Hội Đông Y Tỉnh Bình Định

Hội Đông Y Tỉnh Bình Định Hội Đông Y Tỉnh Bình Định là tổ chức xã hội - nghề nghiệp của công dân Việt Nam hành nghề Đông y, Đôn

Hội Đông Tỉnh Bình Định là tổ chức xã hội - nghề nghiệp của công dân Việt Nam hành nghề Đông y, Đông dược, hoạt động trong lĩnh vực khám chữa bệnh bằng Đông y.

08/11/2018

CỔ NHÂN PHÊ BÌNH VỀ TRỌNG CẢNH

Người dám trực tiếp phê bình Trọng Cảnh ở vào thuở đời xưa thì rất ít thấy, nhưng không phải là không có. Theo chỗ người viết biết được, kẻ có gan tiến hành công khai phê bình chỉ có hai người: Một người là Trương Tử Hoà đời nhà Kim, một người là Ngô Hữu Tánh thời Minh mạt. Lại có người hơi có vẻ ôn hoà là Lưu Hoàn Tố. Ngoài ra chỉ là tự lập tân phương trị Thương Hàn, tuy không trực tiếp phê bình nhưng trên thực tế cũng là người phê bình. Tiêu biểu là người biên soạn “ Cuộc Phương ” đời Tống cho đến từng kinh giải Thương Hàn của nhóm người Chu Quăng.
Hai đời Minh-Thanh, Thương Hàn học rất thịnh. Nhưng ngoại trừ Ngô Hữu Tánh, không ai đả động lá cờ tôn kinh sùng thánh, lông cánh của sách Thương Hàn. Những học giả khả dĩ rất trọng Thương Hàn Luận, khả dĩ có chỗ thu thập, có chỗ bổ sung, nhưng không nói thẳng điều trái của Trọng Cảnh. Cho dù có phê bình thì cũng đổ tội lên đầu của Vương Thúc Hoà mà thôi. Giữa những học giả cũng có sự khác nhau, nhưng đều tự cho mình tâm đắc ý chỉ của Trọng Cảnh mà phê bình đối phương. Trên thực tế vẫn bộc lộ một số ít vấn đề của Thương Hàn Luận.
Độc giả nên biết vào các thời đại Tống, Kim, Nguyên, những người phê bình Trọng Cảnh chưa cho là hạng bất chấp lẽ phải trên đời. Thời ấy, địa vị của Trọng Cảnh còn chưa phải là cao lắm, bửu toà của thánh nhân chưa thuộc diện ngồi ổn định. Thời đại của Ngô Hựu Khả mà phê bình Trọng Cảnh mới là dũng khí to lớn lắm. Ôn Bệnh học tuy bắt đầu từ Ngô Hựu Khả, nhưng những nhà Ôn Bệnh học sau này hoàn toàn bỏ mất tinh thần sáng tạo của Ngô thị mà cực lực chỉ hướng nương dựa vào Nội Kinh mà thôi.
Ngô Hựu Khả phê bình Thương Hàn Luận như thế nào?
Ông nói: “ Người nghiệp y, những điều tụng đọc ghi nhớ dông dài lê thê cũng đều là Thương Hàn. Cho đến khi lâm chứng đều thấy là bệnh Ôn Dịch, tìm đúng là Thương Hàn trăm bệnh không được một, hai; không biết tài chém rồng tuy đã thành mà không có chỗ thực thi, không tránh được chuyện chỉ hươu mà nói là ngựa ”. Việc này không khác nào nói Thương Hàn Luận không có áp dụng được gì.
Ông lại nói: “ Xét những năm trải qua, Ôn Dịch bốn mùa đều có; kịp khi xét về Thương Hàn, mỗi khi đến lúc trời rét mạnh, tuy có triệu chứng đau đầu, nhức mình, ớn lạnh, không mồ hôi, phát sốt tựa như thuộc Thái dương chứng, đến khi sáu, bảy ngày sau thất trị, chưa từng thấy hiện tượng truyền kinh. Mỗi khi sử dụng phương thuốc phát tán, một khi đổ mồ hôi thì giải được bệnh. Có người không cần dùng thuốc thì cũng tự giải được bệnh; chưa từng có trường hợp không phát hãn mà đưa tới phát các chứng vàng da, nói sàm, cuồng loạn, thai thích. Bệnh này đều là bệnh cảm mạo cạn ở ngoài da, không phải thực Thương Hàn vậy, Thương hàn cảm mạo đều thuộc phong hàn, không phải không có sự khác nhau về nặng nhẹ. Kết cục phần nhiều là cảm mạo, bệnh Thương Hàn thì ít có. Huống chi sự cảm thụ của Ôn Dịch và Thương Hàn khác nhau một trời một vực. Nay đã phân biệt được hươu và ngựa, bởi vì Thương