Bác sĩ Dũng - Hồi sức cấp cứu

Bác sĩ Dũng - Hồi sức cấp cứu Chia sẻ kiến thức y khoa

1. Nguy cơ ngộ độc ở trẻ emNgộ độc có thể là do nuốt, hít, chạm hoặc tiêm các loại thuốc, hóa chất, nọc độc và khí độc. ...
06/04/2023

1. Nguy cơ ngộ độc ở trẻ em
Ngộ độc có thể là do nuốt, hít, chạm hoặc tiêm các loại thuốc, hóa chất, nọc độc và khí độc. Ngộ độc thuốc, ngộ độc thức ăn hay bất kỳ dạng ngộ độc nào khác đều có nguy cơ gây tổn thương các cơ quan và thậm chí khiến nạn nhân tử vong.

Một số chất như thuốc và khí carbon monoxide chỉ gây độc khi tiếp xúc với nồng độ và liều lượng cao. Những hóa chất khác, chẳng hạn như xà phòng tẩy rửa, chỉ nguy hiểm với con người nếu cho vào miệng thay vì tiếp xúc qua da. Đặc biệt, trẻ em là đối tượng cực kỳ nhạy cảm khi bị ảnh hưởng bởi một lượng nhỏ các loại thuốc và hóa chất nhất định.

Phụ huynh cần lưu ý rằng trẻ nhỏ có thể bị ngộ độc bởi những thứ thường không được xem là chất độc nguy hiểm, bao gồm:

Mỹ phẩm trang điểm;
Các sản phẩm chăm sóc cá nhân như dầu tắm gội, sữa dưỡng thể và nước hoa;
Dung dịch tẩy rửa, kể cả bao bì của gói bột giặt;
Cây cỏ thực vật;
Các vật dụng như đồng hồ hoặc pin dạng nút.
2. Biểu hiện của người bị ngộ độc

Các dấu hiệu ngộ độc phổ biến là:

Bỏng hoặc tấy đỏ quanh miệng và môi;
Hơi thở có mùi của hóa chất, chẳng hạn như mùi xăng hoặc mùi sơn nhẹ;
Nôn, khó thở và buồn ngủ;
Lú lẫn hoặc thay đổi trạng thái tinh thần.
Những biểu hiện trên thường dễ bị nhầm lẫn với các tình trạng khác, chẳng hạn như co giật, nhiễm độc rượu, đột quỵ hay phản ứng với insulin. Do đó nếu nghi ngờ một người bị ngộ độc, cần tìm kiếm thêm những manh mối liên quan để xác định. Ví dụ như ngộ độc thuốc sẽ có chai hoặc gói thuốc rỗng, thuốc vương vãi rải rác, hoặc vết bỏng, vết bẩn và mùi hôi trên người nạn nhân hay khu vực xung quanh. Khi một đứa trẻ có những dấu hiệu kể trên, nên cân nhắc đến khả năng có thể bé đã ăn phải miếng dán giảm đau hoặc vô tình nuốt pin cúc áo.

3. Bị ngộ độc khi nào cần gọi cấp cứu?
Gọi số khẩn cấp 115 cho bệnh viện ngay lập tức nếu nạn nhân có dấu hiệu:

Buồn ngủ hay bất tỉnh;
Khó thở hoặc ngừng thở;
Không kiểm soát được bồn chồn hoặc kích động;
Bị co giật;
Phát hiện nạn nhân đã cố ý hoặc vô tình uống thuốc hoặc dùng bất kỳ loại hóa chất nào khác quá liều.
Ngoài ra, nên liên lạc với trung tâm kiểm soát phòng chống độc gần nhất trong tình huống người bệnh ổn định và không có triệu chứng, hoặc chuẩn bị chuyển người bệnh đi cấp cứu tại cơ sở y tế địa phương.

Cần nắm rõ các triệu chứng, độ tuổi, cân nặng của nạn nhân, cũng như các loại thuốc khác mà họ đang dùng và bất kỳ thông tin nào có được về chất độc để sẵn sàng trình bày cho bác sĩ.

Cố gắng xác định liều lượng và thời gian nạn nhân tiếp xúc với chất độc. Nếu có thể, nên mang theo bao bì của loại thuốc hoặc hóa chất nghi ngờ để cung cấp thêm thông tin cho nhân viên y tế ở trung tâm kiểm soát chất độc.

4. Sơ cứu khi bị ngộ độc

Trong khi chờ sự trợ giúp y tế, với từng trường hợp ngộ độc có thể thực hiện các bước sơ cứu khi bị ngộ độc như sau:

Trường hợp nuốt phải chất độc: Loại bỏ tất cả tạp chất còn sót lại trong miệng của nạn nhân. Nếu nghi ngờ chất độc là chất tẩy rửa gia dụng hoặc một số loại hóa chất khác, cần đọc thông tin trên nhãn của bao bì và làm theo hướng dẫn xử trí ngộ độc do tai nạn nếu có;
Trường hợp chất độc trên da: Cởi bỏ quần hoặc áo đã bị dính chất độc bằng găng tay. Rửa sạch da trong vòng 15 - 20 phút dưới vòi nước chảy;
Trường hợp chất độc trong mắt: Nhẹ nhàng rửa mắt bằng nước mát hoặc nước ấm trong ít nhất 15 phút hoặc cho đến khi có sự giúp đỡ từ các nhân viên y tế;
Trường hợp hít phải chất độc: Đưa nạn nhân vào nơi có không khí trong lành càng sớm càng tốt.
Nghiêng đầu nạn nhân sang một bên nếu có nôn để tránh nghẹn;
Bắt đầu hô hấp nhân tạo nếu người bị ngộ độc không có dấu hiệu của sự sống, chẳng hạn như cử động, thở hoặc ho.
Gọi cho bệnh viện hoặc trung tâm kiểm soát chất độc trong khu vực để được hướng dẫn thêm;
Mang chai, gói thuốc hoặc bao bì có nhãn và tất cả thông tin có liên quan đến chất độc để gửi cho đội cứu thương cùng với nạn nhân.
Trong quá trình xử trí ngộ độc, cần dựa vào những triệu chứng và độ tuổi của người bệnh, cũng như loại chất gây ngộ độc và mức độ nhiễm độc để tiến hành chính xác các bước sơ cứu khi bị ngộ độc.
5. Đề phòng ngộ độc

Để ngăn ngừa ngộ độc thuốc hoặc ngộ độc thức ăn, đặc biệt là ở trẻ nhỏ, phụ huynh cần lưu ý thận trọng với các sản phẩm và vật dụng khuyến cáo để xa tầm tay trẻ em. Một số ví dụ điển hình bao gồm:

Siro gây nôn Ipecac:
Không nên tùy tiện sử dụng siro Ipecac hoặc cố tình móc họng để gây nôn. Các chuyên gia không khuyến cáo sử dụng ipecac ở cả trẻ em lẫn người lớn - những đối tượng đã uống thuốc hay dùng các chất có khả năng gây độc. Đến nay vẫn chưa có bằng chứng cho thấy tính hiệu quả của loại thuốc này và thường là gây hại nhiều hơn. Do đó phụ huynh nên bỏ ngay những chai siro Ipecac cũ còn chứa trong nhà.

