Nhà thuốc Sao Đỏ Phú Thọ

Nhà thuốc Sao Đỏ Phú Thọ Dược sĩ chuyên khoa 1 Trần Đình Bách
Thuốc tân dược, biệt dược, TPCN, y dụng cụ thông thường DSCKI Trần Đình Bách

Virus Nipah là tác nhân truyền nhiễm nguy hiểm, tỉ lệ tử vong cao theo dõi
29/01/2026

Virus Nipah là tác nhân truyền nhiễm nguy hiểm, tỉ lệ tử vong cao
theo dõi

Virus Nipah là tác nhân truyền nhiễm nguy hiểm, tỉ lệ tử vong cao. Để chủ động phòng chống bệnh do virus Nipal, người dân nên hạn chế đến khu vực đang có dịch; tự theo dõi sức khỏe trong vòng 14 ngày sau khi về từ vùng dịch...

VỀ SỰ THAY ĐỔI CÁCH GỌI TÊN KHÁNG SINH CHỐNG NẤM,CHỐNG VIRUS VÀ CHỐNG UNG THƯ TRONG KHOA HỌC Y, DƯỢCNhiều thầy thuốc (cả...
28/01/2026

VỀ SỰ THAY ĐỔI CÁCH GỌI TÊN KHÁNG SINH CHỐNG NẤM,
CHỐNG VIRUS VÀ CHỐNG UNG THƯ TRONG KHOA HỌC Y, DƯỢC
Nhiều thầy thuốc (cả dược sĩ và bác sĩ) được đào tạo và hành nghề vào những thập kỷ trước năm 2000, kể cả một số tài liệu chuyên môn vẫn coi kháng sinh chống nhiễm khuẩn, chống nấm, kháng virus, chống ung thư đều là kháng sinh nói chung.
Tuy nhiên theo sự phát triển của khoa học y dược đến nay cái chung đó đã không còn chính xác.
1. Về khái niệm “kháng sinh” nguyên gốc:
Thuật ngữ “kháng sinh” (antibiotic) nguyên thuỷ ban đầu dùng để chỉ các chất do vi sinh vật (vi khuẩn, nấm, xạ khuẩn…) tiết ra để ức chế vi sinh vật khác.
Theo đúng nghĩa nguyên sơ này, một số thuốc chống nấm, thuốc kháng ung thư có nguồn gốc từ vi sinh vật thực sự là “kháng sinh” theo đúng cả bản chất hóa dược, dược lý và cả ngữ nghĩa:
- Amphotericin B (chống nấm) được phân lập từ nuôi cấy xạ khuẩn Streptomyces nodosus.
- Nystatin (chống nấm) được phân lập từ xạ khuẩn đất Streptomyces noursei.
- Natamycin (chống nấm) được phân lập từ xạ khuẩn Streptomyces natalensis
- Griseofulvin (chống nấm) được phân lập từ nấm mốc Penicillium griseofulvum.
- Vidarabin (kháng virus)được phân lập từ nấm Cryptotethya crypta
- Dactinomycin, Doxorubicin, Beomycin, Epirubicin, Mitomycin C, Pentostatin, Plicamycin... (chống ung thư) cũng có nguồn gốc từ xạ khuẩn và các loại nấm khác nhau.
Tuy nhiên đến nay, rất nhiều thuốc kháng nấm, kháng virus, thuốc chống ung thư không có nguồn gốc tự nhiên, mà được tổng hợp hoàn toàn bằng các phương pháp hóa học, hướng phát huy tác dụng về phương diện dược lý cũng không phù hợp với bản chất và cơ chế “kháng sinh”.
Tuy nhiên đến nay, rất nhiều thuốc kháng nấm, kháng virus, thuốc chống ung thư không có nguồn gốc tự nhiên, mà được tổng hợp hoàn toàn bằng các phương pháp hóa học, hướng phát huy tác dụng về phương diện dược lý cũng không phù hợp với bản chất và cơ chế “kháng sinh”.
2. Về phương diện cơ chế tác dụng:
Dù cùng là các thuốc tiêu diệt hay ức chế vi sinh vật sống, nhưng đến nay không còn gom các nhóm trên vào “kháng sinh” theo nghĩa dược lý vì cơ chế, đích tác dụng hoàn toàn khác nhau.
- Thuốc kháng sinh là các thuốc chỉ tác động trên vi khuẩn để kìm hãm hoặc tiêu diệt vi khuẩn.
- Thuốc chống nấm tác động vào màng tế bào nấm, hoặc tổng hợp tế bào nấm có tác dụng kìm hãm hoặc tiêu diệt vi nấm gây bệnh.
- Thuốc kháng virus tác động ức chế sự nhân lên và phát tán của virus, hoặc ngăn cản virus xâm nhập, hòa màng và chỉ có tác dụng kìm hãm sự phát triển của virus.
- Thuốc ung thư có cơ chế diệt tế bào phân chia, tăng sinh nhanh.
3. Về tiêu chí phân loại có tính pháp lý:
Toàn bộ các tài liệu phân loại chính thống trong hệ thống y tế gồm:
- Hệ thống phân loại thuốc (ATC) của Tổ chức y tế Thế giới WHO,
- Dược điển và Dược thư Việt Nam,
Chỉ gọi các thuốc chống vi khuẩn là kháng sinh. Còn các nhóm thuốc có tác dụng chống vi sinh vật khác không được gọi là kháng sinh.
Theo Hệ thống phân loại thống kê quốc tế về thuốc ATC (Anatomical Therapeutic Chemical Classification System) do Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) quy định cụ thể là:
- Thuốc kháng sinh (Antibacterials, mã J01: Thuốc chống nhiễm khuẩn dùng toàn thân)
- Thuốc kháng nấm (Antifungals, mã J02: Thuốc kháng nấm dùng toàn thân)
- Kháng virus (Antivirals, mã J05: Thuốc kháng virus dùng toàn thân)
- Thuốc chống ung thư (Antineoplastic agents, mã L01: Các tác nhân chống ung thư)
Hệ thống này được WHO chính thức đề xuất và khuyến nghị sử dụng từ nam 1981, được công nhận rộng rãi và WHO thiết lập mạng lưới quản lý toàn cầu chặt chẽ hơn kể từ giữa những năm 1990 (có cập nhật hàng năm) .
Chính vì vậy định nghĩa nguyên thủy từ thập niên những năm 1940, không còn phù hợp và không còn được sử dụng.

CẦN HIỂU ĐÚNG HIỂU ĐỦ VỀ THUỐC “BỔ NÃO” ĐỪNG SỬ DỤNG VÔ TỘI VẠ, LỢI ÍT HẠI NHIỀU(DSCKI Trần Đình Bách tổng ợp và biên so...
13/01/2026