Hàn rất ít xảy ra ”. Do họ Ngô xét thấy, y gia thực ra không cần học Thương Hàn Luận. Không dừng lại ở đó, ông còn nói: “ Trị Ôn Dịch trị trăm người mới gặp 2, 3 người là chính Thương Hàn…mà trị chính Thương Hàn trăm người mới gặp 2, 3 người đúng là Âm chứng…Nay những thầy thuốc thịnh hành khoa Thương Hàn, số năm trải qua, hoặc giả được gặp trường hợp chân Âm chứng ”. Nói ra như thế, Thương Hàn thiên Tam Âm , lại là cái vô dụng trong cái vô dụng, sách của Trọng Cảnh kia còn có giá trị gì ! Sách của Trọng Cảnh đã không giá trị, Trọng Cảnh sao có thể xưng tụng là thánh nhân ư? Tuy nhiên, Ngô thị chưa cho sách Trọng Cảnh hoàn toàn là lời nói trống rỗng, hoặc là dối người. Ông chừa cho Trọng Cảnh một lối thoát, nói đại thể sách của Trọng Cảnh nói về Ôn Bệnh đã bị lạc mất.
Trương Tử Hoà kêu gọi mọi người: “ Cẩn thận chớ câu nệ lời nói trên giấy của Trọng Cảnh ”. Như thế không khác gì nói sách Thương Hàn Luận đa phần là rỗng tuếch, lời nói không thật, đa số là những giáo điều không thực tế. Nay đưa ra những văn tự ghi ở trong sách Nho Môn Sự Thân, quyển 9 có ghi như sau:
“ Một hôm có người gặp Đới Nhân hỏi về Thương Hàn, ý vượt ra ngoài lời của Trọng Cảnh, bảo tôi rằng: Ông nên thận trọng, chớ câu nệ những lời trên giấy của Trọng Cảnh, nghi hoặc không rõ làm hại người đời. Tôi có hôm đọc lại sách của Trọng Cảnh, mới hiểu ra ý đó. Đới Nhân cho rằng, người ta thường thấy lúc Thương Hàn dịch khí khởi phát thường đều né tránh. Rằng: Thương Hàn đa biến, cần sớm tối theo dõi. Như mười người mắc bệnh đã không thể chữa kịp, huống trong tất cả tình huống đều cố chấp theo cố nhân chăng! ”.
Lưu Hoàn Tố là người bái môn của Trương Tử Hoà , đối với sách của Trọng Cảnh cực kỳ có thái độ hoài nghi. Ông ta nói: “ Người Thương Hàn là thuộc nhiệt bệnh. Xưa nay thông thường gọi bệnh Thương Hàn….là lục kinh truyền biến, từ cạn truyền vào sâu, đều là nhiệt chứng,không phải có bệnh của âm hàn ” ( Bài tựa – Âm Hàn Trực Cách ). Lưu thị phủ nhận âm hàn chứng là để bảo vệ Hoả Nhiệt Luận của chính mình. Ngô thị thì là để sáng tạo Lệ Khí Thuyết về Ôn bệnh. Có thể thấy, một loại sáng lập ra tân học thuyết, tất cần phải phủ nhận đối với học thuyết cũ, có khi khó tránh sự uốn nắn lại cho đúng.Tuy nhiên, dù cho ngày nay, tuy vẫn rất tôn sùng Thương Hàn Luận, nhưng trên thực tế, người hoàn toàn trị bệnh theo pháp của Trọng Cảnh cơ hồ không có.. Tỷ như Ma Hoàng Thang, Quế Chi Thang, nhiều vị y sinh suốt năm khó nhất mực áp dụng đúng theo nguyên phương; trong khi học về phương tể, đầu tiên lại học phương này, cần phải nằm lòng để ứng phó bài thi. Đúng là hiện tượng học và thực hành tách rời không ăn khớp. Trên thực tế là sự phủ định với học thuyết của Trọng Cảnh. Tuy nhiên, như quả có người công nhiên bài bác Thương Hàn Luận, những người không sử dụng phương của Trọng Cảnh này lại nổi nóng công kích ngay. Họ sẽ nói “ Thương Hàn Luận” không một chữ nào là không đúng. Ví phỏng hỏi người ấy thử xem cái sở dĩ nhiên của học thuyết Trọng Cảnh thì họ sẽ cưỡng từ đoạt lý, lý giải úp mở không rõ ràng xác thực. Đây đúng là một trạng thái bệnh thuộc về tâm lý vậy.
Người viết bài này, cao độ nhận cái giá trị khoa học có hệ thống của Trọng Cảnh, cùng nhận người phê bình Trọng Cảnh một cách công tâm, và cũng đồng tình cao độ những ai có tinh thần hoài nghi.