Pin cúc áo:
Đây là loại pin tròn, nhỏ có dạng nút được sử dụng trong đồng hồ và các thiết bị điện tử khác, chúng đặc biệt nguy hiểm với trẻ nhỏ. Một cục pin bị kẹt trong thực quản có thể gây bỏng nặng chỉ trong vòng 2 giờ.

Nếu nghi ngờ một đứa trẻ đã nuốt phải loại pin này, cần lập tức đưa bé đi chụp X-quang khẩn cấp để xác định vị trí của dị vật. Các biện pháp loại bỏ chuyên môn sẽ được tiến hành nếu pin nằm trong thực quản. Trong trường hợp pin đã đi vào dạ dày, thải dị vật qua đường ruột thường sẽ an toàn hơn.

Miếng cao dán:
Nếu phát hiện trẻ đang cầm một miếng dán giảm đau, lập tức lấy lại và kiểm tra cẩn thận da của bé, gỡ miếng dán nếu chúng dính vào cơ thể bé. Ngoài ra cũng nên kiểm tra vòm miệng để tránh bị mắc kẹt do trẻ đã mút miếng dán.

Nếu nghi ngờ về nguy cơ xảy ra ngộ độc, hãy gọi số cấp cứu 115 hoặc liên hệ với trung tâm kiểm soát phòng chống độc tại khu vực đang sinh sống để được trợ giúp. Các nhân viên y tế có thể hỗ trợ cung cấp thông tin về chất độc, hướng dẫn các bước sơ cứu khi bị ngộ độc, hoặc đưa ra lời khuyên cần thiết để tiếp tục theo dõi nạn nhân tại nhà trong từng tình huống cụ thể.

Nguồn : https://www.vinmec.com/vi/tin-tuc/thong-tin-suc-khoe/cac-luu-y-khi-so-cuu-nguoi-bi-ngo-doc/

VIÊM CƠ TIMViêm cơ tim là một trong những bệnh lý về tim vô cùng nguy hiểm. Đây là hiện tượng các tế bào cơ tim bị tổn t...
01/04/2023

VIÊM CƠ TIM

Viêm cơ tim là một trong những bệnh lý về tim vô cùng nguy hiểm. Đây là hiện tượng các tế bào cơ tim bị tổn thương do nhiều tác nhân khác nhau dẫn đến hiện tượng viêm, hoại tử tế bào cơ tim.

1. Bệnh viêm cơ tim là gì?
Viêm cơ tim là tình trạng viêm lớp cơ dày của thành tim khiến cơ tim bị tổn thương viêm và hoại tử, ảnh hưởng tới chức năng co bóp của cơ tim. Bệnh viêm cơ tim nếu không được phát hiện và điều trị sớm có thể gây ra nhiều biến chứng nguy hiểm, dẫn đến suy tim nhanh chóng và đe dọa tính mạng người bệnh.

Viêm cơ tim có thể biểu hiện dưới nhiều triệu chứng và mức độ khác nhau, từ nhẹ, triệu chứng mơ hồ đến rất nặng, sốc tim và tử vong. Đây cũng là nguyên nhân dẫn đến bệnh cơ tim giãn với suy tim mạn tính.

2. Sự nguy hiểm của bệnh viêm cơ tim

Bệnh viêm cơ tim cấp thường xuất hiện ở những người trẻ từ 20 - 40 tuổi. Thường gặp nhiều ở mùa mưa khi thời tiết chuyển mùa.

Đây là căn bệnh có diễn biến nhanh đột ngột, phức tạp, nguy cơ tử vong cao nếu không được điều trị sớm và kịp thời. Dấu hiệu ban đầu của bệnh rất khó phát hiện bởi triệu chứng lâm sàng không điển hình, giống cảm sốt thông thường như: mệt mỏi, đau nhức người, chán ăn...hơn nữa lại hay gặp ở người trẻ tuổi nên càng dễ chủ quan, coi nhẹ.

Bệnh viêm cơ tim cấp chỉ sau vài ngày đã gây ra các biến chứng nguy hiểm như: viêm phổi, rối loạn nhịp tim, suy hô hấp, suy tim. Vì vậy, nếu bị cảm sốt và đi kèm theo những biểu hiện khác thường: tức ngực, khó thở, nhịp tim nhanh...thì người bệnh cần lập tức đến cơ sở y tế để phát hiện và điều trị kịp thời.

Trong trường hợp viêm cơ tim nặng, có thể dẫn tới tình trạng:

Ngất, đột tử.
Rối loạn nhịp tim: Ngoại tâm thu, block dẫn truyền, nhịp nhanh...
Trường hợp rất nặng, đe dọa tính mạng: suy tim do viêm cơ tim đòi hỏi tim nhân tạo hoặc cấy ghép tim.
Tiên lượng lâu dài: có thể dẫn đến bệnh cơ tim giãn nở, suy tim nặng.
3. Nguyên nhân gây bệnh viêm cơ tim
Nguyên nhân gây viêm cơ tim chủ yếu là do virus, trong đó thường gặp nhất là do virus coxsackie B. Một số loại virus khác như virus gây cảm lạnh thông thường (adenovirus), parvovirus B19 (virus gây sốt phát ban), virus herpes (gây bệnh thủy đậu, zona thần kinh), echovirus (virus gây nhiễm trùng đường tiêu hóa), hay virus rubella (gây bệnh sởi) cũng là nguyên nhân tiềm tàng của viêm cơ tim.

Ngoài ra, bệnh viêm cơ tim cũng có thể gây ra bởi vi khuẩn, ký sinh trùng; do tiếp xúc với thuốc gây dị ứng, độc hại, thuốc chống động kinh; do điều trị bằng hóa trị hoặc xạ trị; mắc bệnh lupus, viêm động mạch...

4. Dấu hiệu và chẩn đoán bệnh viêm cơ tim
4.1 Các dấu hiệu viêm cơ tim thường gặp

Viêm cơ tim nhẹ thường không có triệu chứng gì đáng chú ý. Người bệnh có thể cảm thấy ốm yếu, mệt mỏi và có các triệu chứng chung của cơ thể khi nhiễm virus, sau đó tự khỏi mà không hề nhận biết được mình đã bị viêm cơ tim.

