13/04/2026
THIẾU SẮT - 15 BIỂU HIỆN CỦA THIẾU SẮT
Sắt tham gia tạo hemoglobin trong hồng cầu, chức năng của hồng cầu là giúp vận chuyển oxy từ phổi đến các mô trong cơ thể, nâng đỡ phát triển thể lực và não bộ.
Thiếu sắt hay gặp ở phụ nữ trong giai đoạn còn kinh và phụ nữ mang thai. Khi thiếu sắt nhiều sẽ gây thiếu máu. Tuy nhiên, khi thiếu sắt nhưng chưa gây thiếu máu là thách thức cho cả thầy thuốc lẫn bệnh nhân. Một số tình huống thiếu sắt có thể khó phát hiện trên lâm sàng. Sau đây là các gợi ý của tình trạng thiếu sắt:
1. Kiệt sức, mệt mỏi:
- Là biểu hiện hay gặp nhất của thiếu sắt (44% bệnh nhân thiếu sắt thường xuyên mệt).
- Thiếu máu sẽ làm giảm vận chuyển oxy đến mô để duy trì hoạt động của mô cơ quan, gây thiếu hụt năng lượng để mô hoạt động, khiến cơ thể dễ bị kích thích, mau mệt, khó tập trung vào công việc.
2. Mất máu:
- Cường kinh, kinh kéo dài trên 1 tuần:
Là một trong các nguyên nhân gây thiếu sắt hay gặp ở phụ nữ. Mất máu nhiều nhưng chưa kịp phục hồi, chưa bù qua chu kỳ tiếp theo.
- Khoảng 20% phụ nữ bị cường kinh, có thể xảy ra trong giai đoạn chuẩn bị mãn kinh.
- Ngoài ra mất máu có thể do phẫu thuật, tai nạn, hay thường xuyên hiến máu, mất máu khi sinh đẻ.
3. Da niêm xanh tái, nhợt nhạt
- Môi và niêm mạc mắt, miệng nhợt nhạt
- Là triệu chứng hay gặp của thiếu sắt (45–50%)
4. Khó thở:
- Khó thở có thể xảy ra lúc sinh hoạt thông thường. Khi nặng, có thể khó thở lúc nghỉ ngơi.
5.Tổn thương tim:
- Thiếu sắt gây thiếu máu khiến tim phải làm việc nhiều hơn để bơm máu đi khắp cơ thể. Tim gắng sức lâu ngày có thể gây rối loạn nhịp tim, dãn buồng tim, suy tim.
- Cần kiểm tra lượng sắt trong máu nếu bị suy tim
6. Hội chứng chân không yên:
- 24% bệnh nhân thiếu sắt bị hội chứng chân không yên.
- Thiếu sắt nhưng chưa thiếu máu bị hội chứng chân không yên chủ yếu liên quan phụ nữ, nam giới thiếu sắt nhưng không thiếu máu ít khi bị hội chứng chân không yên.
7. Đau đầu:
- Oxy được ưu tiên vận chuyển lên não dù cơ thể đang thiếu sắt. Dù vậy, lượng oxy cần thiết cho não hoạt động vẫn không đủ. Do đó mạch máu não có khuynh hướng dãn ra để tăng lưu lượng máu lên não, từ đó gây nhức đầu.
- Nhức đầu là biểu hiện hay gặp nhất của thiếu sắt, một khảo sát vào tháng 8/2015 cho thấy khoảng 63% người thiếu sắt có biểu hiện nhức đầu.
8. Thèm đất sét, bụi hay nước đá
- Một số người thiếu sắt ăn uống những thứ không phải thực phẩm hay không có dinh dưỡng như ăn đất cát, đất sét, giấy, thủy tinh, nước đá... đây chính là nguyên nhân gây suy dinh dưỡng và thiếu sắt.
- Ăn uống kiểu này có thể gây tổn thương răng và tắc ruột.
9. Trầm cảm hay kích động:
- Thiếu sắt có thể tạo ra một số thay đổi trong não bộ, làm gia tăng nguy cơ rối loạn tâm thần kinh như trầm cảm hay kích động.
- Thiếu sắt có nguy cơ rối loạn giấc ngủ. Khi bổ sung sắt sẽ giảm các nguy cơ này.