CẦN HIỂU ĐÚNG HIỂU ĐỦ VỀ THUỐC “BỔ NÃO” ĐỪNG SỬ DỤNG VÔ TỘI VẠ, LỢI ÍT HẠI NHIỀU
(DSCKI Trần Đình Bách tổng ợp và biên soạn 2023, cập nhật bổ xung 01.2026)
Não là cơ quan thần kinh trung ương, điều khiển trung tâm tối quan trọng của cơ thể. Mọi chẩn đoán, điều trị, sử dụng thuốc... đối với não cần phải rất thận trọng và xử trí chuẩn xác.
Để giữ gìn, bảo vệ an toàn cho thần kinh trung ương rất cần đảm bảo chế độ bổ dưỡng não bằng dinh dưỡng, bằng các thuốc tăng cường chuyển hoá chức năng hợp lý. Tuy nhiên, theo đó cũng cần phải hiểu đúng, hiểu đủ về thuốc, về yêu cầu bổ dưỡng và tăng chuyển hoá đúng nghĩa.
Việc gọi chung các thuốc tác dụng không hội đủ các yếu tố hướng vào hoạt động trí não, tăng cường lưu thông, tăng cường chuyển hoá và bảo vệ tế bào não là các thuốc “bổ não” thực ra là “không hoàn toàn chính xác”. Về bản chất đa phần các thuốc tăng cường lưu thông máu não không cung cấp dinh dưỡng “bổ não”, không cải thiện trí não và bảo vệ não. Chỉ có một số thuốc như Cerebrolysin (tinh chế từ não lợn), Citicoline (nguồn gốc tự nhiên, nội sinh), Omega 3 (chứa DHA, EPA) mới thực sự có tác dụng bổ dưỡng não đầy đủ.
Việc sử dụng các thuốc này “vô tội vạ” cũng có thể tiềm ẩn nhiều nguy hiểm rủi ro.
1. MỘT SỐ THÔNG TIN CƠ BẢN VỀ THUỐC “BỔ NÃO”
Xét theo quan điểm của y học hiện đại, không có một định nghĩa hay qui chuẩn qui định chính thức nào về phân loại thuốc bổ. Tuy nhiên, thuốc bổ được hiểu một cách cơ bản là các loại chế phẩm tân dược hay bào chế từ dược liệu có tác dụng duy trì mọi hoạt động bình thường, thiết lập cân bằng sinh học và thúc đẩy các chức năng sinh lý của các cơ quan trong cơ thể hoạt động tốt. Rộng hơn là các thực phẩm chức năng có thành phần, nồng độ, hàm lượng phù hợp với liều điều trị cũng được “coi như” thuốc bổ.
Thuốc bổ bao gồm các hoạt chất cung cấp những thành phần cơ thể đang bị thiếu hụt như vitamin, acid amine (đạm), chất béo, đường, các loại men (enzym), khoàng chất , các nguyên tố vi lượng, các chất chống oxy hoá ngăn chặn gây tổn thương tế bào …
Cụ thể với “bổ não” còn cần các hoạt chất giúp tăng cường hoạt động dẫn truyền thần kinh, cải thiện chức năng não bộ, phục hồi trí nhớ; tăng cường lưu thông máu não ổn định, đầy đủ.
2. TÁC DỤNG CHUNG CỦA CÁC TĂNG CHUYỂN HOÁ, BẢO VỆ NÃO VÀ “BỔ NÃO”:
Có thể khái quát các tác dụng của thuốc “bổ não” như sau:
- Tăng cường khả năng tuần hoàn lưu thông máu não, hạn chế co thắt nghẽn mạch.
- Điều hoà chức năng của tế bào thần kinh, giúp an thần, cắt giảm tình trạng căng thẳng lo âu quá độ.
- Hạn chế các rối loạn chức năng thần kinh như đau đầu, hoa mắt, chóng mặt,
- Hỗ trợ phục hồi tình trạng suy giảm trí nhớ, giảm khả năng tập trung làm việc và tư duy; tăng khả năng minh mẫn ghi nhớ tốt hơn.
- Chống các gốc tự do, loại trừ các chất oxy hoá, ngăn chặn gây tổn thương tế bào não, làm chậm quá trình lão hoá.
Khi dùng thuốc “bổ não” hợp lý, đúng mục đích thì sẽ giúp cơ thể có một tinh thần sảng khoái và tư duy tỉnh táo, đi đôi có một cơ thể khỏe mạnh.
3. NHỮNG LẦM TƯỞNG CỦA NGƯỜI BỆNH SỬ DỤNG THUỐC “BỔ NÃO”:
Nhiều người lại cho rằng đã là thuốc bổ thì chỉ bao gồm những công dụng có ích. Điều này không đúng. Thuốc bổ mang lại nhiều lợi ích cho sức khỏe nhưng cũng có thể tương tác với các thuốc khác sử dụng đồng thời hay gây những tác dụng bất lợi không mong muốn cho người dùng. Việc sử dụng các loại thuốc này một cách dễ dãi sẽ vừa mang lại các lợi ích, vừa đem đến nhiều hệ quả xấu ảnh hưởng đến sức khỏe.
Theo các qui định về chế độ kê đơn, ngoài một số thuốc bổ và vitamin dạng tiêm truyền cần phải kê đơn, còn lại đa số các thuốc bổ khác đều thuộc nhóm thuốc không kê đơn, nên việc sử dụng các thuốc bổ trong đó có “bổ não” không cần thầy thuốc kê đơn chỉ định.
Rất nhiều người, chủ yếu gồm nhóm đối tượng lao động trí óc, học sinh, sinh viên do học hành và làm việc căng thẳng, rất dễ lạm dụng thuốc “bổ não” không đúng cách để “tẩm bổ” cho não. Cạnh đó, số đông phụ nữ tuổi trung niên, người cao tuổi rất hay đau đầu, chóng mặt, suy giảm trí nhớ... luôn nghĩ rằng cần minh mẫn, thoải mái phải “bổ não”, từ đó bỏ tiền mua thuốc “bổ não” về uống vô tội vạ.
Đa phần người dùng tự cảm nhận khi bệnh nhẹ, không mấy khi kiểm tra thăm khám, tự tìm mua và sử dụng các thuốc có mác “dưỡng não, bổ não, hoạt huyết...” hoặc các sản phẩm được quảng cáo.
Sai lầm ở chỗ là cứ “bổ não” là tìm đến các sản phẩm gắn với tên gọi dưỡng não, hoạt huyết... tập trung vào những thuốc được quảng cáo nhiều như Hoạt huyết dưỡng não, Hoạt huyết bổ máu, “Bổ não Mỹ”, “Bổ não Nhật”, “Bổ não tốt nhất”. Mặt khác, sử dụng kéo dài, triền miên một vài thuốc trong vài tháng liền, thậm chí có người cả năm chỉ với một thuốc vì lý do “QUEN THUỐC”.
Cần nhớ rằng các thuốc có gắn với yếu tố “bổ não” (nhất là thực phẩm chức năng) không đơn thuần chỉ gồm các thuốc tăng lưu thông máu não và dưỡng não (các vitamin và dưỡng chất) mà còn bao gồm rất nhiều hoạt chất khác đi kèm để cải thiện lưu thông máu, chống tắc nghẽn mạch, khắc phục suy nhược thần kinh, phục hồi cải thiện trí nhớ.
Đừng nghĩ rằng thuốc bổ thì thích dùng bao nhiêu và trong bao lâu cũng được. Bất cứ thuốc nào, kể cả thuốc bổ đều có thể gây tai biến cho người sử dụng nếu dùng không đúng cách, đúng liều.
Chỉ xin điểm qua một vài tác dụng bất lợi của những hoạt chất thường dùng nhất trong các sản phẩm “bổ não” để thấy rõ:
- Ginkgo biloba (hoạt chất từ lá Bạch quả) có thể gây tăng hay giảm huyết áp ngoài ý muốn, tăng nguy cơ chảy máu, gây bồn chồn, thay đổi hành vi, có thể ảnh hưởng đến đường huyết không an toàn cho người bị đái tháo đường...
- Cao rễ đinh lăng quá liều có thể gây say thuốc, mệt mỏi, hoa mắt chóng mặt, tiêu chảy. Dùng quá dư thừa dài ngày có thể gây vỡ hồng cầu...
- Citicolin có thể xảy ra quá mẫn (shock), rối loạn nhịp tim, rối loạn vận mạch, tụt huyết áp...
- Piracetam có thể gây buồn nôn, ỉa chảy; mệt mỏi, bồn chồn, dễ bị kích động, đau đầu, mất ngủ hay ngủ gà...
- Thuốc chứa thành phần an thần kinh, dùng thừa có thể gây nhược cơ, ngủ rũ, tụt huyết áp..v.v.
Chính vì vậy, việc dùng thuốc “bổ não” cũng cần tuân thủ các nguyên tắc an toàn. Việc sử dụng tuỳ hứng, hoàn toàn có thể gây ra một số tác dụng không mong muốn đối với người dùng. Cũng không loại trừ có thể xảy ra tương tác bất lợi với chính các thuốc khác đang sử dụng điều trị.
4. NHỮNG ĐIỀU CẦN LƯU Ý KHI SỬ DỤNG THUỐC “BỔ NÃO”:
- Cần phải hiểu rằng thuốc không kê đơn cũng cần tham vấn Bác sĩ, Dược sĩ để dùng đúng, dùng hợp lý, không thể tuỳ hứng theo kiểu vô độ.
- Khi dùng thuốc “bổ não” cần xem xét, căn cứ các thiếu hụt, các yếu tố mất cân đối để chọn thuốc bổ dưỡng phù hợp với yêu cầu điều trị và thể trạng mỗi người bệnh.
- Chỉ đơn thuần các thuốc “bổ não” không thể chữa khỏi các chứng bệnh liên quan đến hệ thần kinh (dù là nhẹ) như đau đầu, hoa mắt, chóng mặt, mất ngủ, căng thẳng stress... mà luôn cần có các thuốc khác dùng kèm để khắc phục nguyên nhân, giảm thiểu triệu chứng cũng như hỗ trợ cho các hoạt động sinh lý bệnh của toàn cơ thể.