Trong những trường hợp viêm nặng, người bệnh có thể gặp nhiều triệu chứng và dấu hiệu khác nhau tùy thuộc vào nguyên nhân gây bệnh, bao gồm:

- Tức ngực

- Nhịp tim nhanh bất thường

- Khó thở ngay cả khi đang ngồi nghỉ ngơi hoặc trong quá trình vận động

- Phù nề (tích nước) ở chân, sưng mắt cá chân và bàn chân

- Cảm giác mệt mỏi

- Dấu hiệu và triệu chứng khác như đau đầu, đau nhức cơ thể, đau khớp, sốt, đau họng và tiêu chảy.

Viêm cơ tim ở trẻ em thường là bệnh viêm cơ tim cấp tính với các triệu chứng tiến triển nhanh và rõ rệt hơn bao gồm: Sốt, ngất xỉu, khó thở, nhịp thở nhanh và nhịp tim nhanh bất thường.

4.2 Cận lâm sàng

Tốc độ lắng máu là một trong các xét nghiệm phát hiện phản ứng viêm có thể tăng trong viêm cơ tim. Tuy nhiên tốc độ lắng máu có thể tăng ở rất nhiều tình trạng viêm và không do viêm khác. Đây là một xét nghiệm không đặc hiệu.
Men tim như creatine phosphokinase, lactate dehydrogenase, troponine T, CK-MB, SGOT (AST), SGPT (ALT) có thể tăng khi viêm cơ tim cấp và mạn tính. Tuy nhiên nếu các men này là âm tính cũng không loại trừ được tình trạng viêm cơ tim.
Kỹ thuật khuếch đại chuỗi polymerase (PCR: Polymerase Chain Reaction) có thể phát hiện được bộ gen của virus ở trong tế bào cơ tim nhưng lại không phát hiện được ở máu ngoại vi. Kỹ thuật này xác định được loại virus gây bệnh.
Siêu âm tim phát hiện chức năng co bóp của cơ tim bị giảm rõ và thường xuất hiện tràn dịch màng ngoài tim, hở van hai lá và không có tổn thương của mạch vành cũng như các bất thường bẩm sinh khác.
Viêm cơ tim có thể được phát hiện bằng sinh thiết nội tâm mạc. Kỹ thuật này thường thực hiện bằng thông tim. Sinh thiết nội tâm mạc cho biết các nguyên nhân khác của bệnh cơ tim như bệnh tích trữ, khiếm khuyết ty lạp thể.
Điện tim: Thay đổi điện tim có thể bao gồm: Rối loạn dẫn truyền nhĩ-thất, block nhĩ thất độ I, II, III hoặc rối loạn dẫn truyền trong thất (block nhánh bó His). Các rối loạn nhịp tim,
Tuy nhiên, bất thường phổ biến nhất được thấy trong viêm cơ tim là nhịp tim nhanh xoang với đoạn ST không đặc hiệu và thay đổi sóng T.
X-quang tim:
Tim to toàn bộ và to rất nhanh.
Biểu hiện ứ trệ tuần hoàn ở phổi.
Sau điều trị, điện tim trở về bình thường.

Nguồn : https://www.vinmec.com/vi/tim-mach/thong-tin-suc-khoe/benh-viem-co-tim-cap-nguy-hiem-nao-dau-hieu-va-cach-chan-doan/

1. Bệnh sốt xuất huyết là gì?Sốt xuất huyết ở người lớn là bệnh truyền nhiễm cấp tính do một loại siêu vi trùng có tên l...
10/11/2022

1. Bệnh sốt xuất huyết là gì?
Sốt xuất huyết ở người lớn là bệnh truyền nhiễm cấp tính do một loại siêu vi trùng có tên là Dengue gây ra. Đây là căn bệnh có thể lây truyền từ người này sang người khác nếu như bị muỗi vằn (có nhiều khoang trắng ở chân và lưng) mang mầm bệnh đốt. So với người lớn thì trẻ em là đối tượng dễ bị mắc bệnh hơn cả.
Bệnh sốt xuất huyết có thể khiến cho cơ thể người bệnh trở nên đau nhức, đặc biệt là ở cơ và các khớp. Sốt xuất huyết dạng nhẹ có thể gây phát ban, sốt cao, dạng nặng thì có thể gây chảy máu, giảm huyết áp đột ngột và khiến người bệnh tử vong nhanh chóng.

2. Triệu chứng sốt xuất huyết ở người lớn
Triệu chứng sốt xuất huyết ở người lớn có nhiều điểm tương đồng với sốt xuất huyết ở trẻ nhỏ. Khi bị nhiễm phải loại virus gây bệnh, người bệnh sẽ gặp phải một trong 2 trường hợp là sốt xuất huyết biểu hiện ra bên ngoài hoặc xuất huyết nội tạng.

Triệu chứng sốt xuất huyết ở người lớn dạng cổ điển (thể nhẹ)

Trong trường hợp này, bệnh sốt xuất huyết ở người lớn sẽ có triệu chứng rầm rộ hơn ở trẻ em, thường xuất hiện các biểu hiện điển hình và không có biến chứng. Bắt đầu bằng triệu chứng sốt (trong vòng 4-7 ngày tính từ sau khi bị truyền bệnh bởi muỗi) và kèm theo các biểu hiện như:

Đau phía sau mắt
Đau nhức đầu nghiêm trọng
Đau khớp và cơ
Sốt cao, có thể lên đến 40,5 độ C
Phát ban
Buồn nôn và ói mửa
Dạng sốt xuất huyết gây xuất huyết nội tạng

Người bệnh có thể bị xuất huyết nội tạng (đường tiêu hóa và xuất huyết não), triệu chứng sốt xuất huyết ở người lớn gây xuất huyết đường tiêu hóa sẽ bao gồm biểu hiện đau đầu bình thường và sốt nhẹ, không phát ban. Sau khoảng 2 ngày, người bệnh sẽ đi ngoài ra máu, phân có màu đen hoặc đi ngoài ra máu tươi, trên da bắt đầu xuất hiện các chấm xuất huyết, người mệt mỏi, da xanh tái...

Trường hợp xuất huyết não sẽ rất khó nhận biết vì triệu chứng sốt xuất huyết ở người lớn sẽ không rõ ràng, có thể người bệnh chỉ bị sốt, đau đầu, liệt chân, tay hoặc liệt nửa người và sau đó bị hôn mê, dẫn đến tử vong

Triệu chứng sốt xuất huyết dengue (hội chứng sốc dengue)

Đây là thể bệnh dạng nặng nhất của bệnh sốt xuất huyết ở người lớn, bao gồm tất cả các triệu chứng của bệnh sốt xuất huyết thể nhẹ cộng với triệu chứng chảy máu, huyết tương thoát khỏi mạch máu, chảy máu ồ ạt, hạ huyết áp...