Trích dịch từ THƯƠNG HÀN LUẬN TÂN GIẢI
( PVĐ dịch )

08/11/2018

Chúng ta hành nghề Đông y cũng nên tìm hiểu phương cách điều trị đả thương trong Võ thuật. Xin giới thiệu các bạn một tác phẩm nói về nội dung này, đó là quyển “ĐIỂM HUYỆT CHÂN TRUYỀN ĐỒ GIẢI” của Nam Anh soạn dịch, được xuất bản trước năm 1975. Sách soạn theo Linh Không Thiền sư ở Ngũ Đài Sơn. Các bạn có thể tìm đọc trên mạng Internet.

18/09/2018

THẦY THUỐC KHOE TÀI
( Chuyện vui )

Có một thầy thuốc Đông y từ xa mới đến, không biết hành nghề lâu hay mau, tay nghề như thế nào nhưng luôn luôn quảng cáo tài nghệ của mình. Ông thường đi đến các chỗ đông người nói về khả năng chữa bệnh tuyệt vời, chữa các bệnh thông thường thì không nói làm chi chứ chữa được những bệnh nan y mới là đáng kể.
Một hôm, thầy đến một quán cà phê đang có nhiều khách uống, thầy bô bô nói:
- Tôi có tài chữa bệnh cho tất cả nam, phụ, lão, ấu bằng Y học cổ truyền.
Ông bạn của tôi hỏi:
- Thầy nói cụ thể xem, những bệnh độc đáo nào thầy chữa hiệu quả nhất ?
- Tôi chữa được rất nhiều bệnh, đặc biệt các bệnh về thần kinh cột sống, xương khớp, di
chứng bại liệt…
- Còn bệnh nào khác không ?
- Còn chứ, còn chữa các bệnh về tim mạch: tăng huyết áp, suy tim, loạn nhịp; các bệnh về
thận: phù thận, suy thận, thận hư nhiễm mỡ; chữa những cặp vợ chồng vô sinh, sinh trai gái theo ý muốn.
Chưa chịu dừng lại thầy nói tiếp:
- Những bệnh xơ gan cổ trướng, u bướu, ung thư… mà bệnh viện chịu thua thì hãy đến tôi. Tôi mà chữa không khỏi sẽ trả tiền lại.
Ông bạn này quay sang nói nhỏ với tôi:
- Cha này đoạn đầu thì trung đẳng, đoạn giữa thì thượng đẳng, đoạn cuối đi đến siêu đẳng.
Thầy còn đạt gì nữa không nhỉ !
Tôi liền nói với thầy thuốc:
- Tôi có một bệnh, không biết thầy chữa được không ?
Thầy nói:
- Bệnh gì ?
- Bệnh nói nhiều, nói dai !
Thầy thuốc nghe xong lặng thinh không nói lời nào, bỏ đi một mạch.
Tôi quay qua nói với ông bạn:
- Bây giờ thì chắc thầy đạt được Y Đạo rồi ! Đến cảnh giới vô ngôn, không còn gì để nói !