10. Rụng tóc:
- Khi thiếu máu thiếu sắt, cơ thể ưu tiên lượng máu đến các cơ quan sinh tồn, giảm lượng máu nuôi đến da đầu, gây yếu và rụng tóc.
- Bình thường mỗi ngày có thể rụng 50-100 sợi tóc, nhưng sau đó mọc lại. Người thiếu máu thiếu sắt thì tóc rụng nhiều hơn và khó mọc lại
- 30% người thiếu máu thiếu sắt bị tóc khô, gãy rụng.
- Thiếu sắt ảnh hưởng tế bào biểu mô lót bề mặt như da, mạch máu, nội tạng...nên da có thể thô ráp, khô da, móng lõm như lòng muỗng, có sọc, dễ gãy móng.
11. Suy giáp:
- Tuyến giáp sản xuất hormone, chi phối hoạt động của cơ thể (tiêu thụ năng lượng, nhịp tim).
- Thiếu sắt làm suy yếu chức năng tuyến giáp. Bổ sung hormone tuyến giáp và sắt sẽ cải thiện tình trạng suy giáp.
- 60% trường hợp suy giáp bị bỏ quên, không phát hiện được. Cần cảnh giác suy giáp khi cảm thấy người nặng nề, tăng cân, nhịp tim chậm, cảm giác lạnh...
12. Thai kỳ:
- Phôi thai cần sắt để tăng trưởng sẽ lấy sắt từ mẹ nên phụ nữ mang thai dễ bị thiếu sắt. Đặc biệt dễ bị thiếu sắt nếu đa thai hay có thai liên tiếp trong thời gian gần, hay ốm nghén và ói khi mang thai.
- Mất máu khi sinh đẻ làm giảm trữ lượng sắt trong cơ thể.
13. Lưỡi nhợt nhạt, mất g*i lưỡi:
- Sắt tham gia tạo myoglobin, là protein của nhiều loại cơ trong cơ thể, trong đó có cơ lưỡi.
- Khi thiếu sắt, lưỡi nhợt nhạt, mất g*i và bị viêm lưỡi, có thể gây khô và đau lưỡi.
14. Bệnh viêm dạ dày, ruột và bệnh Celiac:
- Bệnh celiac và các bệnh viêm ruột như bệnh Crohn và viêm loét đại tràng gây viêm và tổn thương đường tiêu hóa, từ đó gây giảm hấp thu sắt, có thể xuất huyết tiêu hóa làm mất sắt qua phân.
- Người bệnh Celiac nếu ăn thức ăn chứa gluten có thể gây tổn thương ruột non.
- Hội chứng ruột kích thích gây viêm dạ dày- ruột: đau bụng, tiêu chảy, xuất huyết tiêu hóa.
- Bệnh Crohn ảnh hưởng toàn bộ đường tiêu hóa.
- Viêm loét đại tràng gây tổn thương khu trú ở đại tràng.
- Nhiễm Helicobacter pylori ở dạ dày, tá tràng có thể gây viêm loét và ung thư dạ dày, ung thư tụy, hạch và đoạn đầu ruột non. Xuất huyết tiêu hóa khi nhiễm Helicobacter pylori sẽ gây thiếu sắt nếu xuất huyết kéo dài hay xuất huyết lượng nhiều. Ngoài ra vi khuẩn Helicobacter pylori có protein Cag A, giúp vi khuẩn tăng bắt giữ sắt ở mô kẽ tế bào dạ dày, dùng sắt để tăng trưởng. Giai đoạn H.P đang tăng trưởng sẽ bắt giữ sắt nhiều hơn, gây thiếu hụt sắt, từ đó gây thiếu máu thiếu sắt. Nhiễm HP có thể gây viêm teo niêm mạc thân vị, làm giảm tiết acid, tình trạng nặng có thể gây vô toan. Thiếu hụt acid dạ dày sẽ làm giảm hấp thu sắt, vitamin C, D, calci.
Một số bệnh nhân thiếu sắt điều trị không cải thiện, nhưng khi tiệt trùng HP thì có đáp ứng.
15. Lạnh tay chân:
Thiếu máu do thiếu sắt sẽ giảm lượng oxy vận chuyển đến các mô, trong đó có tay chân. Cơ thể thường xuyên thấy lạnh.