Trường hợp này thường xảy ra ở người bệnh trong lần nhiễm bệnh sau, khi cơ thể đã có miễn dịch chủ động hoặc thụ động với một loại kháng nguyên virus, sau khoảng 2 - 5 ngày mắc bệnh thì bệnh sẽ có tiến triển nặng, dạng bệnh này có thể xảy ra ở trẻ và gây tử vong nhanh chóng.

3. Cách điều trị bệnh sốt xuất huyết ở người lớn
Sốt xuất huyết có tự khỏi không? Thực tế, có nhiều người chưa hiểu hết về bệnh sốt xuất huyết ở người lớn và cách điều trị như thế nào để ngăn ngừa biến chứng. Theo đánh giá của giới chuyên môn thì sốt xuất huyết là căn bệnh có nguy cơ gây biến chứng cao và khả năng ảnh hưởng đến tính mạng của người bệnh là rất lớn. Do vậy, việc xác định mức độ nặng nhẹ của bệnh là rất cần thiết để có thể đưa ra phác đồ điều trị bệnh sốt xuất huyết phù hợp.

Giai đoạn điều trị sốt xuất huyết ở nhà: Khi phát hiện biểu hiện sốt từ 2 - 7 ngày, người bệnh có thể điều trị ở nhà và biện pháp điều trị duy nhất là bù nước cho người bệnh.
Giai đoạn nhập viện thời gian ngắn (12-24 giờ): Cần phải đưa người bệnh nhập viện ngay khi biện pháp bù nước bằng đường uống không mang lại kết quả và người bệnh xuất hiện các điểm xuất huyết dưới da hoặc niêm mạc.
Giai đoạn nhập viện thời gian dài (>24 giờ): Bệnh nhân sốt xuất huyết cần phải nhập viện điều trị ngay khi có biểu hiện chân tay lạnh, sốt li bì, mạch yếu, viêm họng, khó thở...
Sốt xuất huyết hiện nay chưa có thuốc điều trị, phương pháp điều trị chủ yếu là điều trị triệu chứng, khi bệnh sốt xuất huyết ở người lớn thuộc thể nhẹ thì có thể chăm sóc tại nhà, cho bệnh nhân nghỉ ngơi và uống nhiều nước, sử dụng các món ăn mềm và có nước, dễ tiêu hóa, hạ sốt với Paracetamol, lau mát khi sốt cao. Người bệnh cần tuân thủ tuyệt đối theo hướng dẫn của bác sĩ, tự theo dõi sát tại nhà, có thể đến bệnh viện thực hiện các xét nghiệm cần thiết (nếu có thể).

4. Phòng ngừa sốt xuất huyết ở người lớn như thế nào?
Sốt xuất huyết là căn bệnh có thể lây truyền từ người này sang người khác qua đường trung gian là muỗi vằn, chính vì thế, biện pháp phòng ngừa sốt xuất huyết ở người lớn và trẻ nhỏ hiệu quả nhất chính là:

Vệ sinh nơi ở, môi trường sống xung quanh sạch sẽ.
Không nên trữ nước trong nhà.
Tiêu diệt muỗi vằn bằng cách đốt nhang muỗi, vợt muỗi, phun thuốc diệt muỗi.
Phát quang bụi rậm và ngủ màn để tránh bị muỗi đốt.
Sốt xuất huyết là căn bệnh nguy hiểm với nguy cơ biến chứng rất cao, do vậy, để bảo vệ sức khỏe của bản thân và những người thân yêu thì mỗi người hãy chủ động tìm hiểu về căn bệnh này và có biện pháp phòng ngừa hiệu quả.

Nguồn : https://www.vinmec.com/vi/tin-tuc/thong-tin-suc-khoe/sot-xuat-huyet-o-nguoi-lon-trieu-chung-va-cach-dieu-tri/

Adenovirus ở trẻ em gây bệnh gì?Adenovirus là một nhóm virus có thể gây ra tình trạng nhiễm trùng. Nhiễm trùng Adenoviru...
28/09/2022

Adenovirus ở trẻ em gây bệnh gì?

Adenovirus là một nhóm virus có thể gây ra tình trạng nhiễm trùng. Nhiễm trùng Adenovirus có thể xảy ra ở mọi lứa tuổi, tuy nhiên chủng virus phổ biến hơn ở trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ. Thống kê cho thấy, hầu hết trẻ bị nhiễm Adenovirus ít nhất một lần trước 10 tuổi.

Chủng virus Adeno không xảy ra theo mùa như các loại virus khác (ví dụ như virus cúm…), mà có thể xuất hiện quanh năm, đặc biệt phát triển mạnh vào thời điểm giao mùa.

Các tổn thương do Adenovirus thường gặp nhất là:

Viêm đường hô hấp trên;
Viêm đường hô hấp dưới;
Viêm não màng não;
Viêm kết mạc mắt (đau mắt đỏ);
Viêm bàng quang;
Các bệnh lý đường tiêu hóa như buồn nôn, nôn, tiêu chảy…

1. Adenovirus ở trẻ nhỏ lây truyền qua đường nào?

Adenovirus ở trẻ em rất dễ lây lan, đặc biệt ở những nơi có tiếp xúc gần gũi như trường học, bệnh viện, trung tâm chăm sóc trẻ hoặc trại hè.

Thông thường, Adenovirus lây truyền qua đường giọt bắn, đường hô hấp khi nói chuyện trực tiếp với người bệnh hoặc khi người bệnh ho và hắt hơi. Việc sử dụng chung nguồn nước bị ô nhiễm khi bơi lội, cũng làm tăng nguy cơ nhiễm virus. Hoặc việc dùng chung đồ dùng cá nhân với người nhiễm virus cũng khiến trẻ tăng nguy cơ nhiễm bệnh.

Đường phân – miệng (nhiễm trùng đường tiêu hóa) cũng là tác nhân lây nhiễm Adenovirus khi trẻ rửa tay không thường xuyên hoặc không đúng cách. Khi chạm vào người bệnh hoặc đồ vật có virus, Adenovirus có thể tồn tại trên các bề mặt trong một khoảng thời gian khá dài. Do đó, chúng có thể lây lan qua đồ chơi, khăn tắm hoặc bất cứ đồ vật nào bị nhiễm bệnh.

Các triệu chứng bệnh thường bắt đầu khoảng 2 ngày đến 2 tuần kể từ khi trẻ tiếp xúc với Adenovirus.