PVD

14/09/2018

VIỆN NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN Y DƯỢC CỔ TRUYỀN VIỆT NAM
CHƯƠNG TRÌNH HỘI NGHỊ QUỐC TẾ VỀ Y HỌC BỔ SUNG VÀ THAY THẾ
Ngày 17-18 tháng 10 năm 2018 Las Vegas, Nevada, Hoa Kỳ

NỘI DUNG THÔNG BÁO NHƯ SAU

Kính gửi: Hội Đông y Thành phố Quy Nhơn
Em tên là Loan bên ban thư ký chương trình hội thảo đi Mỹ của Viện nghiên cứu Phát triển Y dược cổ truyền Việt Nam. Em gửi tới Hội công văn kèm theo hồ sơ chương trình.
Chi tiết vui lòng mời anh/chị xem tệp đính kèm ở dưới.
Mong nhận được phản hồi sớm từ Hội Đông y Thành phố quy Nhơn
Em xin chân thành cảm ơn.
Ban thư ký: Phạm Thị Thanh Loan
Số điện thoại: 0975661838

Đường dẫn tải công văn kèm theo hồ sơ chương trình bao gồm 2 tiệp pdf và doc nằm trong thư mục CHƯƠNG TRÌNH HỘI NGHỊ QUỐC TẾ VỀ Y HỌC BỔ SUNG VÀ THAY THẾ 2018: https://drive.google.com/drive/folders/1cypVaGPJfIJWBTxs0iL2A4JBxTmSJFqr?usp=sharing

