03/12/2025
🦆Đàn Vịt đối mặt với nguy cơ bùng phát nhiều bệnh :
1. Bệnh Tembusu: do Virus Tembusu thuộc họ Flaviviridae. Vịt, ngan mọi lứa tuổi (nặng nhất ở vịt đẻ và vịt 2–6 tuần tuổi). Lây qua muỗi, chim hoang dã, tiếp xúc gián tiếp và trực tiếp.
Biểu hiện lâm sàng:
- Vịt con (2–6 tuần tuổi)
- Sốt, yếu, ủ rũ
- Viêm thần kinh nhẹ: run, vẹo cổ, đi loạng choạng
- Tiêu chảy vàng xanh
- Tỷ lệ chết có thể 15–40%
- Vịt đẻ
- Sụt đẻ đột ngột (giảm 30–70% trong 3–5 ngày)
- Vỏ trứng mỏng, méo, nhăn
- Viêm buồng trứng, viêm dẫn trứng
- Con khỏe nhưng giảm sản lượng lâu kéo dài
- Phòng bệnh bằng vacxin (biện pháp trọng tâm): Các loại vacxin hiện dùng:
- Vacxin Tembusu vô hoạt (phổ biến
Lịch tiêm:
• Vịt 3 ngày tuổi :0,25ml/con
• Vịt trên 1 tuần tuổi: 0,5 ml/con
• Vịt trên 4 tuần tuổi: 1,0ml/con
• Đối với vùng áp lực cao sau lần tiêm đầu tiên tiêm chủng 14 ngày, tiêm nhắc lại mũi 2 với liều 0,5ml/con
• Đối với vịt đẻ: Tiêm nhắc lại vào lúc 8, 16 và 21 tuần tuổi với liều 1ml/con
- Vacxin kết hợp Tembusu + Reovirus + Adenovirus + Tụ huyết trùng (nhiều trại đang dùng)
2. Viêm gan virus (Duck hepatitis)
- Đây là bệnh rất phổ biến ở vịt con (dưới ~6 tuần tuổi).
- Do virus Duck Hepatitis Virus (DHV), lây lan rất nhanh, tỷ lệ chết cao nếu không kiểm soát.
- Phòng: tiêm vaccine (1 ngày tuổi, 7 ngày tuổi và 21 ngày tuổi – tiêm 3 lần), vệ sinh tốt để hạn chế lây lan.
3. Dịch tả vịt (Duck cholera / Dịch tả thủy cầm)
- Theo nguồn chăn nuôi vịt – ngan, dịch tả là một bệnh truyền nhiễm thường gặp ở vịt.
- Tỷ lệ chết cao, đặc biệt nếu không kiểm soát dịch kịp thời.
- Phòng: tiêm vaccine (7-10) ngày tuổi và sau đó cứ 3 tháng nhắc lại 1 lần; cách ly đàn bệnh, vệ sinh chuồng trại
4. Tụ huyết trùng (Pasteurella / Pasteurellosis)
- Là bệnh bacterial khá nguy hiểm, ngan, vịt có thể chết rất nhanh, đặc biệt là thể quá cấp.
- Triệu chứng như sốt, bỏ ăn, xù lông, thở gấp …
- Phòng bệnh: vệ sinh chuồng, có thể dùng kháng sinh hoặc vaccine tùy trường hợp. Nếu dùng vacxin (1-3) ngày tuổi và nhắc lại sau 21 ngày.
5. Bệnh phó thương hàn (Paratyphoid) ở vịt / ngan
- Cũng được liệt vào danh sách thường gặp với vịt con lẫn lớn.
- Triệu chứng: tiêu chảy, bỏ ăn, lông xù, run, co giật, tỷ lệ chết cao.
- Phòng và điều trị: cần quản lý dịch tễ, vệ sinh, có thể dùng kháng sinh phù hợp.
6. Reovirus (bệnh do Reovirus) trên ngan, vịt
- Được báo cáo ở vịt, ngan: viral, thường ở lứa tuổi nhỏ (7–35 ngày).
- Triệu chứng: mệt mỏi, chân yếu, co rúm, suy kiệt.
- Quản lý: cần vệ sinh tốt, kiểm soát nguồn lây, cách ly và theo dõi chặt chẽ.
Phòng bệnh bằng vacxin: Các dạng vacxin:
- Vacxin vô hoạt Reovirus đơn (chủng Reo-Duck hoặc Reo-Avian).
- Vacxin hỗn hợp Reovirus + Tụ huyết trùng/viêm gan/Tembusu (tùy hãng sản xuất).
- Vacxin dầu tiêm dưới da – phổ biến nhất: Thường dùng cho (Vịt, ngan con trong 1–21 ngày tuổi; Đàn sinh sản / hậu bị để truyền kháng thể mẹ cho con).
7. Cúm gia cầm (Avian influenza)
Đây là mối nguy lớn, đặc biệt cúm A H5N1. Có báo cáo ổ dịch H5N1 ở vịt.
Triệu chứng có thể nghiêm trọng, và nguy cơ lây lan cao nếu không kiểm soát.
Phòng: an toàn sinh học, giám sát dịch tễ, hạn chế tiếp xúc với chim hoang, tiêm vaccine nếu có (tùy chính sách địa phương).
Phòng bệnh bằng vacxin: tiêm vào ngày Ngày 12 – 14 (Cúm gia cầm H5N1/H5N6 - dùng cho vịt/ngan); Nhắc lại: 4–5 tháng
8. Adenovirus ở vịt / ngan
- Theo thông tin từ cơ quan thú y, vịt có thể mắc adenovirus (virus Adeno) gây viêm gan cấp, tiêu chảy, chết đột ngột.
- Là bệnh có thể lây theo nhiều cơ chế (qua trứng, đường tiêu hóa).
- Biện pháp phòng: cách ly, vệ sinh, kiểm soát lây lan, tiêm phòng nếu vaccine có sẵn hoặc theo khuyến cáo.
Phòng bệnh bằng vacxin: Hiện có hai nhóm vacxin sử dụng tại Việt Nam:
- (A) Vacxin vô hoạt Adenovirus đơn
- (B) Vacxin hỗn hợp (Adenovirus + Reovirus + Viêm gan + Tụ huyết trùng + Tembusu)
Lịch tiêm :
-1 ngày tuổi Vacxin Adenovirus vô hoạt Tiêm dưới da Bắt buộc ở vùng dịch
-7–10 ngày tuổi Mũi nhắc Adenovirus /Tiêm dưới da Tăng miễn dịch chủ động
-21 ngày tuổi Nhắc lần 2 (nếu trại lớn)/ Tiêm Giảm nguy cơ chết do HHS
👉Như vậy:
• Không có một bệnh duy nhất “nhiều nhất” mà nhiều bệnh nguy hiểm có khả năng cao bùng phát: viêm gan virus, dịch tả vịt, tụ huyết trùng, reovirus, và cúm gia cầm đều là các mối lo lớn.
• Mức độ phổ biến có thể khác nhau tuỳ địa phương, mùa vụ, điều kiện nuôi.
• Phòng bệnh an toàn sinh học, tiêm vaccine (nếu có), chế độ chăm sóc tốt là rất quan trọng để giảm nguy cơ dịch bệnh.
Theo CG Phạm Ngọc Thạch!