2. Nhóm trẻ em nào có nguy cơ nhiễm Adenovirus?

Nhiễm trùng Adenovirus có thể xảy ra ở mọi lứa tuổi, đặc biệt trẻ em từ 6 tháng đến 2 tuổi có nguy cơ nhiều hơn bởi sức đề kháng kém. Do đó, các chuyên gia y tế khuyến cáo mẹ nên cho trẻ bú sớm ngay sau khi sinh, bú hoàn toàn sữa mẹ trong 6 tháng đầu đời và kéo dài đến khi trẻ được 2 tuổi.

3. Các biến chứng nguy hiểm có thể xảy ra khi trẻ bị nhiễm Adenovirus

Virus Adeno có khả năng lây lan rất nhanh trong cộng đồng, nếu không phát hiện sớm và điều trị kịp thời có thể dẫn đến nhiều biến chứng nguy hiểm như:

Bệnh phổi mạn tính: Mặc dù hiếm gặp nhưng trẻ bị viêm phổi do Adenovirus có thể phát triển thành bệnh phổi mạn tính.
Tình trạng nhiễm trùng nặng: Trẻ nhỏ có vấn đề ở hệ thống miễn dịch có nguy cơ bị nhiễm trùng nặng hơn khi nhiễm Adenovirus.
Lồng ruột: Là bệnh lý nghiêm trọng ở đường ruột gồm ruột non và ruột già, trong đó một đoạn ruột phía trên di chuyển và chui vào lòng của đoạn ruột phía dưới gây tắc nghẽn sự lưu thông của đường ruột. Khi đoạn ruột phía trên chui vào kéo theo các mạch máu, khiến các mạch máu bị thắt nghẹt gây tổn thương đoạn ruột bên dưới và chảy máu. Bệnh diễn biến nhanh, nếu không điều trị kịp thời sẽ gây hoại tử dẫn đến thủng ruột, gây viêm phúc mạc, nhiễm trùng máu, đe dọa tính mạng trẻ.
Khi nào cần đưa trẻ đến gặp bác sĩ?

4. Để tránh các biến chứng nguy hiểm đe dọa sức khỏe và tính mạng trẻ, phụ huynh cần đưa trẻ đến ngay cơ sở y tế nếu có các biểu hiện sau:

Sốt cao hoặc sốt nhiều ngày, không đáp ứng với thuốc hạ sốt.
Xuất hiện vấn đề về hô hấp.
Trẻ dưới 3 tháng tuổi hoặc trẻ có vấn đề ở hệ thống miễn dịch.
Bị viêm kết mạc mắt, đau mắt hoặc vấn đề thị lực.
Bị nôn mửa, tiêu chảy hoặc có dấu hiệu mất nước như miệng khô, mệt mỏi, bơ phờ, đi tiểu ít hoặc ít ướt tã hơn.
Trẻ cần nhập viện điều trị nội trú khi có các biểu hiện sau:

Khó thở: thở nhanh theo tuổi, rút lõm lồng ngực, khó thở thanh quản.
Suy hô hấp hoặc giảm oxy máu: tím, SpO2 < 94%.
Có dấu hiệu toàn thân nặng: Nôn không uống thuốc được, co giật, li bì, tình trạng nhiễm trùng nặng.
Bệnh nền nặng: bệnh phổi mạn, suy dinh dưỡng nặng, suy giảm miễn dịch, bệnh tim mạch nặng…
Tổn thương trên X-quang phổi: tổn thương phổi nặng, hoại tử phổi, abces phổi (áp xe phổi – một nhiễm trùng phổi hoại tử được đặc trưng bởi một tổn thương dạng hang chứa mủ), tràn dịch màng phổi, tràn khí màng phổi.

5. Cách chẩn đoán Adenovirus ở trẻ em

Để chẩn đoán Adenovirus ở trẻ em, đầu tiên bác sĩ sẽ thăm khám lâm sàng dựa vào các triệu chứng trẻ mắc phải như sốt, ho, đau họng, chảy nước mũi, viêm kết mạc mắt… Đối với trẻ có biểu hiện nghi ngờ mắc Adenovirus, bác sĩ sẽ chỉ định làm xét nghiệm máu, chụp X-quang tim phổi và xét nghiệm tìm căn nguyên gây bệnh bằng kỹ thuật Realtime-PCR.

Kỹ thuật Realtime-PCR sử dụng mẫu bệnh phẩm là dịch hô hấp của trẻ, các cặp mồi là đoạn gen mã hóa cho các kháng nguyên đặc hiệu giúp phát hiện hầu hết các type Adenovirus gây bệnh. Hệ thống Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh áp dụng kỹ thuật này trong chẩn đoán bệnh, thời gian thực hiện tương đối nhanh, dao động từ độ chính xác cao lên đến 95-99%.

6. Phương pháp điều trị Adenovirus ở trẻ em

Hiện nay chưa có thuốc điều trị đặc hiệu Adenovirus. Trẻ bị nhiễm Adenovirus sẽ được cách ly ở phòng bệnh riêng. Điều trị bằng cách điều trị triệu chứng kết hợp nâng cao sức đề kháng của cơ thể và bổ sung vitamin C. Nếu điều trị đúng cách, trẻ có thể khỏi bệnh sau một vài ngày. Tuy nhiên, đối với những trẻ gặp vấn đề nhiễm trùng như viêm phổi, viêm kết mạc mắt… thì có thể kéo dài 1 tuần hoặc hơn.

Điều trị triệu chứng ở trẻ bằng cách:

Cho trẻ nghỉ ngơi nhiều;
Uống nhiều nước;
Uống Acetaminophen nếu triệu chứng sốt làm trẻ khó chịu;
Vệ sinh mũi thường xuyên, có thể sử dụng máy tạo ẩm, phun sương hoặc thuốc nhỏ mũi nước muối để cải thiện triệu chứng nghẹt mũi ở trẻ, giúp trẻ hô hấp dễ dàng hơn;
Đối với trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ bị nôn mửa hoặc tiêu chảy không thể uống đủ chất lỏng, cần tiến hành điều trị mất nước.
Đối với trẻ sơ sinh (đặc biệt là trẻ mới sinh và trẻ sinh non), trẻ có hệ miễn dịch kém, trẻ bị nhiễm Adenovirus nặng có thể cần hỗ trợ hô hấp, như thở oxy hoặc thở máy, dùng kháng sinh trong trường hợp có bội nhiễm viêm phổi.
Phụ huynh cần lưu ý, trước khi sử dụng bất kỳ loại thuốc nào điều trị cho trẻ cần tham khảo ý kiến của bác sĩ chuyên môn. Khuyến cáo phụ huynh không nên sử dụng thuốc có chứa Aspirin bởi có thể dẫn đến hội chứng Reye – một tình trạng hiếm gặp gây sưng phù não và gan, ảnh hưởng đến sức khỏe cũng như khả năng hồi phục ở trẻ.