05/09/2018

Dương Gia Trang

Công dụng thần hiệu của Tiểu Sài Hồ Thang (小柴胡汤) - một trong thập đại danh phương của nền Y học cổ truyền Trung Quốc
(Trích luận giải của giáo sư Lưu Độ Châu)
🀄️ 👲 Lưu Độ Châu tiên sinh (1917 - 2001), là một học giả Thương Hàn Luận nổi tiếng nhất thời cận đại của Trung Quốc, ông là giáo sư trường Đại học trung y dược Bắc Kinh, hướng dẫn nghiên cứu sinh tiến sĩ. Trên lâm sàng, ông dụng dược cổ phương vô cùng uyển chuyển, đặc biệt tài sử dụng Tiểu sài hồ thang của ông thật làm người khác cảm phục vô cùng!
🌿 Tiểu sài hồ thang (Sài hồ, Hoàng cầm, Nhân sâm, Bán hạ, Sinh khương, Cam thảo, Đại táo) là phương dược trong cuốn (Thương Hàn Luận), công chuyên hoà giải thiếu dương, chủ trị thiếu dương bệnh. Hậu thế phát huy công dụng giải uất của phương này, ứng dụng rộng rãi tại nhiều khoa bệnh trên lâm sàng, thu được hiệu quả điều trị vô cùng to lớn.
⚠️ Lưu lão cho rằng, pháp trị uất kết trong (Thương Hàn Luận) rất nhiều, ví như Chi tử đậu xị thang trị hoả uất, Linh quế truật cam thang trị thuỷ uất, Nhân trần hao thang trị thấp nhiệt uất, Qua đế tán trị đàm uất,... nhưng công dụng giải uất của các phương này đều tương đối hạn chế, duy có Tiểu sài hồ thang giúp hoà giải thiếu dương, sơ thông khí cơ, điều bình thăng giáng xuất nhập, hiệu nghiệm vô cùng.
➡️ Nói về "thăng giáng xuất nhập", đây chính là hình thức vận động cơ bản nhất của khí cơ. Sách (Nội Kinh) viết: "出入废则神机化灭,升降息则气立孤危。故非出入,则无以生长壮老已;非升降,则无以生长化收藏" ~ bạch giải ra có nghĩa là: Xuất nhập phế thì thần cơ diệt, thăng giáng tắt thì khí cơ nguy, nên không có thăng giáng xuất nhập thì cũng chẳng có sinh, trưởng, lão, bệnh, tử. Chính vị vậy, bệnh tại khí cơ, làm thăng giáng xuất nhập thất điều, sẽ gây nguy hại ngũ tạng, ảnh hưởng rất lớn đến sức khoẻ.
🌿 Bàn về công dụng của Sài hồ, Lưu lão bình giảng: học phương Trọng Cảnh thì phải học dược của (Thần Nông Bản Thảo Kinh). Sách này viết: Sài hồ “主心腹肠胃中结气,饮食积聚,寒热邪气,推陈致新” - "chủ tâm phúc trường vị trung kết khí, ẩm thực tích tụ, hàn nhiệt tà khí, suy trần trí tân". Kết hợp luận điểm của y gia các đời, Lưu lão đề xuất Sài hồ có 3 đặc điểm chính gồm: (1) Khai uất sướng khí, sơ lợi can đởm, thông lợi lục phủ, suy trần trí tân, điều chỉnh khí cơ thăng giáng xuất nhập; (2) Mộc uất tắc đạt, hoả uất tắc phát; (3) thanh nhiệt hạ sốt. Cho nên, Sài hồ không những dùng để trị ngoại cảm, mà còn dùng trị nội thương tạp bệnh; vừa dùng trị bệnh can đởm, lại trị bệnh lục phủ ngũ tạng,...
🌿 🌼 Về vận dụng Tiểu sài hồ thang, Lưu lão nhấn mạnh, nắm chủ chứng "miệng đắng" (khẩu khổ), đây là triệu chứng đầu tiên được nhắc đến trong thiếu dương bệnh đề cương của Trọng Cảnh: "少阳之为病, 口苦、咽干、目眩也" - "Thiếu dương chi vi bệnh, khẩu khổ, yết can, mục huyễn dã". Sách (Nội Kinh) cũng cho rằng đắng là vị của hoả; xét lục kinh thì duy can đởm kinh có chứng miệng đắng nhiều hơn cả, chính vị vậy luận điểm này của Lưu lão hoàn toàn có tính ứng dụng thực tế lâm sàng.
🌐 Tiếp nối những tinh hoa học thuật Trọng Cảnh, Lưu lão linh hoạt kết hợp cổ kim phương dược, hình thành ra một kiểu cổ kim tiếp quỹ phương (古今接轨方). Đây là một kiểu tổ phương rất đặc biệt, rất đáng để học hỏi, nghiền ngẫm và ứng dụng lâm sàng. Trong bài luận nhỏ này, xin lấy Tiểu sài hồ thang làm chính, giới thiệu tiếp đến các bạn cách Lưu lão vận dụng, gia giảm, biến hoá, tiếp quỹ phương dược thần hiệu này.
🌿 1. Tiểu sài hồ thang, Việt cúc hoàn (越鞠丸) phối phương:
Việt cúc hoàn trong cuốn (Đan Khê Tâm Pháp) gồm: Thương truật, Hương phụ, Xuyên khung, Thần khúc, sao Chi tử; chủ trị chứng khí, huyết, đàm, hoả, thực uất kết, tiêu hoá kém, đầy trướng bụng,... Lưu lão cho rằng, Tiểu sài hồ thang sơ lý can đởm, trị đau tức hai sườn ; Việt cúc hoàn sướng khí thư vị, trị đầy bụng, tức ngực bức bối. Hai phương tiếp quỹ, một tung một hoành, giúp sơ can hoà vị, giải uất khai kết, sướng hành tam tiêu chi nê trệ. Lâm sàng dùng trị chứng dạ dày, uất kết rất linh nghiệm.
🌿 2. Tiểu sài hồ thang, Bình vị tán (平胃散) phối phương
Bình vị tán là phương trong (Cục Phương), gồm: Thương truật, Hậu phác, Tràn bì, Cam thảo, Sinh khương, Đại táo; có công dụng táo thấp vận tỳ, hành khí đạo trệ, bình vị trung chi phủ, tiêu phúc trung chi trướng; chủ trị chứng ợ chua, buồn nôn, đầy trướng, rêu lưỡi trắng dày nhớt, hiệu quả như thần. Tiểu sài hồ thang hợp phương Bình vị tán, cổ nhân gọi là: Sài bình tiễn (柴平煎), giúp sơ can hoà vị, thổ mộc kiêm cố. Lâm sàng ứng dụng điều trị chứng viêm loét dạ dày thuộc thể can vị bất hoà rất hay.
🌿 3. Tiểu sài hồ thang, Ôn đởm thang (温胆汤) phối phương Ôn đởm thang trong cuốn (Thiên Kim Yếu Phương) gồm: Bán hạ, Trúc như, Chỉ thực, Trần bì, Phục linh, Sinh khương, Sinh khương, Chích cam thảo; có công dụng thanh đởm hoà vị, trừ đàm chỉ ẩu; chủ trị chứng đàm nhiệt nhiễu động làm tâm phiền thất miên, ngực tức, miệng đắng,... Hai phương phối hợp giúp sơ giải khí uất, thanh nhiệt hoá đàm; lâm sàng dùng điều trị các bệnh thần kinh, mất ngủ do khí uất, đàm, hoả gây ra rất hiệu quả.
🌿 4. Tiểu sài hồ thang, Tam giáp tán (三甲散) phối phương Tam giáp tán là phương trong sách (Ôn Dịch Luận), gồm: Miết giáp, Quy bản, Xuyên sơn giáp, Thiền thoát, Mẫu lệ, Đương quy, Bạch thược, Cam thảo, Thổ miết trùng. Phương này có diện mạo gốc chính từ Miết giáp tiễn hoàn (鳖甲煎丸) trong (Kim Quỹ Yếu Lược); có tác dụng nhuyễn kiên tiêu chưng. Hai phương hợp dụng, một lý khí giải uất, một hành huyết hoá ứ, giúp đồng điều khí huyết, lâm sàng ứng dụng trị chứng xơ can rất hiệu quả
🌿 5. Tiểu sài hồ thang, Tứ vật thang (四物汤) phối phương.
Tứ vật thang trong (Cục Phương) gồm: Đương quy, Xuyên khung, Bạch thược, Thục địa. Phương này bổ huyết dưỡng can, điều kinh rất tốt. Can tàng huyết, dĩ huyết vi thể, dĩ khí vi dụng. Nếu can đởm khí uất, khí uất sinh hoả làm miệng đắng ngực tức thì dùng Tiểu sài hồ thang. Nếu can bệnh ảnh hưởng đến huyết phần, làm âm huyết bất túc, chóng mặt, tê tay, mỏi chân, tâm phiền, mất ngủ, mạch huyền tế thì hợp phương Tứ vật thang, vừa dưỡng can thể, vừa hoà can dụng, ắt đạt hiệu quả điều trị như ý.
㊙️ Ngoài ra, Lưu lão cũng thường hợp phương Tiểu sài hồ thang, Nhân trần hao thang/ Tam nhân thang trị chứng thấp nhiệt nội uẩn can đởm, hoàng đản đều rất linh nghiệm...!

