20/12/2025
Để tạo các tác động chuyên sâu thúc đẩy gia tăng sức đề kháng chống lại bệnh thì không có bài thuốc nào tốt hơn bài “Nhu can dưỡng huyết thang” (theo Thiên gia diệu phương) với tác dụng bổ huyết, dưỡng âm, hoạt huyết, bổ can thận, trừ phong thấp, thông lợi khớp hỗ trợ điều trị hiệu quả chứng run giật cơ năng theo cơ thế:
Đương quy: Vị ngọt, cay, tính ôn tác động vào kinh can, tâm, tỳ giúp bổ huyết, hoạt huyết, chủ trị các chứng huyết hư, sưng đau do sang chấn (Theo Dược điển Việt Nam IV)
Câu đằng: Vị ngọt, tính mát vào các kinh can, tâm bào có tác dụng bình can, tức phong, trấn kinh, chủ trị các chứng đau đầu, chóng mặt, hoa mắt, ù tai, sốt cao kinh giật (Theo Dược điển Việt Nam IV)
Cúc hoa: Vị ngọt, tính bình vào các kinh tỳ vị, phế, thận có tác dụng tán phong thấp, thanh đầu, giải độc, chủ trị chứng phong mà sinh ra hoa mắt, nhức đầu. (Theo Những cây thuốc và vị thuốc Việt nam).
Sinh địa: Vị ngọt, đắng, tính hàn, vào các kinh tâm, can, thận với tác dụng thanh nhiệt, lương huyết, dùng chữa thương hàn ôn bệnh, hầu họng sưng đau, huyết nhiệt, làm khô tân dịch gây chảy máu (Theo Dược điển Việt Nam IV)
Bạch thược: Vị đắng, chua, tính hơi hàn vào các kinh tỳ, can, phế có tác dụng bổ huyết, dưỡng âm, thư cân, bình can, chỉ thống (Theo Dược điển Việt Nam IV)
Câu kỳ: Vị ngọt, tính bình vào các kinh phế, can, thận có tác dụng tư bổ can thận, ích tinh, sáng mắt (Theo Dược điển Việt Nam IV)
Đan bì: Vị cay, đắng, tính hơi hàn vào các kinh tâm, can, thận có tác dụng thanh nhiệt lương huyết, hoạt huyết hóa ứ (Theo Dược điển Việt Nam IV)
Tang chi: Vị đắng, tính bình vào kinh can có tác dụng trừ phong thấp, thông lợi khớp, chủ trị các chứng đau nhức cơ khớp, chân tay co duỗi khó khăn.