7. Phòng ngừa Adenovirus ở trẻ em bằng cách nào?

Để phòng bệnh cho trẻ có một số biện pháp phụ huynh cần đặc biệt lưu ý.

Đảm bảo chế độ dinh dưỡng đầy đủ nhằm tăng cường sức đề kháng cho trẻ:
Một chế độ ăn uống bổ sung đầy đủ các chất dinh dưỡng cần thiết sẽ giúp tăng sức đề kháng ở trẻ. Khi có sức đề kháng tốt, trẻ giảm được các nguy cơ mắc bệnh, trong đó có các bệnh ở đường hô hấp.

Các chuyên gia Nhi khuyến cáo, mẹ nên cho con bú ngay từ sau khi sinh, bú hoàn toàn bằng sữa mẹ trong 6 tháng đầu đời đến khi trẻ được 2 tuổi. Khi trẻ bước vào thời kỳ ăn dặm, mẹ nên tham khảo ý kiến bác sĩ và chuyên gia dinh dưỡng để được hướng dẫn lên thực đơn hợp lý, bổ sung dinh dưỡng phù hợp theo từng giai đoạn phát triển của trẻ.

Đảm bảo vệ sinh và hướng dẫn trẻ vệ sinh đúng cách:
Thường xuyên vệ sinh mũi họng, có thể sử dụng nước muối sinh lý làm sạch mũi cho trẻ mỗi ngày.
Hướng dẫn trẻ cách rửa tay đúng cách và nhắc nhở trẻ rửa tay thường xuyên.
Hướng dẫn trẻ cách ho và hắt hơi vào khăn tay hoặc khăn giấy, không ho và hắt hơi vào tay.
Người giữ trẻ và chăm sóc trẻ cần lưu ý rửa tay sạch sẽ và thường xuyên.
Chú ý giữ các bề mặt trẻ có thể tiếp xúc như mặt bàn, đồ chơi… được sạch sẽ.
Không để trẻ nhiễm lạnh, nhất là khi bước vào thời điểm giao mùa.
Tránh để trẻ tiếp xúc với nguồn bệnh. Nếu trường học có trẻ bị nhiễm Adenovirus, hãy đảm bảo trẻ được cách ly và bảo vệ tuyệt đối đến khi các triệu chứng bệnh biến mất.
Không đưa trẻ đến những nơi công cộng đang có dịch bệnh như bệnh viện, trường học, nhà trẻ… Trường hợp bắt buộc, hãy đeo khẩu trang đầy đủ.
Tiêm vắc xin phòng bệnh đầy đủ và đúng lịch theo khuyến cáo chương trình tiêm chủng mở rộng quốc gia.

Nguồn : https://tamanhhospital.vn/adenovirus-o-tre-em/

Thiểu năng tuần hoàn não là gì?Thiểu năng tuần hoàn não (hay còn gọi rối loạn tuần hoàn não) là tình trạng lượng máu lên...
25/09/2022

Thiểu năng tuần hoàn não là gì?

Thiểu năng tuần hoàn não (hay còn gọi rối loạn tuần hoàn não) là tình trạng lượng máu lên não giảm, làm giảm sự cung cấp oxy và các chất dinh dưỡng nuôi não khiến cho tế bào thần kinh não thiếu năng lượng để hoạt động, từ đó ảnh hưởng tới các hoạt động chức năng của não.

Thiểu năng tuần hoàn não thường gặp ở người trung niên và cao tuổi, đặc biệt ở những người lao động trí óc. Hiện nay, với vô số yếu tố bất lợi cho sức khỏe của cuộc sống hiện đại như: ô nhiễm môi trường, lối sống mất cân bằng, tình trạng căng thẳng thần kinh, chế độ ăn uống không khoa học… thì bệnh cũng có thể xảy ra ở người trẻ tuổi tuy số lượng ít.

Mặc dù thiểu năng tuần hoàn não và đột quỵ thường xảy ra ở lứa tuổi từ 40 trở lên, nhưng thống kê hiện tại cho thấy bệnh này đang ngày càng có xu hướng “trẻ hóa”. Nguyên nhân chính là do cuộc sống hiện đại và công nghệ phát triển nên giới trẻ hiện nay đang phải lao động bằng trí óc vất vả hơn, cường độ làm việc, học tập cao tạo nên áp lực lớn lên não bộ và cơ thể. Khẩu phần ăn uống thiên về chất đạm, chất béo, dầu mỡ và thức ăn chế biến nhanh, thức ăn chứa chất bảo quản dẫn đến nguy cơ tăng cholesterol, mỡ trong máu, gây hẹp và tắc mạch máu não. Giới trẻ cũng càng ngày càng có xu hướng lười vận động, lười tập luyện thể thao và chủ quan vào sức trẻ nên thường ngó lơ những cảnh báo của cơ thể.

Thiểu năng tuần hoàn não ở mức độ nhẹ gây chóng mặt, mất sức lực, suy giảm trí nhớ, kém tập trung và không khống chế được cảm xúc làm ảnh hưởng đến công việc, học tập và các mối quan hệ xã hội. Khi bệnh tiến triển nặng hơn, người bệnh sẽ nói lắp, bị mất trí nhớ, tâm thần không ổn định và có khả năng bị đột quỵ dẫn đến tàn tật hoặc tử vong.

Nguyên nhân thiểu năng tuần hoàn não gồm có:

Rối loạn huyết áp: tăng huyết áp, hạ huyết áp
Do cục máu đông, xơ vữa động mạch…
Bệnh tim mạch:suy tim, bệnh van tim…
Dị dạng mạch máu bẩm sinh, viêm tắc động mạch
Chấn thương
Thoái hoá cột sống cổ, thoát vị đĩa đệm cột sống cổ…gây chèn ép mạch máu làm giảm lượng máu lưu thông lên não
Do các chèn ép từ bên ngoài hoặc do các bệnh thần kinh (u não, u tiểu não, u dây thần kinh số.