- Thuốc bổ chỉ giúp tăng cường sự dẻo dai bền bỉ cho cơ thể và đảm bảo sự phối hợp nhịp nhàng giữa các cơ quan trong cơ thể, không thể thay thế thuốc trị nguyên nhân và cắt giảm mọi triệu chứng.
- Không nên dùng một thuốc “bổ não” quá dài ngày, dễ dẫn đến nguy cơ dư thừa thuốc gây tai biến bất lợi. Mặt khác, dùng quá dài ngày dù chỉ là thuốc bổ, thì cũng gây quen thuốc, lệ thuộc thuốc. Nếu cần dùng bổ dưỡng não dài ngày, tốt nhất nên thay đổi từng đợt phù hợp bằng các thuốc có hoạt chất khác, cùng tác dụng, nhưng theo các cơ chế dược lý khác.
- Với thực phẩm chức năng được gọi là “bổ não” hoặc thuốc “bổ não” xách tay, không có nhãn mác đầy đủ (hoặc không được dịch hiểu) cần tham khảo tư vấn từ Bác sĩ, Dược sĩ (tốt nhất có trình độ đại học trở lên) để biết rõ mình sử dụng đúng không.
- Cần phải nhớ rằng Thuốc tốt không đồng nghĩa với giá thành. Đừng nghĩ rằng thuốc giá cao mới là tốt. Thuốc tốt là thuốc được dùng đúng loại, dùng kịp thời, phối hợp hợp lý và đủ liệu trình. Với mọi loại thuốc hoặc thực phẩm chức năng dùng điều trị bệnh đừng quá chú ý tới biệt dược, tới thương hiệu nước ngoài mà cần quan tâm đến hoạt chất gốc, đến tính phù hợp của dạng bào chế và giá thành hợp lý.
- Riêng các loại thực phẩm chức năng có tên An cung ngưu hoàng hoàn vốn được thổi phồng tác dụng như “thuốc tiên” để dự phòng và điều trị đột quị, có nhiều thành phần vừa bổ dưỡng phục hồi các chức năng não, vừa khắc phục các tai biến não, tuyệt đối không sử dụng cho mục đích “bổ não” như nhiều trang quảng cáo bán hàng đề cập. Thuốc chỉ tốt với tình huống cụ thể khác (đột quị không bị chảy máu não).
- Người điều khiển phương tiện tốt nhất không nên dùng thuốc “bổ não” khi tham gia giao thông vì nhiều loại có tác dụng an thần gây buồn ngủ nhẹ, không tỉnh táo.
- Khi sử dụng nếu phát hiện có các bất thường như ngứa ngáy, nổi mề đay, choáng váng, khó thở, có biểu hiện dị ứng thuốc... phải dừng ngay thuốc và xin trợ giúp từ BS, DS để có xử trí kịp thời, tránh những hậu quả đáng tiếc.
5. NHỮNG BÁT CẬP TRÊN THỊ TRƯỜNG CUNG ỨNG THUỐC VÀ THỰC PHẨM CHỨC NĂNG “BỔ NÃO”:
Trên thị trường thuốc có rất nhiều loại thuốc bổ dưỡng và “bổ não” hiệu quả đã được cấp phép và lưu hành tại Việt Nam. Chỉ có các loại thuốc “bổ não” dạng tiêm truyền mới là thuốc cần kê đơn và yêu cầu sử dụng phức tạp. Còn lại đa phần các thuốc dạng uống đều thuộc nhóm không cần kê đơn, sử dụng đơn giản.
Có tới hàng nghìn sản phẩm có liên quan đến hoạt huyết, “bổ não” đang lưu hành trên thị trường, được đăng ký dưới cả dạng thuốc và thực phẩm chức năng.
Trong đó thuốc luôn được đáp ứng các tiêu chuẩn chất lượng cao và thử nghiệm nghiêm ngặt, khẳng định được hiệu quả và tính an toàn.
Nhưng có quá nhiều các loại thực phẩm chức năng được gọi là “bổ não”, dưỡng não, bổ máu, hoạt huyết, ... đang lưu hành trên thị trường. Thành phần của thực phẩm chức năng “bổ não” chủ yếu gồm các phối hợp toàn phần dược liệu, một số có phối hợp hoạt chất tân dược với dược liệu. Chúng được bào chế sản xuất, đa phần dựa trên y lý của y học cổ truyền và không có nghiên cứu khoa học chứng minh hiệu quả đầy đủ hoặc thử nghiệm trên lâm sàng trược khi đưa vào sử dụng.
Các sản phẩm này bán rộng rãi ở mọi cơ sở kinh doanh, thương mại, trên các mạng bán hàng online.
Đáng ngại nhất rất nhiều thuốc, thực phẩm chức năng xách tay về Việt Nam, nhãn mác nước ngoài không có kèm chữ Việt, không có bản dịch hướng dẫn.... mọi nội dung tư vấn sử dụng được cung cấp từ những người không có bất kỳ kiến thức chuyên môn nào. Chính vì vậy, khả năng dùng sai thuốc, sai cách là rất cao. Nhiều người bỏ cả tiền triệu mua và sử dụng các thuốc được gọi là “bổ não” mà không có tác dụng gì với bản thân mình.
Điều đáng nói ở đây, khi đã là thực phẩm chức năng, việc sử dụng hoàn toàn theo hướng dẫn của bất kỳ ai không có chuyên môn y dược thì rủi do càng dễ xảy ra.
6. MỘT SỐ THUỐC “BỔ NÃO” CHÍNH HIỆN NAY:
Trên thị trường chủ yếu các sản phẩm “bổ não” thuộc các nhóm cơ bản sau:
- Thuốc có thành phần chính là Ginkgo biloba (hoạt chất được chiết xuất từ lá cây Bạch quả) tăng cường tuần hoàn, hỗ trợ gia tăng trí nhớ
- Thuốc có thành phần chính là Cinnarizine chống rối loạn tiền đình, tăng cường lưu thông máu
- Thuốc có thành phần chính là Cerebrolysin vai trò chính là dinh dưỡng thần kinh, tăng cường và phục hồi khả năng dẫn truyền, phục hồi các tổn thương, suy giảm trí tuê
- Thuốc có thành phần chính là Citicoline khắc phục các rối loạn thần kinh trung ương, cải thiện và phục hồi trí nhớ, khả năng vận động sau các tổn thương não...
- Thuốc có chứa Piracetam tác dụng lên hệ dẫn truyền thần kinh, khắc phục các rối loạn chuyển hoá tại não, cải thiện và khắc phục suy giảm trí nhớ
- Thuốc có chứa Saponin là một hoạt chất có có trong rễ của cây đinh lăng, tác dụng tăng cường sinh lực, trí lực, chống suy nhược thần kinh, tăng cường trí nhớ và chống suy nhược cơ thể
- Các vitamin nhóm B thường có trong các thuốc “bổ não” bao gồm Vitamin B6, Vitamin B5, vitamin B12, Vitamin B1, Vitamin B2... duy trì các hoạt động của tế bào thần kinh diễn ra bình thường, tăng tính dẫn truyền của các xung thần kinh để giúp cải thiện trí nhớ.
- Các chất dẫn truyền thần kinh hay tăng cường độ nhạy bén của các nơ-ron thần kinh như choline, DHA, EPA, ALA,... giảm đau, viêm, tăng cường miễn dịch, giúp cải thiẹn chức năng não và hệ thần kinh,
- Các thuốc và thực phẩm chức năng có nguồn gốc dược liệu cũng luôn có kết hợp từ một đến nhiều thành phần nêu trên. Thành phần chính chủ yếu gồm cao lá Bạch quả và cao rễ Đinh lăng
- Các thuốc chống gốc tự do (hoạt chất trong quả Việt quất) chứa Anthocyanin và Pterostilbene...
Bằng những thông tin cơ bản nhất, xin gửi tới mọi người bệnh chưa có cơ hội tìm hiểu kỹ và các đồng nghiệp chưa có điều kiện cập nhật đủ về chuyên đề. Mong rằng thông qua những thực trạng bất cập và những quan điểm chuyên môn chung nhất bài viết góp phần giúp người bệnh có được khả năng dùng thuốc hợp lý, an toàn hơn
TÀI LIỆU THAM KHẢO:
1. Phản ứng có hại của thuốc và cảnh giác dược đăng trong tài liệu Dược lâm sàng, những nguyên lý cơ bản và sử dụng thuốc trong điều trị, Nhà xuất bản y học 2014, chủ biên GS. TS Hoàn Thị Kim Huyền và TS J.R.B.J Brouwers
2. Thuốc bổ não Những lợi ích và cẩn trọng khi sử dụng, Bài đăng trên Website của Bệnh viện Medlatec, tại địa chỉ có đường dẫn https://medlatec.vn/.../thuoc-bo-nao-nhung-loi-ich-va-can...
3. Sử dụng thuốc bổ não “vô tội vạ” lợi 1 hại 10, Bài đăng trên Website của Bệnh viện Thu Cúc, tại địa chỉ có đường dẫn https://benhvienthucuc.vn/su-dung-thuoc-bo-nao-vo-toi.../...
4. Lưu ý khi dùng thuốc bổ não, bài viết đăng trên Website của Bệnh viện Vinmec, tại địa chỉ có đường dẫn https://www.vinmec.com/vi/thong-tin-duoc/su-dung-thuoc-toan/lưu-y-khi-dung-thuoc-bo-nao/