CÁCH KHẮC PHỤC THIẾU MÁU THIẾU SẮT:
Tuỳ theo tuổi tác, giới tính sẽ có nhu cầu sắt khác nhau.
- Phụ nữ mang thai có nhu cầu sắt cao nhất. Phụ nữ cho con bú thì nhu cầu sắt vừa phải.
- Sắt cung cấp vừa đủ nhu cầu sẽ tốt cho cơ thể, nhưng nếu lạm dụng và dư thừa quá sẽ tác hại đến các mô trong cơ thể. Khi quá tải sắt, đặc biệt ở người lớn tuổi có thể gây tăng nguy cơ tiểu đường, đột quỵ tim, suy tim, ung thư.
- Do đó, cách bổ sung sắt tốt nhất là thông qua chế độ ăn uống. Các thực phẩm giàu sắt gồm: thịt đỏ, cá, thịt gia cầm, đậu, trái cây khô, cá hồi, đậu hà lan, đậu hủ, rau lá xanh đậm. Một số thực phẩm có bổ sung sắt như bánh mì và ngũ cốc.
- Ăn kèm các thức ăn giàu vitamin C để giúp tăng hấp thu sắt như cam, chanh, bưởi, quả dâu tây, cà chua, ớt chuông...
- Vitamin A và beta-carotene cũng đã được chứng minh là giúp tăng khả năng hấp thụ sắt của cơ thể , gồm cà rốt, rau bina, cải xoăn, khoai lang, ớt chuông đỏ và cam.
- Khi thiếu sắt gây thiếu máu, bác sĩ sẽ ghi toa thuốc bổ sung sắt, đặc biệt cần ở phụ nữ mang thai. Chỉ dùng thuốc bổ sung khi cần thiết, dưới hướng dẫn của bác sĩ vì thuốc bổ sung sắt có thể gây tác dụng phụ như buồn nôn, ói mữa, khó chịu dạ dày, vị kim loại khó chịu ở lưỡi, tiêu lỏng....
Phân đen khi dùng thuốc sắt bổ sung là bình thường.
THỰC PHẨM GÂY CẢN TRỞ HẤP THU SẮT :
1. Cách hấp thu và dự trữ sắt trong cơ thể:
- Sắt trong thức ăn có hai dạng: heme và non-heme.
- Cơ thể hấp thụ các nguồn sắt heme tốt hơn (khoảng 40 %), gồm thịt, cá và hải sản.
- Sắt non-heme có trong thực phẩm thực vật ( các loại đậu, quả hạch, hạt, thực phẩm ngũ cốc nguyên hạt và rau lá xanh). Cơ thể khó hấp thụ sắt non-heme, đồng thời sắt non-heme dễ bị ức chế hấp thụ bởi 1 số thực phẩm.
- Sau khi hấp thu vào cơ thể, sắt được dự trữ ở cơ, gan và tủy xương. Từ đó sắt được sử dụng để sản xuất hemoglobin (huyết sắc tố của hồng cầu), các hemoglobin này gắn kết oxy, hồng cầu vận chuyển đến các mô để cung cấp oxy cho cơ thể hoạt động.
- Lượng sắt cần thiết cho người bình thường là 7- 18 mg mỗi ngày, chủ yếu cung cấp qua chế độ ăn uống.
2. Thực phẩm ngăn cản hấp thu sắt :
(1) Phytate hoặc axid phytic:
- Axid phytic là một trong những chất ức chế hấp thu sắt non-heme mạnh nhất. Dù nó là một chất ức chế hấp thu sắt nhưng những thực phẩm chứa phytate lại là nguồn cung cấp sắt tốt. Vì sự gia tăng lượng sắt này bù trừ sự giảm hấp thu sắt, nên hầu hết các loại thực phẩm giàu phytate đều có tác động không đáng kể đến sự hấp thụ sắt non – heme.
- Hầu hết Axid phytic thường được tìm thấy trong thực phẩm có nguồn gốc thực vật như ngũ cốc nguyên hạt, ngũ cốc, đậu nành, ngô, quả hạch và các loại đậu. Quả óc chó đặc biệt giàu phytate.