Triệu chứng thiểu năng tuần hoàn não bao gồm:

Nhức đầu: là triệu chứng hay gặp (chiếm 90% trường hợp) đồng thời cũng là triệu chứng xuất hiện sớm nhất. Tính chất đau lan tỏa, có tính co thắt hoặc khu trú vùng chẩm gáy – trán
Chóng mặt: có cảm giác hơi loạng choạng khi đi hoặc đứng, bập bềnh như say sóng, có người cảm thấy hoa mắt, tối sầm mặt lại nhất là khi di chuyển từ tư thế nằm sang tư thế đứng đột ngột.
Dị cảm: là những cảm giác không thật, bất thường do bệnh nhân tự cảm thấy. Ví dụ như cảm giác tê bì ở đầu ngón, cảm giác kiến bò. Có cảm giác như ve kêu, cối xay lúa trong tai, tiếng này tồn tại cả ngày lẫn đêm, có khi ảnh hưởng đến mọi sinh hoạt, giấc ngủ và sức khỏe của người bệnh.
Rối loạn về giấc ngủ: mất ngủ, giảm chất lượng giấc ngủ.
Rối loạn về sự chú ý: giảm sự chú ý, hay đãng trí hoặc chỉ chú ý đến một việc nào đó mà không còn phù hợp với hoàn cảnh lúc đó nữa
Rối loạn về cảm xúc: dễ cáu, dễ xúc động.kiềm chế được.
Rối loạn trí nhớ: giảm trí nhớ gần, khả năng sắp xếp lại theo trình tự giảm

Để phòng ngừa thiểu năng tuần hoàn máu não, bạn cần:

Nghỉ ngơi thư giãn mỗi 10 phút khi làm việc trí óc liên tục 2 tiếng.
Chơi thể thao, đi du lịch để giảm thiểu stress và tái tạo năng lượng sống, giúp tâm trạng luôn lạc quan, yêu đời
Hạn chế sử dụng các sản phẩm công nghệ hàng ngày như tivi, laptop, smartphone.
Tạo thói quen ăn uống khoa học, ăn nhiều rau củ, trái cây, chất xơ, hạn chế chất đạm, chất béo.
Thăm khám bác sĩ ngay khi gặp phải các triệu chứng bất thường kể trên và nghiêm túc, kiên trì điều trị dứt điểm khi phát hiện có tình trạng thiếu máu não.

SỐT VIRUS LÀ GÌ ?Sốt virus thường do nhiều loại virus gây ra, phổ biến nhất là virus đường hô hấp. Bệnh thường gặp vào m...
14/09/2022

SỐT VIRUS LÀ GÌ ?

Sốt virus thường do nhiều loại virus gây ra, phổ biến nhất là virus đường hô hấp. Bệnh thường gặp vào mùa hè, với người lớn, sốt virus có diễn biến thường nhẹ có thể tự khỏi sau 2-7 ngày. Tuy nhiên cũng có trường hợp sốt cao, diễn biến nặng sẽ gây ra nhiều biến chứng nguy hiểm.

1. Nhiều loại virus gây sốt

Sốt virus do các loại virus khác nhau gây ra. Bệnh có thể xảy ra ở bất kỳ bộ phận, khu vực nào trên cơ thể như phổi, ruột, các cơ quan trong hệ hô hấp… Nguyên nhân chính gây ra hiện tượng sốt là do một số loại virus như: Rhinovirus, virus cúm (cúm A, cúm B), Coronavirus, Adenovirus… Mỗi loại virus khác nhau sẽ gây ra các biểu hiện sốt với nhiều triệu chứng khác nhau ở người bệnh.

Đối với những người lớn trong độ tuổi trưởng thành, nếu hệ miễn dịch yếu cũng dễ bị virus gây sốt tấn công vào cơ thể. Nhất là khi thời tiết thay đổi theo mùa, người lớn dễ bị sốt virus khá giống với trẻ em.

Thường ở người lớn, với những người có sức khỏe tốt, khi bị sốt virus nếu tiến hành điều trị triệu chứng ngay thì vài ngày sẽ đỡ và khỏi bệnh. Khi đó, virus gây sốt cũng được tiêu diệt nhanh chóng, hiệu quả. Còn nếu chăm sóc không đúng cách, theo dõi diễn biến không phát hiện sớm những bất thường sẽ có nguy cơ cao gặp phải rất nhiều biến chứng nguy hiểm.

2. Đường lây truyền sốt virus

Nguyên nhân chính của sốt virus chính là bị lây nhiễm virus qua các đường khác nhau. Trong đó chủ yếu qua đường hô hấp , vì virus có trong nước bọt và dịch khi hắt hơi của người bệnh. Khi hít vào, virus sẽ theo đó xâm nhập vào cơ thể.

Virus có trong thức ăn và nước uống có thể xâm nhập vào cơ thể khi chúng ta sử dụng thức ăn và nước uống không đảm bảo vệ sinh. Một số loại virus thường thấy chính là enterovirus và norovirus.

Virus còn do muỗi truyền bệnh đây là tác nhân phổ biến nhất. Muỗi là vật chủ trung gian lây truyền các bệnh gây sốt virus, đặc biệt là sốt xuất huyết, Zika.

3. Biểu hiện sốt virus ở người lớn

Hầu hết các trường hợp sốt virus đều có các triệu chứng giống cảm lạnh thông thường. Tuy nhiên, dấu hiệu quan trọng và nổi bật nhất của sốt virus đó là sốt rất cao (có thể trên 39°C, tùy chủng virus). Các cơn sốt có thể liên tục tăng và giảm trong thời gian nhiễm bệnh, có thể sốt lên đến 40-41 độ C.
Ngoài biểu hiện sốt cao thì người bệnh còn có các biểu hiện như:

- Đau đầu: Đây là biểu hiện thường gặp của sốt virus, bệnh nhân thường có dấu hiện nhức đầu dữ hội.

- Viêm đường hô hấp : Kèm theo sốt và đau đầu là các biểu hiện viêm đường hô hấp như viêm họng (họng bị sưng tấy, đỏ), rát họng, ho, chảy nước mũi, hắt hơi, sổ mũi... Người bệnh có biểu hiện đỏ mắt, chảy nước mắt.

- Da nổi mẩn: Thường xuất hiện 2-3 ngày sau khi sốt virus, khi xuất hiện ban thì sẽ đỡ sốt vì bệnh đã qua thời kỳ ủ bệnh và phát bệnh.

- Đau nhức mình mẩy: Người bệnh đau nhức khắp người, đặc biệt là đau nhức ở cơ bắp. Những cơn đau này thường khiến bệnh nhân mệt mỏi không làm được việc.

- Rối loạn tiêu hóa: Biểu hiện này thường xuất hiện sớm nếu nguyên nhân gây sốt virus do virus đường tiêu hóa, cũng có thể xuất hiện muộn hơn vài ngày sau khi sốt với đặc điểm là đại tiện lỏng (tiêu chảy), không có máu, chất nhầy.