NHỮNG ĐIỀU CƠ BẢN NGƯỜI DÙNG THUỐC CHỮA BỆNH CẦN PHẢI BIẾT1 - Dùng thuốc phải đúng bệnh, chỉ nên dùng thuốc theo đơn, th...
03/01/2026

NHỮNG ĐIỀU CƠ BẢN NGƯỜI DÙNG THUỐC CHỮA BỆNH CẦN PHẢI BIẾT
1 - Dùng thuốc phải đúng bệnh, chỉ nên dùng thuốc theo đơn, theo chỉ dẫn, không dùng thuốc theo cảm tính.
- Nếu không có chuyên môn phù hợp không nên tự chỉ định thuốc, không dùng thuốc theo mách bảo của người khác không có chuyên môn. Sử dụng không đúng thuốc sẽ không khỏi bệnh hoặc có thể gây tai biến, hậu quả khó lường.
2 - Khi phát hiện bệnh cần dùng thuốc ngay càng sớm càng tốt, nếu dùng muộn diễn biến bệnh có thể nhanh chóng xấu đi, thậm chí mất khả năng đề kháng và hồi phục (nếu bệnh nặng).
3 - Cần cung cấp đầy đủ thông tin về tiền sử dùng thuốc khi khám bệnh, kê đơn, hoặc khi yêu cầu tư vấn sử dụng thuốc (nếu có thể qua trí nhớ hoặc tài liệu khám cũ):
- Các thuốc đã dùng điều trị cho căn bệnh hiện tại (tên thuốc, liều lượng, cách dùng, liệu trình).
- Các thuốc đã bị kháng, không có tác dụng (nếu đã biết).
- Tiền sử dùng thuốc đã gây dị ứng hoặc tai biến (kể cả thuốc đã gây tác dụng phụ bất lợi).
- Tiền sử các bệnh khác đã mắc hoặc đang mắc phải (nhất là các bệnh dạ dày, gan, thận, tim mạch, dễ chảy máu, tiểu đường...) để tránh chỉ định thiếu thuốc, trùng lặp thuốc và tránh tai biến do dùng thuốc.
4 - Dùng thuốc phải đúng liều, đủ liệu trình cần thiết (đặc biệt các thuốc kháng sinh dùng không đủ liều không những không khỏi bệnh mà còn có nguy cơ nhanh chóng bị kháng thuốc).
- Không tự ý tăng liều, việc làm này có thể không làm giảm nhanh triệu chứng, giảm nhanh bệnh mà gây tăng độc tính, có thể ngộ độc hoặc xảy ra tai biến nghiêm trọng do thuốc.
5 - Dùng thuốc phải đúng cách, đúng hướng dẫn:
- Dạng thuốc cho đường dùng nào thì phải theo đường đó.
+ Đa số các thuốc sử dụng không đúng đường dùng đều kém hoặc không tác dụng, nhiều trường hợp gây nguy hiểm.
+ Một số thuốc tiêm có thể uống, nhưng thuốc uống dạng lỏng nhất thiết không được tiêm.
+ Một số thuốc tiêm dùng đường uống không có tác dụng, hoặc bị phân huỷ mất hoàn toàn tác dụng (Penicillin G), hoặc tác dụng sai khác (Magne Sunfat tiêm...).
+ Một số thuốc uống không (hoặc rất ít) thấm qua thành ruột, chỉ có tác dụng tại đường ruột, không có tác dụng trên toàn thân (thuốc trị giun sán; Streptomycin; Kanamycin; các Sunfamit như Ganidan, Talazon, Sunfasalazin...)
- Nên dùng thuốc đúng thời giờ và đúng cách hướng dẫn:
+ Thuốc gây kích ứng dạ dày phải uống lúc no.
+ Thuốc có tác dụng phụ bất lợi (mệt mỏi, cồn cào...) nên uống lúc no.
+ Thuốc viên bao tan trong ruột không uống lúc no, không bẻ không cắn vỡ thuốc.
+ Thuốc phóng thích chậm, tác dụng kéo dài phải nuốt, không bẻ không cắn vỡ thuốc.
+ Thuốc viên ngậm không nên uống; (lưu ý thuốc ngậm dưới lưỡi hấp thu trực tiếp một phần lớn vào máu, cho tác dụng rất nhanh nhất là khi cấp cứu)
+ Thuốc viên sủi bọt nhất thiết phải pha trong nước, hoà tan hết mới uống.
+ Thuốc viên đạn, viên trứng không có nang bao (đặt hậu môn, âm đạo) khi dùng để lạnh cho cứng viên thuốc.
+ Thuốc viên nang, viên bao phim khi uống không phá bỏ nang, không cắn vỡ thuốc.
+ Thuốc nhỏ mắt có thể nhỏ mũi, nhỏ tai; ngược lại không được dùng nhỏ mắt.
+ Thuốc tiêm dễ gây shock phản vệ (kháng sinh, một số thuốc tê...) phải thử test trước khi tiêm.
+ Thuốc tiêm tĩnh mạch (IV) không được tiêm bắp (IM) và ngược lại. Chỉ các thuốc có ghi rõ trên bao bì IM, IV, mới có thể dùng theo cả 2 đường ...
- Các thuốc chưa phân liều (thuốc bột để pha dung dịch uống, hỗn dịch, xiro, cồn thuốc...) khi pha cần đong, đo chính xác.
6 - Không dùng thuốc theo đơn của người khác, hoặc đơn cũ của chính mình mặc dù thấy có triệu chứng tương tự.
- Triệu chứng cho cảm nhận về lâm sàng giống nhau nhưng bệnh có thể khác.
- Cùng một bệnh nhưng có thể do các nguyên nhân tác động gây bệnh khác nhau, phải điều trị và dùng thuốc khác nhau.
- Một thuốc có thể phù hợp cho người này nhưng không phù hợp với người khác (khi có bệnh nền khác kèm theo, cơ địa dị ứng, tình trạng kháng thuốc, nhờn thuốc tuỳ cá thể...).
7 - Hãy ngừng ngay thuốc khi có những dấu hiệu bất thường (khó thở, tím tái, dị ứng, đau bụng, tăng đau đớn...). Trường hợp này cần liên hệ ngay với Bác sĩ hoặc Dược sĩ để thay thế thuốc khác phù hợp hoặc xử trí kịp thời. Đặc biệt chú trọng với các thuốc tiêm truyền đưa trực tiếp vào máu.
8 - Không tự ý phối hợp thuốc, có thể xảy ra đối kháng tác dụng hoặc tương kỵ, phát sinh các phản ứng bất lợi. Một số thuốc dùng đồng thời có tác dụng hiệp đồng, gây đáp ứng quá mức, gây tai biến, không đảm bảo an toàn.
- Các thuốc có tương kỵ, thuốc đối kháng tác dụng (thường đã được người kê đơn lưu ý trước) không được dùng phối hợp đồng thời.
9 - Dùng thuốc phải đi đôi với bồi dưỡng nghỉ ngơi, thuốc không thể thay thế cho ăn uống dinh dưỡng.
10 - Không nên dùng thuốc trị bệnh đơn thuần theo quảng cáo trên thông tin đại chúng vì thông tin phiến diện không đầy đủ, với chỉ một thuốc đơn lẻ như quảng cáo thường không đảm bảo trị bệnh hiệu quả. Theo qui định của Luật Y, Dược và hệ thống văn bản dưới Luật các thuốc đặc hiệu, các thuốc phải kê đơn không được phép quảng cáo trên thông tin đại chúng.
Thông tin trên mạng Internet có thể không chọn lọc hoặc thổi phồng tác dụng sai lệch, chỉ có giá trị tham khảo, tiếp thu cần phải có phân tích, kiểm chứng. Không tự suy diễn áp dụng khi không có đầy đủ vốn kiến thức liên quan.
11 - Hãy đừng vội than phiền khi một số trường hợp dùng thuốc bệnh không lui ngay, có thể hướng điều trị đang theo dõi hoặc tập trung giải quyết nguyên nhân mà chưa hướng nhiều vào trị triệu chứng. Tốt nhất hãy thông báo và hỏi lại thầy thuốc đã chỉ định để biết rõ.
12 - Khi mua thuốc cần mang theo đơn hoặc y bạ, đồng thời nên cung cấp thông tin về quá trình dùng thuốc hiện tại cho cơ sở bán thuốc, từ đó dược sĩ mới có thể tư vấn, chỉ dẫn đầy đủ và cụ thể về các thuốc đang dùng.
13 - Không nên nhất thiết máy móc với tên biệt dược đã được kê. Thuốc cùng hoạt chất, cùng dạng bào chế đều cho hiệu quả trị bệnh tương tự nhau. Cùng liều lượng, cùng dạng thuốc, có thể thuốc của các hãng khác nhau cho đáp ứng sinh học (sinh khả dụng) khác nhau chút ít nhưng không phải đến mức không thể khỏi bệnh.
- Biệt dược của các thương hiệu danh tiếng thường có giá cao hơn gấp nhiều lần, nhưng chất lượng và hiệu quả điều trị thực tế không thể so sánh theo giá bán của thuốc đó.
14 - Hãy cân nhắc kỹ khi mua thuốc, không mua thuốc, trả lại thuốc tùy hứng. Thuốc đã mua mang ra khỏi cửa hàng sẽ không được đổi lại hoặc trả lại (trừ trường hợp đặc biệt thu hồi thuốc). Để đảm bảo an toàn về thuốc, về nguyên tắc cửa hàng bán thuốc không được nhận lại (trừ bán buôn, khi việc giao nhận còn nguyên bao bì đóng gói, đúng lô mẻ đã giao nhận).
15 - Lưu ý khi dùng thực phẩm chức năng (TPCN) hỗ trợ điều trị
Cần phân biệt, tránh nhầm lẫn thuốc và TPCN
- Có cách thức đóng gói như nhau, nhưng TPCN có tiêu chuẩn sản xuất và quản lý theo qui định của Luật về thực phẩm và áp dụng tiêu chuẩn thực phẩm, không theo qui định của Luật Dược, không được cấp số đăng ký thuốc (SĐK, VISA, GPNK).
- Về nguyên tắc TPCN không thay thế thuốc, chỉ là sản phẩm bổ xung dinh dưỡng và hỗ trợ điều trị.
- Đa số hoạt chất trong TPCN có nồng độ, hàm lượng thấp hoặc rất thấp, công bố không thống nhất cho 1 đơn vị chia liều nhỏ nhất (viên, ống, gói, lọ đơn liều, ml...) mà có thể cho 1 số đơn vị đóng gói không thống nhất (cho 1v, 2v, 3v, 10v..., cho 1 vỉ nhiều viên, cho 1 hộp hoặc 1 lọ nhiều viên, nhiều ml...); chuyển đổi đơn vị tính không phổ biến (UI, mmol, mcg...); rất khó phân biệt, dễ nhầm lẫn, khó tính toán liều sử dụng.
- Tuy vậy thời điểm hiện tại, khi chưa có qui định đầy đủ để phân biệt thì không nên phân biệt quá rạch ròi giữa TPCN và thuốc. Trong một số trường hợp cụ thể, TPCN cũng có thể coi là thuốc. Một số TPCN có thành phần hoạt chất (trong 1 viên, ống, gói, ml...) phù hợp liều dùng điều trị của thuốc, có thể đáp ứng yêu cầu điều trị như thuốc (cần xem kỹ nồng độ, hàm lượng để xác định đúng liều lượng trước khi sử dụng).
Chúng tôi mong muốn Mọi người hãy chăm sóc, bảo vệ sức khoẻ và cuộc sống của chính mình bằng việc dùng đúng thuốc, đủ thuốc, kịp thời trên nguyên tắc an toàn, hợp lý, hiệu quả và kinh tế.
Hãy trân trọng hiệu quả do thuốc mang lại và cũng không coi thường mặt trái do thuốc gây ra.