Dương Gia Trang bút ký! 🌿

30/07/2018
30/07/2018

Giới thiệu KỲ HUYỆT của Đổng Thị.

Huyệt TIỂU GIAN(小间穴):
Bộ vị: Phía trên ngoài đốt thứ nhất ngón trỏ, cách huyệt Đại Gian 2 phân.
Chủ trị: Chi khí quản viêm, nhổ ra đờm vàng, khó chịu vùng ngực, tim đập mạnh, đau đầu gối, tiểu trường khí, sán khí (thoát vị bẹn), mắt đau, viêm ruột.
Lấy huyệt: Nằm thẳng, lòng bàn tay hướng lên trên, lấy phía trên ngoài đốt thứ nhất ngón trỏ, cao cách huyệt Đại Gian 2 phân.
Thủ thuật: Châm 5 phân, châm 1 phân đến 2 phân trị bệnh biến ở tâm phế, 2 phân đến 2,5 phân trị tiểu trường khí, sán khí (thoát vị bẹn), đau gối.(không nên lấy cả 2 tay). ).
( Trích từ Đổng Thị Kỳ Huyệt Châm Cứu Học)

30/07/2018

Giới thiệu KỲ HUYỆT của Đổng Thị.

Huyệt ĐẠI GIAN(大间穴):
Bộ vị: Chính giữa đốt thứ nhất ngón trỏ nghiêng hướng về ngoài ngón cái 3 phân.
Chủ trị: Bệnh tạng tâm, đau đầu gối, tiểu trường khí, sán khí (thoát vị bẹn), đau mắt, dịch hoàn sa đau.
Lấy huyệt: Nằm thẳng, lòng bàn tay hướng lên trên, chính giữa đốt thứ nhất ngón trỏ nghiêng hướng về ngón cái 3 phân.
Thủ thuật: Châm từ 1 đến 2 phân trị bệnh biến ở tạng tâm; châm từ 2 đến 3 phân trị bệnh ở tiểu trường, sán khí và đau đầu gối. Bệnh ở bên phải lấy bên trái, bệnh bên trái lấy bên phải ( không nên lấy cả 2 tay).( Trích từ Đổng Thị Kỳ Huyệt Châm Cứu Học).