Ngoài ra, người bệnh còn có thể buồn nôn , nôn, xuất hiện hạch vùng đầu, mặt, cổ thường sưng to, đau có thể nhìn hoặc sờ thấy...

4. Chẩn đoán sốt virus

Sốt do virus và do vi khuẩn có rất nhiều điểm giống nhau nên việc chẩn đoán các bác sĩ dựa vào tiền căn, bệnh sử, tính chất các triệu chứng và cả lấy mẫu xét nghiệm để chẩn đoán, chủ yếu là để phân biệt với tình trạng nhiễm trùng.

Xét nghiệm là phương pháp tốt nhất giúp chẩn đoán khi sốt virus. Ngoài việc giúp xác định nguyên nhân của sốt virus hay không, xét nghiệm khi sốt siêu vi còn có thể giúp xác định loại trừ các nguyên nhân khác như: nhiễm khuẩn, có thiếu máu, mất nước và các bệnh lý về máu cơ bản khác…để xác định được chính xác tình trạng cũng như nguyên nhân của sốt. Từ đó giúp cho việc điều trị chuẩn xác đúng phác đồ.

5. Cần chăm sóc đúng cách khi sốt virus

Trên thực tế hầu hết các trường hợp sốt virus đều không nguy hiểm và có thể tự khỏi nếu chăm sóc tại nhà đúng cách.

Khi bị sốt virus người bệnh cần kiểm tra nhiệt độ thường xuyên nếu sốt cao cần sử dụng thuốc hạ sốt paracetamol 500mg khi sốt ở nhiệt độ 38,5 độ C .

Người bệnh cần bù nước vì khi sốt cao có thể gây mất nước, gây rối loạn điện giải cơ thể. Do đó nên uống nhiều nước lọc và bù điện giải bằng cách uống Oresol (một gói Oresol pha một lít nước uống dần trong ngày).

Người bệnh sốt virus cần ở trong phòng ấm, không nên mặc quần áo quá dày, ở trong phòng quá kín. Dù sốt nên người bệnh thường xuyên cảm thấy ớn lạnh nhưng nhiệt độ bên trong cơ thể vẫn đang rất cao. Do đó cần mặc các loại quần áo nhẹ, thoáng, có thể sử dụng quạt gió chế độ thấp để giữ không khí lưu thông. Cố gắng nghỉ ngơi càng nhiều càng tốt.

Trong khi sốt người bệnh cần ăn uống đủ chất, đồ ăn dễ tiêu như: ăn cháo, phở bún,… tăng cường bổ sung vitaimin C, ăn thức ăn lỏng đủ dinh dưỡng để nhanh hồi phục tình trạng sức khỏe.

Đa số trường hợp, sốt virus thường không đáng ngại, nhưng nếu sốt cao 39°C hoặc cao hơn hoặc sốt không hạ sau khi uống thuốc, sốt kèm thêm các triệu chứng nghiêm trọng khác thì cần đến cơ sở y tế gần nhất để được thăm khám và điều trị.

Những triệu chứng sốt virus ở người lớn cần chú ý là :

Đau đầu dữ dộiKhó thởĐau ngựcNôn thường xuyênPhát ban trầm trọngCổ cứng và đauCo giật, mất tỉnh táo….

Cần phải được nhập viện và điều trị.

6. Biến chứng có thể gặp

‎Khi sốt virus người bệnh có thể bị rát họng, có mủ, viêm ở phế quản. Nặng hơn có khả năng sẽ bị sốc nhiễm trùng (mạch đập nhanh, khó thở, tay chân lạnh, huyết áp tụt). Lúc ở trong trạng thái nguy kịch này người bệnh dễ dẫn đến tử vong.

Ngoài ra, biến chứng hiếm gặp nhưng nguy hiểm ở người lớn mắc sốt virus là viêm phổi, đặc biệt là các chủng virus mới có khả năng gây bệnh nguy hiểm hơn, dễ lây nhiễm và khó kiểm soát bệnh hơn.

Khi virus gây bệnh cũng có thể xâm nhập gây viêm cơ tim, bệnh nhân có thể xuất hiện những cơn co thắt tim nguy hiểm như: tim đập loạn nhịp, ngừng tim từng đợt. Đặc biệt những người bệnh khi đã hết sốt nhưng cơ thể vẫn mệt mỏi, đuối sức và các triệu chứng đau ngực, hồi hộp hoặc các triệu chứng tim mạch khác thì nguy cơ biến chứng đến tim cao hơn.

Sốt virus không biến chứng chỉ cần điều trị ở nhà. Điều trị triệu chứng như hạ sốt giảm đau bằng thuốc thông thường, giảm ho, uống đủ nước (nước lọc, nước trái cây, nước có chất điện giải) và không cần truyền dịch. Do vậy, người bệnh tuyệt đối không được tự mua thuốc để điều trị, không dùng thuốc kháng sinh, kháng viêm. Việc tự chữa bệnh như thế dễ dẫn đến các biến chứng do thuốc hay sử dụng không đúng chỉ định. Thuốc kháng sinh không có tác dụng chữa bệnh trong sốt virus. Sử dụng thuốc kháng viêm nhiều, điều trị không đúng bệnh gây đau dạ dày và có thể tử vong.

‎7. Các biện pháp phòng tránh

Để giảm lây nhiễm, người bệnh cần thực hiện cách ly tại nhà trong thời gian sốt virus, nhất là trong thời điểm có sốt.

Không đến cơ quan, trường học và nơi đông người. Hạn chế tiếp xúc với người thân trong gia đình.

Đeo khẩu trang và thay khẩu trang thường xuyên. Rửa tay bằng các dung dịch rửa tay thông thường.

Trở lại sinh hoạt bình thường khi người bệnh hết sốt trên 24 giờ mà không cần dùng thuốc hạ sốt.

Khi ho, hắt hơi, sổ mũi cần che bằng khăn giấy hay tay áo. Rửa tay sau khi ho hắt hơi giúp giảm lây nhiễm cho những người xung quanh. Khi phải chăm sóc người bệnh cần đeo khẩu trang, rửa tay thường xuyên và theo dõi các dấu hiệu của sốt virus.

Nâng cao hệ miễn dịch bằng cách bổ sung kẽm và vitamin C, uống đủ nước, tập luyện thể dục thể thao, ngủ đủ giấc. Đảm bảo vệ sinh ăn uống, môi trường xung quanh sống mát mẻ, sạch sẽ.

Address

Số 24, Ngõ 25 Tô Hiến Thành
Từ Sơn

Telephone

+84839031192

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Bác sĩ Dũng - Hồi sức cấp cứu posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Contact The Practice

Send a message to Bác sĩ Dũng - Hồi sức cấp cứu:

Share

Category