HÀNH TRÌNH TỪ SINH VIÊN ĐẾN TÂN DƯỢC SĨ - TƯ DUY HỆ THỐNG VÀ KỸ NĂNG LÀM CHỦ CHUYÊN MÔN(DSCKI Trần Đình Bách tổng hợp và...
28/12/2025

HÀNH TRÌNH TỪ SINH VIÊN ĐẾN TÂN DƯỢC SĨ - TƯ DUY HỆ THỐNG VÀ KỸ NĂNG LÀM CHỦ CHUYÊN MÔN
(DSCKI Trần Đình Bách tổng hợp và biên soạn tháng 12.2025)
Trong bối cảnh khoa học về y dược học phát triển nhanh chóng, ngành Dược không chỉ đơn thuần đề cập về những sản phẩm thuốc cụ thể, mà là một ngành khoa học về thông tin và sự an toàn của người bệnh. Số lượng thuốc mới, hướng dẫn điều trị mới, khuyến cáo an toàn thuốc và các bằng chứng lâm sàng liên tục được cập nhật, thì việc tiếp thu, hệ thống hóa, cập nhật kiến thức chuyên môn không còn là nhiệm vụ nhất thời trong giai đoạn học tập mà trở thành yêu cầu cần thiết suốt đời đối với sinh viên và tân Dược sĩ hành nghề.
Vấn đề đặt ra là: Làm thế nào để không bị "choáng ngợp" trước một "biển" kiến thức khổng lồ và làm thế nào để biến những kiến thức ấy thành năng lực hành nghề thực thụ?
Thực tiễn cho thấy, không ít sinh viên và Dược sĩ trẻ lúng túng trước khối lượng kiến thức đồ sộ, tách rời. Nhiều người tỏ ra thiếu kỹ năng phân tích, tổng hợp; cập nhật thông tin chưa có chọn lọc; tra cứu dữ liệu, kiến thức chuyên môn dược theo cảm tính mơ hồ hoặc phụ thuộc vào nguồn không chính thống, thiếu chính xác. Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến năng lực chuyên môn trong công việc sử dụng thuốc hợp lý, an toàn và hiệu quả.
Hãy luôn nhớ rằng: Việc học nghề dược không kết thúc ở ngày tốt nghiệp ra Trường, nhận bằng, nó cần phải được tiếp nối ngay khi dược sĩ bước vào công việc đầu tiên.
Bài viết tập trung làm rõ ba nội dung cốt lõi:
- Năng lực tổng hợp kiến thức chuyên môn dược và kỹ năng phân tích logic.
- Phương pháp học hiểu - nhớ kỹ - nhớ lâu và kinh nghiệm gắn với thực tiễn.
- Cách tra cứu, cập nhật kiến thức mới và kỹ năng tiếp cận thông tin thuốc một cách khoa học, hiệu quả.
I. NGÀNH DƯỢC: KHÔNG CHỈ LÀ THUỐC, MÀ LÀ AN TOÀN VÀ HIỆU QUẢ ĐIỀU TRỊ
Kiến thức chuyên môn về lĩnh vực dược mang tính đặc thù riêng:
- Liên kết cao về chuyên môn giữa các lĩnh vực. Thuốc luôn gắn liền với Hóa dược; Bào chế, sản xuất thuốc; Kiểm nghiệm; Pháp chế dược; Dược lý; Dược động học; Dược lâm sàng và điều trị.
- Có tính kế thừa và logic chặt chẽ, cần phải hiểu cơ chế tác dụng mới có thể tiến tới được áp dụng chỉ định điều trị, mới phòng ngừa được tác dụng không mong muốn và tương tác thuốc.
- Gắn liền với yêu cầu điều trị và các yếu tố thay đổi tự nhiên hay bất thường trong điều trị: Mỗi quyết định chuyên môn về sử dụng thuốc trong điều trị đều ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả và sự an toàn với người bệnh. Đồng thời cũng là dữ liệu hồi âm yêu cầu thay đổi chỉnh lý tính đáp ứng đối với mọi tiêu chuẩn của thuốc.
Vì vậy, học dược, hành nghề dược không chỉ là “ghi nhớ tên thuốc, cấp phát thuốc” mà là xây dựng tư duy hệ thống gắn kết tác động thuận nghịch giữa các yếu tố thuộc về thuốc và yêu cầu điều trị gắn liền với đảm bảo hiệu quả, an toàn cho người bệnh. .
II. TƯ DUY VÀ KỸ NĂNG TỔNG HỢP, CẬP NHẬT KIẾN THƯC CHUYÊN MÔN DƯỢC
Xin chia sẻ những trụ cột cốt lõi để chúng ta cùng nhìn nhận:
1. Tư duy logic và năng lực tổng hợp phải xác định "xây gốc trước khi dựng ngọn"
Kiến thức chuyên môn ngành Dược được truyền thụ và kết nối tách rời theo nhiều hướng khác nhau, nếu chỉ học thuộc lòng thì không thể đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ của một cán bộ dược. Để hiểu và ghi nhớ tiếp thu lâu dài, cần một tư duy hệ thống gắn kết logic mọi yếu tố liên quan đến thuốc và cách thức sử dụng thuốc trong điều trị.
• Trước tiên phải dựa trên dược lý cơ bản, coi dược lý là gốc:
Hãy coi dược lý là “xương sống”, là "kim chỉ nam" cho hoạt động nghề nghiệp trước mắt và lâu dài. Mỗi chuyên đề dược lý đều đã được hệ thống theo nhóm loại, cơ chế, phạm vi tác dụng và các yếu tố liên quan về tương tác, tác dụng không mong muốn (ADR). Chỉ khi đã hiểu rõ về cơ chế tác dụng, mới có thể tự suy luận được những tác dụng chính, tác dụng phụ, chống chỉ định và tương tác thuốc một cách logic mà không cần gắng sức hay tốn công ghi nhớ máy móc.
• Học muốn hiểu thì phải nhóm hóa các thuốc:
Lấy căn cứ chính là bám sát cách hệ thống hoá theo cấu trúc nhóm loại Dược lý.
- Thay vì học từng hoạt chất đơn lẻ, hãy học theo nhóm thuốc.
- Khi nắm vững được những đặc tính chung của nhóm thì đồng nghĩa có thể nhận biết đầy đủ những vấn đề chung cho các thuốc trong mỗi nhóm (hoặc phân nhóm) cụ thể đó. Có thể lượng giá sơ bộ, khi đã nắm được thông tin chung các hoạt chất trong nhóm thì đồng nghĩa nắm được cơ bản 70 ~ 80% thông tin của các hoạt chất cụ thể trong nhóm đó, Còn lại chỉ là sự khác biệt nhỏ về dược động học, liều lượng hoặc độc tính riêng của mỗi thuốc trong nhóm.
Ví dụ: Khi học và tìm hiểu nhóm thuốc chống viêm Corticosterorid, mỗi chúng ta sẽ nắm rõ các tác dụng chung về chống viêm, ức chế miễn dịch, chống dị ứng và hầu hết những tác dụng không mong muốn. Tính riêng khác biệt giữa các hoạt chất trong nhóm chỉ còn là vấn đề dược động học (liều lượng, thời gian bán huỷ, cách thải trừ).
• Hệ thống hoá và sơ đồ hóa kiến thức:
- Hãy tạo cho mình thói quen sử dụng sơ đồ tư duy để liên kết giữa: cơ chế bệnh sinh với mục đích hay phạm vi tác động của thuốc cho tới phác đồ điều trị. Trong mỗi tình huống chỉ cần nắm bắt và rà soát lại những yếu tố cụ thể.
- Trong mỗi bệnh lý cụ thể, mỗi chỉ định thuốc hãy xem xét các mối quan hệ logic:
+ Cơ chế bệnh sinh ra sao ? đâu là biểu hiện bộc lộ nguyên nhân, đâu chỉ là triệu chứng ?
+ Mục đích và phạm vi tác động của thuốc là gì, ở đâu ?
+ Thuốc cần hướng vào cơ chế, yếu tố nào trên bệnh lý ?. Chỉ định (hay tư vấn) dùng thuốc phải biết thuốc tác động vào đâu và đạt mục đích gì.
+ Nhận biết những bất cập, những “ưu thế’ của mỗi loại thuốc hay phác đồ thuốc.
+ Từ đó có lựa chọn ưu tiên theo hướng dẫn và phác đồ điều trị.
Việc tiếp thu, cập nhật từ thực tiễn dùng thuốc và điều trị chính là điều kiện thuận lợi nhất để mỗi người thêm vững vàng về chuyên mộn.
2. Nắm rõ nguyên lý dùng thuốc và phân tích được vai trò của thuốc trong mỗi bệnh lý:
Dùng thuốc thì phải biết bệnh đang cần giải quyết, khắc phục những gì, tác động đến đâu, trong đó mỗi thuốc đã và sẽ dùng đâu là chính, đâu chỉ là hỗ trợ, là bổ xung. Bất kỳ thuốc nào được sử dụng cũng có vai trò nhất định và hướng vào những yếu tố căn bản. Khi dùng thuốc cho một liệu trình điều trị, hãy cần xác định:
- Đâu là thuốc trị nguyên nhân ?
Đó là các thuốc có vai trò chính, có tính quyết định (riêng những bệnh vô căn thì không thể), nhằm vào:
+ Tiêu diệt tác nhân vi sinh vật gây bệnh vi khuẩn, virus, ký sinh trùng, nấm,...
+ Khắc phục, thiết lập lại cân bằng các rối loạn về chuyển hoá, sinh lý của cơ thể.
+ Bù đắp các thiếu hụt năng lượng, dưỡng chất, vitamin và khoáng chất..
+ Loại trừ các kháng nguyên, dị nguyên tác động vào cơ thể.
+ Tăng cường và bổ xung kháng thể trực tiếp hoặc gián tiếp giúp cơ thể loại trừ tác nhân gây hại.
+ Một số ở các điều kiện đặc biệt, thiết lập các đột biến về gen, tế bào... để khống chế, loại trừ
+ Tạo ra đối kháng tác dụng (dược lý, hoá học, vật lý...) với các tác nhân gây độc, hại.
- Đâu là các thuốc cắt giảm triệu chứng ?
Đó là các thuốc chỉ nhằm mục đích khắc phục giảm trừ nhanh các triệu chứng khó chịu, bất lợi. Ở từng cá thể, khi triệu chứng không ảnh hưởng đến khả năng chịu đựng hay phiền toái cho sinh hoạt thì không cần thiết dùng các thuốc này. Người không am hiểu về chuyên môn y dược dễ ngộ nhận bệnh đã khỏi khi triệu chứng lui.
- Đâu là thuốc nhằm tác dụng hỗ trợ ?
Chúng chỉ giúp tăng cường các chức năng liên quan bệnh lý hoặc tăng cường tác dụng thuốc chính. Không có tính giải quyết tức thời, nhưng ảnh hưởng không nhỏ đến hiêu quả điều trị.
- Còn lại là thuốc ngăn ngừa các tác dụng phụ bất lợi (có thể cần)?
Chính là các thuốc đáp ứng yêu cầu tăng cường tính an toàn cho dùng thuốc đối với các thuốc đang dùng điều trị trong một số trường hợp.
Các thuôc này có thể cần dùng, nhưng không có vai trò trị bệnh đang điều trị.
Ví dụ: Cần phải giảm tiết dịch dạ dày nếu dùng NSAIDs; cần bổ gan, bảo vệ gan nếu dùng các thuốc độc với gan trong trị lao và tâm thần...
III. PHƯƠNG PHÁP HỌC HIỂU, NHỚ SÂU, BIẾN KIẾN THỨC THÀNH BẢN NĂNG NGHỀ:
1. Hãy học hiểu thay vì học thuộc
- Học kiến thức chuyên môn dược không nên theo cách thuộc lòng. Cần ưu ưu tiên nắm bắt thuốc và sử dụng thuốc theo cách: hiểu bản chất, hiểu cơ chế trước khi ghi nhớ chi tiết.
Đừng cố tốn công ghi nhớ từng chỉ định, chống chỉ định, liều dùng chi tiết của từng thuốc hay dạng thuốc cụ thể; thay vào đó hãy quan tâm ghi nhớ các đặc tính chung về dược lý, dược lâm sàng (đặc biệt là cơ chế khái quát, cơ bản) của cả nhóm thuốc. Từ đó, khi tiếp cận bệnh lý có thể nhận diện, chọn lọc ngay được nhóm thuốc cần dùng, linh hoạt chọn lọc các thuốc có thể đáp ứng, mà không lúng túng máy móc. Việc cần làm chỉ là xem lại hay tra cứu những yếu tố riêng của thuốc (nếu chưa được ghi nhớ)
- Nếu có thể hãy sử dụng sơ đồ tư duy, lập bảng so sánh hoặc bám sát các sơ đồ cơ chế.
Ví dụ có thể thiết lập các sơ đồ: phối hợp kháng sịnh, các tương kỵ đối kháng của kháng sinh, tính liều cho trẻ căn cứ liều người lớn...
2. Học dược cần bám sát các yếu tố về bệnh lý lâm sàng
Mục tiêu hướng đến của thuốc là điều trị bệnh, do vậy luôn cần nghĩ tới:
- Thuốc này dùng cho đối tượng nào ? những ai không được dùng ?
- Nếu người bệnh có bệnh nền thì cần lưu ý gì ?nên giải quyết ra sao ?
- Có lựa chọn nào an toàn và hiệu quả hơn không ?
- Sâu hơn có thể đề cập tới nguyên nhân và cơ chế bệnh kết nối với các thuốc sẽ được lựa chọn.
Việc gắn kiến thức vào mỗi ca lâm sàng cụ thể giúp người thực hiện ghi nhớ lâu và nhớ rất sâu.
3. Tổng hợp, ôn luyện kiến thức cần phải găn liền việc hệ thống và cập nhật phù hợp
- Nên rà soát ôn luyện, củng cố kiến thức cũ khi cần và không thể không cập nhật tổng hợp những kiến thức mới định kỳ.
- Có ý thức liên hệ những kiến thức giữa cũ và mới (luôn có những thay đổi, bổ xung) để nhận ra những gì đã lỗi thời bất hợp lý, củng cố thêm kiến thức về lâu dài.
4. Học cần gắn liền với thực tiễn, kinh nghiệm sử dụng thuốc và điều trị
- Cần thường xuyên tham khảo các đơn thuốc thực tế cũng như cách xử lý (nếu có thể). Học ở trường lớp, học ở thầy luôn cần đi đôi học hỏi đồng nghiệp từ chính thực tế công việc.
- Xem mỗi lô thuốc (hay đơn thuốc) được chỉ định hãy nghĩ ngay đến dùng cho bệnh gì (tránh đơn thuần chỉ nghĩ đến triệu chứng: giảm ho ngay, hết đau liền, dễ thở luôn...) ? Nếu tìm hiểu kỹ hơn về nguyên nhân và những yếu tố liên quan cần khắc chế càng quí (tất nhiên không thể ngay mà cần từng bước tìm hiểu, học hỏi thêm).
- Hết sức tránh học lỏm, học vẹt, học rời rạc:
+ Đừng học mót, đừng dò đoán, học lỏm nửa vời mà chẳng hiểu thuốc đó có tác dụng gì và vai trò mỗi thuốc cụ thể trong liều ra sao.
