đúng, dùng hợp lý, không thể tuỳ hứng theo kiểu vô độ.
- Khi dùng thuốc “bổ não” cần xem xét, căn cứ các thiếu hụt, các yếu tố mất cân đối để chọn thuốc bổ dưỡng phù hợp với yêu cầu điều trị và thể trạng mỗi người bệnh.
- Chỉ đơn thuần các thuốc “bổ não” không thể chữa khỏi các chứng bệnh liên quan đến hệ thần kinh (dù là nhẹ) như đau đầu, hoa mắt, chóng mặt, mất ngủ, căng thẳng stress... mà luôn cần có các thuốc khác dùng kèm để khắc phục nguyên nhân, giảm thiểu triệu chứng cũng như hỗ trợ cho các hoạt động sinh lý bệnh của toàn cơ thể.
- Thuốc bổ chỉ giúp tăng cường sự dẻo dai bền bỉ cho cơ thể và đảm bảo sự phối hợp nhịp nhàng giữa các cơ quan trong cơ thể, không thể thay thế thuốc trị nguyên nhân và cắt giảm mọi triệu chứng.
- Không nên dùng một thuốc “bổ não” quá dài ngày, dễ dẫn đến nguy cơ dư thừa thuốc gây tai biến bất lợi. Mặt khác, dùng quá dài ngày dù chỉ là thuốc bổ, thì cũng gây quen thuốc, lệ thuộc thuốc. Nếu cần dùng bổ dưỡng não dài ngày, tốt nhất nên thay đổi từng đợt phù hợp bằng các thuốc có hoạt chất khác, cùng tác dụng, nhưng theo các cơ chế dược lý khác.
- Với thực phẩm chức năng được gọi là “bổ não” hoặc thuốc “bổ não” xách tay, không có nhãn mác đầy đủ (hoặc không được dịch hiểu) cần tham khảo tư vấn từ Bác sĩ, Dược sĩ (tốt nhất có trình độ đại học trở lên) để biết rõ mình sử dụng đúng không.
- Cần phải nhớ rằng Thuốc tốt không đồng nghĩa với giá thành. Đừng nghĩ rằng thuốc giá cao mới là tốt. Thuốc tốt là thuốc được dùng đúng loại, dùng kịp thời, phối hợp hợp lý và đủ liệu trình. Với mọi loại thuốc hoặc thực phẩm chức năng dùng điều trị bệnh đừng quá chú ý tới biệt dược, tới thương hiệu nước ngoài mà cần quan tâm đến hoạt chất gốc, đến tính phù hợp của dạng bào chế và giá thành hợp lý.
- Riêng các loại thực phẩm chức năng có tên An cung ngưu hoàng hoàn vốn được thổi phồng tác dụng như “thuốc tiên” để dự phòng và điều trị đột quị, có nhiều thành phần vừa bổ dưỡng phục hồi các chức năng não, vừa khắc phục các tai biến não, tuyệt đối không sử dụng cho mục đích “bổ não” như nhiều trang quảng cáo bán hàng đề cập. Thuốc chỉ tốt với tình huống cụ thể khác (đột quị không bị chảy máu não).
- Người điều khiển phương tiện tốt nhất không nên dùng thuốc “bổ não” khi tham gia giao thông vì nhiều loại có tác dụng an thần gây buồn ngủ nhẹ, không tỉnh táo.
- Khi sử dụng nếu phát hiện có các bất thường như ngứa ngáy, nổi mề đay, choáng váng, khó thở, có biểu hiện dị ứng thuốc... phải dừng ngay thuốc và xin trợ giúp từ BS, DS để có xử trí kịp thời, tránh những hậu quả đáng tiếc.
5. NHỮNG BÁT CẬP TRÊN THỊ TRƯỜNG CUNG ỨNG THUỐC VÀ THỰC PHẨM CHỨC NĂNG “BỔ NÃO”:
Trên thị trường thuốc có rất nhiều loại thuốc bổ dưỡng và “bổ não” hiệu quả đã được cấp phép và lưu hành tại Việt Nam. Chỉ có các loại thuốc “bổ não” dạng tiêm truyền mới là thuốc cần kê đơn và yêu cầu sử dụng phức tạp. Còn lại đa phần các thuốc dạng uống đều thuộc nhóm không cần kê đơn, sử dụng đơn giản.
Có tới hàng nghìn sản phẩm có liên quan đến hoạt huyết, “bổ não” đang lưu hành trên thị trường, được đăng ký dưới cả dạng thuốc và thực phẩm chức năng.
Trong đó thuốc luôn được đáp ứng các tiêu chuẩn chất lượng cao và thử nghiệm nghiêm ngặt, khẳng định được hiệu quả và tính an toàn.
Nhưng có quá nhiều các loại thực phẩm chức năng được gọi là “bổ não”, dưỡng não, bổ máu, hoạt huyết, ... đang lưu hành trên thị trường. Thành phần của thực phẩm chức năng “bổ não” chủ yếu gồm các phối hợp toàn phần dược liệu, một số có phối hợp hoạt chất tân dược với dược liệu. Chúng được bào chế sản xuất, đa phần dựa trên y lý của y học cổ truyền và không có nghiên cứu khoa học chứng minh hiệu quả đầy đủ hoặc thử nghiệm trên lâm sàng trược khi đưa vào sử dụng.
Các sản phẩm này bán rộng rãi ở mọi cơ sở kinh doanh, thương mại, trên các mạng bán hàng online.