09/07/2018

VỆ SINH TRI YẾU TẬP (衛生知要集)
藥性歌 (Dược tính Ca)
治風門 (Trị phong môn)
(tiếp theo)

(2)
獨滑主頭眩齒痛
兩足痹頰痛項强
(3)
紫蘇發散風寒
辛能定喘温還寬胸

Dịch âm:

Độc Hoạt chủ đầu huyền xỉ thống
Lưỡng túc tê giáp thống hạng cường
Tử Tô phát tán phong hàn
Tân năng định suyễn ôn hoàn khoan hung.

CHÚ THÍCH TỪ VỰNG MỚI:

獨滑 Độc Hoạt: tên vị thuốc.
主 chủ: chính, điều chính yếu, cái căn bản.
頭眩 đầu huyền: đầu xây xẩm (眩: chính âm là “huyễn”, trường hợp này đọc là “huyền”cho thuận tai.
齒痛 xỉ thống: nhức răng.
兩足痹 lưỡng túc tê/tý: tê bại hai chân.
頰痛 giáp thống: đau má.
項强 hạng cường: cứng cổ.
紫蘇 Tử Tô: tên vị thuốc tía tô.
發散風寒 phát tán phong hàn: làm phát tán phong hàn ra ngoài.
辛能定喘 tân năng định suyễn: vị cay, có tác dụng làm yên bệnh suyễn.
温還寬胸 ôn hoàn khoan trung: tính ấm, làm thư thái ở ngực.

GIẢI NGHĨA:

Độc Hoạt: tác dụng chữa đầu xây xẩm, nhức răng, hai chân tê bại, nhức ở má, cứng đơ cổ.
Tử Tô: có vị cay, tính ấm. Công dụng phát tán phong hàn, làm yên chứng suyễn, thư thái ở ngực.

(còn tiếp}

09/07/2018

VỆ SINH TRI YẾU TẬP (衛生知要集)
藥性歌 (Dược tính Ca)
治風門 (Trị phong môn)
(tiếp theo)

(4)
升麻主肺癰唾血
痘疹癍口咽諸瘡
提腸氣治脫肛
帶崩瘴疫傷寒並宜

Dịch âm:

Thăng Ma chủ phế ung thóa huyết
Đậu chẩn ban khẩu yết chư sang
Đề trường khí trị thoát giang
Đới băng chướng dịch thương hàn tịnh nghi.

CHÚ THÍCH TỪ VỰNG MỚI:

升麻 Thăng Ma: tên vị thuốc.
肺癰 phế ung: trạng thái phổi có mủ (YH hiện đại: áp-xe phổi).
唾血 thóa huyết: nhổ ra máu.
痘疹 đậu chẩn: ban, trái.
口咽諸瘡 khẩu yết chư sang: các chứng viêm nhọt ở miệng và họng.
提腸氣 đề trường khí: nâng khí ở ruột.
治脫肛 trị thoát giang: chữa lòi con trê.
帶崩 đái/đới băng: khí hư (bạch đới) và băng huyết.
瘴疫 chướng dịch: độc khí do thấp nhiệt chưng uất sản sinh ở rừng núi, gây bệnh truyền nhiễm.
傷寒 thương hàn: tên bệnh (xem Thương hàn luận).
並宜 tịnh nghi: đều nên.

GIẢI NGHĨA:

Thăng Ma: Trị phế ung, nhổ ra máu; bệnh ban, trái; các chứng viêm nhọt ở miệng và họng; nâng khí ở ruột lên chữa lòi con trê; bệnh băng đới, bệnh thuộc về chướng dịch và bênh thương hàn đều nên dùng.

(còn tiếp)

09/07/2018

Address

Quy Nhon

Opening Hours

Monday 09:00 - 17:00
Tuesday 09:00 - 17:00
Wednesday 09:00 - 17:00
Thursday 09:00 - 17:00
Friday 09:00 - 17:00
Saturday 09:00 - 17:00
Sunday 09:00 - 17:00

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Hội Đông Y Tỉnh Bình Định posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Share