+ Tuyệt đối tránh học hỏi theo cách mò mẫm, dò đoán những lô thuốc không rõ ràng tên gọi, hàm lượng, liều lượng (đặc biệt là những thuốc trần trụi không bao bì, nhãn mác) do người khác chỉ định hay sử dụng mà không hề biết đó là đúng hay sai. Điều này khó tránh khỏi lỗi nghiêm trọng khi phân tích, nhận diện sai hoặc tiếp thu, làm theo chính cái sai mà họ mắc phải. Học bằng cách đó, càng dễ mắc sai lầm. Hậu quả nhãn tiền sẽ là đã không hiểu, lại càng thêm rối về kiến thức.
- Hãy làm theo kỹ thuật Feynman để ghi nhớ:
(Feynman là nhà vật lý, nhà giáo dục người do thái, là người phát triển kỹ thuật Feynman, một phương pháp học tập hiệu quả nổi tiếng thế giới)
+ Cách tốt nhất để học là hướng dẫn hoặc dạy lại cho người khác (theo cách phù hợp). Việc thuyết giảng, giải thích, tư vấn một cơ chế thuốc, một tình huống lựa chọn thuốc... phức tạp cho một sinh viên hoặc cho một người thân nếu kết quả mang lại là họ hiểu, nghĩa là bản thân mình đã thực sự làm chủ kiến thức đó.
IV. KỸ NĂNG TRA CỨU, “CÔNG CỤ” KHÔNG THỂ THIẾU CỦA DƯỢC SĨ HIỆN ĐAI:
Trong chuyên ngành y, dược, một số kiến thức cũ có thể là tiên tiến, hiện đại trong quá khứ, nhưng với hiện tại có thể đã là lỗi thời, thậm chí không loại trừ đã là kiến thức áp dụng không an toàn"
Một dược sĩ giỏi, vững vàng chuyên môn không phải là người ghi nhớ, nắm vững mọi kiến thức cũ đã được đào tạo qua trường lớp hay thuộc lòng các hướng dẫn sử dụng và vận dụng máy móc theo hướng dẫn phạm vi hẹp đó, mà phải là người luôn biết chủ động cập nhật kiến thức mới, tra cứu, tổng hợp chính xác thông tin khi cần thiết.
Để cập nhật hiệu quả, mỗi sinh viên, mỗi dược sĩ cần thực hiện:
• Hãy lựa chọn các nguồn kiến thức tin cậy:
- Các tài liệu có tính pháp lý tầm quốc gia và quốc tế:
+ Dược thư Quốc gia Việt Nam (hiện tại mới nhất được ban hành lần thứ ba, năm 2022)
+ FDA - Cục quản lý thực phẩm và dược phẩm Mỹ,
+ EMA - Cơ quan dược phẩm châu Âu...
- Các cơ sở dữ liệu quốc tế như
+ Medscape: cơ sở dữ liệu tra cứu miễn phí các trích dẫn và tóm tắt từ các tạp chí y sinh học, được duy trì bởi Thư viện y khoa quốc gia Hoa Kỳ (NLM).
+ Drugs.com: trang web tổng hợp thông tin thuốc, được tổng hợp từ FDA, từ các nhà sản xuất thuốc và nguồn y tế khác.
+ PubMed: Cổng thông tin y tế toàn diện cho chuyên gia y tế, truy cập thông tin từ MEDLINE, tin tức y khoa, MDR (Medscape Drug Reference)...
- Các đơn vị chỉ đạo chuyên môn và điều trị đầu ngành, các trung tâm thông tin về Dược trong nước:
+ Trung tâm DI và ADR quốc gia.
+ Tài liệu công bố về chuyên môn Dược của Viện Kiểm nghiệm,Viện Dược liệu, MIMS Việt Nam hay các Hiệp hội chuyên khoa chính thống ...
+ Văn bản hướng dẫn và phác đồ chuyên môn của Bộ y tế.
+ Giáo trình đào tạo Dược mới phát hành hay tài liệu chuyên môn dược phù hợp đã được cập nhật mới hàng năm.
+ Phác đồ chuyên môn của các bệnh viện tuyến cao (ưu tiên chọn tài liệu của các bệnh viện đầu ngành hạng 1 và hạng đặc biệt).
- Hãy tận dụng các ứng dụng AI hỗ trợ, để đối chiếu, tham khảo có chọn lọc: trên các công cụ AI
(trí tuệ nhân tạo) như Gemini, Canvas, ChatGPT, Copilot, Claude, DrugBank, PubMedGPT, BioGPT, Grok, AI Hay, Laho AI... Song nếu dùng AI hỗ trợ cần phải hiểu rõ rằng: AI chỉ là trợ lý gợi ý, không phải là nội dung có tính chuẩn mực pháp lý. Cũng cần lưu ý thông tin hồi đáp chỉ chính xác đầy đủ khi yêu cầu chính xác về mặt khoa học và chuyên môn - kể cả ngôn từ và danh pháp chuyên ngành.
- Tuy nhiên hãy lưu ý: Việc tra cứu không nên phụ thuộc vào một nguồn duy nhất, mà hãy sử dụng đồng thời từ một số nguồn để so sánh, đối chiếu tính chính xác và chọn lọc thông tin phù hợp nhất.
• Đừng cố tìm, cố đọc tất cả.
- Hãy tập trung vào các thông tin chuyên đề mới: thông tin khoa học mới, thuốc mới, nhóm thuốc mới hoặc các cảnh báo về cảnh giác thuốc có chọn lọc, có độ tin cậy, chính xác và phù hợp để có thể ứng dụng.
• Cần theo dõi cập nhật có mục tiêu: các kiến thức liên quan phù hợp yêu cầu và chuyên môn của chính mình; các thông tin thuốc mới uy tín, các hướng dẫn điều trị mới nhất liên quan trực tiếp.
• Tham gia các cộng đồng chuyên môn: Đừng làm việc đơn độc. Hãy tham gia các hội thảo (CME, CPE), các hội nhóm chuyên môn, các diễn đàn dược lâm sàng uy tín.
Việc trao đổi cùng đồng nghiệp giúp mỗi người nhận ra những lỗ hổng kiến thức mà mình chưa kịp thấy.
• Qua đó, tổng hợp và chuyển hóa thành kiến thức theo cách phù hợp với riêng mình
Nhìn nhận theo mọi hướng, chừng đó đủ để cho chúng ta thấy rõ rằng:
Nghề Dược là một nghề cao quý nhưng cũng đầy áp lực. Kiến thức chúng ta cập nhật hôm nay chính là nâng cấp một cơ hội sống sót cao hơn cho người bệnh. Hãy bắt đầu bằng một tư duy tiếp thu logic, cập nhật phù hợp, rèn luyện kỹ năng tra cứu nhạy bén và luôn giữ cho mình một "tâm thế mở" để không ngừng học hỏi.
Xin đừng nghĩ rằng dược sĩ đã được đào tạo bài bản qua các trường lớp bậc cao, uy tín là đã đủ kiến thức và năng lực làm việc. Kiến thức nghề dược được đào tạo qua trường lớp chỉ là cơ bản, tiên tiến và ưu việt trong ngắn hạn. Theo thời gian, nhiều kiến thức đã bộc lộ rõ sự thiếu hụt, lạc hậu. Thậm chí vốn kiến thức đó có một phần đáng kể đã lỗi thời, thể hiện không còn an toàn và không còn phù hợp.
Dược sĩ không chỉ đơn thuần bán thuốc, cấp phát thuốc mà phải am hiểu mọi lĩnh vực về thuốc (đặc biệt là dược lâm sàng) gắn liền trách nhiệm với việc nâng cao chất lượng sử dụng thuốc điều trị an toàn, hiệu quả.