Đáng ngại nhất rất nhiều thuốc, thực phẩm chức năng xách tay về Việt Nam, nhãn mác nước ngoài không có kèm chữ Việt, không có bản dịch hướng dẫn.... mọi nội dung tư vấn sử dụng được cung cấp từ những người không có bất kỳ kiến thức chuyên môn nào. Chính vì vậy, khả năng dùng sai thuốc, sai cách là rất cao. Nhiều người bỏ cả tiền triệu mua và sử dụng các thuốc được gọi là “bổ não” mà không có tác dụng gì với bản thân mình.
Điều đáng nói ở đây, khi đã là thực phẩm chức năng, việc sử dụng hoàn toàn theo hướng dẫn của bất kỳ ai không có chuyên môn y dược thì rủi do càng dễ xảy ra.
6. MỘT SỐ THUỐC “BỔ NÃO” CHÍNH HIỆN NAY:
Trên thị trường chủ yếu các sản phẩm “bổ não” thuộc các nhóm cơ bản sau:
- Thuốc có thành phần chính là Ginkgo biloba (hoạt chất được chiết xuất từ lá cây Bạch quả) tăng cường tuần hoàn, hỗ trợ gia tăng trí nhớ
- Thuốc có thành phần chính là Cinnarizine chống rối loạn tiền đình, tăng cường lưu thông máu
- Thuốc có thành phần chính là Cerebrolysin vai trò chính là dinh dưỡng thần kinh, tăng cường và phục hồi khả năng dẫn truyền, phục hồi các tổn thương, suy giảm trí tuê
- Thuốc có thành phần chính là Citicoline khắc phục các rối loạn thần kinh trung ương, cải thiện và phục hồi trí nhớ, khả năng vận động sau các tổn thương não...
- Thuốc có chứa Piracetam tác dụng lên hệ dẫn truyền thần kinh, khắc phục các rối loạn chuyển hoá tại não, cải thiện và khắc phục suy giảm trí nhớ
- Thuốc có chứa Saponin là một hoạt chất có có trong rễ của cây đinh lăng, tác dụng tăng cường sinh lực, trí lực, chống suy nhược thần kinh, tăng cường trí nhớ và chống suy nhược cơ thể
- Các vitamin nhóm B thường có trong các thuốc “bổ não” bao gồm Vitamin B6, Vitamin B5, vitamin B12, Vitamin B1, Vitamin B2... duy trì các hoạt động của tế bào thần kinh diễn ra bình thường, tăng tính dẫn truyền của các xung thần kinh để giúp cải thiện trí nhớ.
- Các chất dẫn truyền thần kinh hay tăng cường độ nhạy bén của các nơ-ron thần kinh như choline, DHA, EPA, ALA,... giảm đau, viêm, tăng cường miễn dịch, giúp cải thiẹn chức năng não và hệ thần kinh,
- Các thuốc và thực phẩm chức năng có nguồn gốc dược liệu cũng luôn có kết hợp từ một đến nhiều thành phần nêu trên. Thành phần chính chủ yếu gồm cao lá Bạch quả và cao rễ Đinh lăng
- Các thuốc chống gốc tự do (hoạt chất trong quả Việt quất) chứa Anthocyanin và Pterostilbene...
Bằng những thông tin cơ bản nhất, xin gửi tới mọi người bệnh chưa có cơ hội tìm hiểu kỹ và các đồng nghiệp chưa có điều kiện cập nhật đủ về chuyên đề. Mong rằng thông qua những thực trạng bất cập và những quan điểm chuyên môn chung nhất bài viết góp phần giúp người bệnh có được khả năng dùng thuốc hợp lý, an toàn hơn
TÀI LIỆU THAM KHẢO:
1. Phản ứng có hại của thuốc và cảnh giác dược đăng trong tài liệu Dược lâm sàng, những nguyên lý cơ bản và sử dụng thuốc trong điều trị, Nhà xuất bản y học 2014, chủ biên GS. TS Hoàn Thị Kim Huyền và TS J.R.B.J Brouwers
2. Thuốc bổ não Những lợi ích và cẩn trọng khi sử dụng, Bài đăng trên Website của Bệnh viện Medlatec, tại địa chỉ có đường dẫn https://medlatec.vn/.../thuoc-bo-nao-nhung-loi-ich-va-can...
3. Sử dụng thuốc bổ não “vô tội vạ” lợi 1 hại 10, Bài đăng trên Website của Bệnh viện Thu Cúc, tại địa chỉ có đường dẫn https://benhvienthucuc.vn/su-dung-thuoc-bo-nao-vo-toi.../...
4. Lưu ý khi dùng thuốc bổ não, bài viết đăng trên Website của Bệnh viện Vinmec, tại địa chỉ có đường dẫn https://www.vinmec.com/vi/thong-tin-duoc/su-dung-thuoc-toan/lưu-y-khi-dung-thuoc-bo-nao/

Address

C6WP+FG Phú Thọ, Việt Nam (Khu 1, Phường Phú Thọ)
Phu Tho

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Nhà thuốc Sao Đỏ Phú Thọ posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Contact The Practice

Send a message to Nhà thuốc Sao Đỏ Phú Thọ:

Share