17/05/2021
Xạ trị chiếu trong chọn lọc (SIRT) là liệu pháp phóng xạ đích trong điều trị ung thư biểu mô tế bào gan (HCC) giai đoạn tiến triển hoăc giai đoạn trung gian kháng trị với phương pháp tắc mạch hoá chất hoặc điều trị thay thế cho các phương pháp điều trị khác không thích hợp. Theo phân loại Barcelona, thì HCC chia làm 5 giai đoạn: rất sớm (0), sớm (A), trung gian ( B), tiến triển ( C), giai đoạn muộn (D). Giai đoạn rất sớm, sớm (0, A) có thể được điều trị triệt căn bằng các biện pháp: phẫu thuật, ghép gan, tiêm cồn, đốt nhiệt cao tần (RFA), đốt bằng vi sóng (MWA). Giai đoạn trung gian ( B), biện pháp điều trị thích hợp là TACE, hay còn gọi là can thiệp tắc mạch bằng hóa chất. Nếu BN không đáp ứng với TACE, sẽ được chỉ định dùng thuốc điều trị đích (sorafenib, lenvatinib) hoặc xạ trị kết hợp. Giai đoạn C, BN được điều trị toàn thân bằng thuốc đích hoặc liệu pháp miễn dịch. Giai đoạn D chỉ còn là chăm sóc giảm nhẹ và không nên điều trị bằng biện pháp nào. Chỉ định của SIRT dành cho BN được phát hiện ở giai đoạn B khi không đáp ứng điều trị bằng TACE hoặc giai đoạn C có huyết khối tĩnh mạch cửa. So với dùng thuốc đích (sorafenib, lenvatinib, regorafenib) hay liệu pháp miễn dịch (atezolimumab và bevacimumab), thì chi phí điều trị bằng SIRT chưa đến một nửa. Hơn nữa, trước đây, BN bị HCC muốn điều trị bằng phương pháp này phải ra nước ngoài điều trị với chi phí rất tốn kém. Trong khi đó, chi phí cho thực hiện kỹ thuật điều trị này ở Bệnh viện TƯQĐ 108 hiện nay được BHYT chi trả 40%.
Ưu điểm nổi bật của kỹ thuật này là tạo ra liều chiếu xạ cao tại khối u trong khi các tổ chức lành xung quanh chịu liều chiếu xạ thấp, vì thế ít gây ra các tác dụng phụ, giảm biến chứng điều trị. Người bệnh sau khi điều trị có thể ra viện ngay ngày hôm sau. Bằng phương pháp điều trị này không chỉ mang lại lợi ích cho các BN HCC không còn khả năng phẫu thuật mà còn cho cả các BN ung thư gan thứ phát (di căn từ loại ung thư khác vào gan). Bệnh viện TWQĐ 108 là cơ sở y tế đầu tiên triển khai phương pháp điều trị hiện đại này. Kết quả điều trị sau 6 năm theo dõi đã khẳng định tính an toàn và hiệu quả của phương pháp. Đây là cơ sở để giúp bệnh nhân có nhiều cơ hội tiếp cận, lựa chọn phù hợp, kéo dài thời gian sống cũng như cải thiện chất lượng cuộc sống.