TÀI LIỆU THAM KHẢO:
1. Chuẩn năng lực cơ bản của dược sỹ Việt Nam; Bộ Y tế ban hành kèm theo quyết định số 4815/QĐ-BYT ngày 15/10/2019 về việc phê duyệt tài liệu “Chuẩn năng lực cơ bản của dược sỹ Việt Nam”, đăng trên các Website:
- Cục khoa học công nghệ và đào tạo, Bộ Y tế, có dường dẫn: https://asttmoh.vn/tai-lieu-chuan-nang-luc-co-ban-cua-duoc-si-viet-nam/
- Thư viện pháp luật, có dường dẫn: https://thuvienphapluat.vn/van-ban/The-thao-Y-te/Quyet-dinh-4815-QD-BYT-2019-phe-duyet-tai-lieu-Chuan-nang-luc-co-ban-cua-Duoc-sy-Viet-Nam-426501

Address

C6WP+FG Phú Thọ, Việt Nam (Khu 1, Phường Phú Thọ)
Phu Tho

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Nhà thuốc Sao Đỏ Phú Thọ posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Contact The Practice

Send a message to Nhà thuốc Sao Đỏ Phú Thọ:

Share

Share on Facebook Share on Twitter Share on LinkedIn
Share on Pinterest Share on Reddit Share via Email
Share on WhatsApp Share on Instagram Share on Telegram