- Trong một số trường hợp, phytate có thể được loại bỏ trước khi ăn. Khi ngâm kĩ đậu và đậu lăng (thường là qua đêm) sẽ loại bỏ được axid phytic và tận dụng tối đa lượng sắt tự nhiên tuyệt vời ẩn chứa bên trong. Kết hợp với thực phẩm giúp tăng cường hấp thu sắt như vitamin C sẽ khắc phục được nhược điểm của phytate.
(2) Tanin:
- Không giống như thực phẩm chứa phytate, hầu hết các loại thực phẩm chứa tanin không phải là nguồn cung cấp sắt. Tanin có tác động tiêu cực gần như hoàn toàn đến khả năng hấp thụ sắt non- heme của cơ thể.
- Trà đen là một trong những nguồn chứa tanin cao nhất và có thể làm giảm hấp thu sắt 50%. Các loại đồ uống khác có hàm lượng tanin cao bao gồm rượu vang đỏ, bia, nước ép táo, nước quả mọng và một số loại trà thảo mộc. Do đó không nên uống sắt với các loại rượu hay trà .
- Tanin có trong 1 số thực phẩm như đậu đỏ, các loại hạt, quả mọng và thực phẩm hun khói, bột nghệ, rau mùi, me và bột ớt.
(3) Calci:
- Calci có thể cản trở hấp thụ sắt trong thời gian ngắn.
- Thực phẩm giàu calci bao gồm các sản phẩm từ sữa như sữa, phô mai và sữa chua, cá mòi, đậu phụ, cá hồi đóng hộp, bông cải xanh, quả sung, v.v.
Nhưng như vậy không có nghĩa là phải từ bỏ món ăn yêu thích của mình. Nếu tiêu thụ ít hơn 50mg calci thì nó hầu như không ảnh hưởng đến sự hấp thụ sắt. Có thể tính thời gian hấp thụ calci để nó không ảnh hưởng đến lượng sắt của cơ thể. Bằng cách đó, có thể hấp thụ tất cả sắt và calci mà không triệt tiêu lẫn nhau.
(4) Phospho:
Phospho có khả năng ức chế hấp thu cả sắt heme và sắt non-heme ở nồng độ rất cao. Tuy nhiên, hầu hết các loại thực phẩm giàu phospho cũng là nguồn cung cấp sắt tuyệt vời, bao gồm thịt, gia cầm và cá.
- Các nguồn phospho khác không chứa nhiều chất sắt bao gồm trái cây sấy khô, ngũ cốc nguyên hạt, đồ uống có gas, các loại hạt, đậu và các sản phẩm từ sữa.
(5) Polyphenol
Một số nghiên cứu cho thấy rằng tiêu thụ polyphenol với thực phẩm giàu chất sắt có thể cản trở sự hấp thụ sắt.
- Polyphenol có thể được tìm thấy trong rau, trái cây, ngũ cốc, các loại đậu, cacao, trà, rượu và cà phê. Theo nghiên cứu cho thấy, chỉ một tách cà phê có thể ngăn chặn sự hấp thụ sắt lên đến 60%
- Nhưng Polyphenol lại là một hợp chất thực vật tốt cho sức khỏe với chất lượng chống oxy hóa mạnh mẽ. Đó là lý do tại sao bạn không muốn loại bỏ hoàn toàn những thực phẩm này khỏi chế độ ăn uống của mình. Thay vào đó, hãy chú ý đến thời gian của bữa ăn liên quan đến thực phẩm giàu chất sắt hoặc chất bổ sung sắt. Các bác sĩ thường khuyên nên bổ sung sắt ít nhất hai giờ trước hoặc sau khi uống cà phê, trà hoặc ăn thực phẩm giàu polyphenol.
(6) Axid oxalic
- Oxalic đã được chứng minh là làm giảm hấp thu sắt. Giống như hầu hết các chất cần chú ý trong danh sách này, oxalate thường được tìm thấy nhiều nhất trong thực phẩm có nguồn gốc thực vật như rau bina, đậu nành, lúa mì, các loại hạt. Nó đặc biệt phổ biến trong trà.
- Có một lưu ý nhỏ là axid oxalic không chịu được nhiệt độ cao. Nếu chế độ ăn uống có nhiều loại thực phẩm này, việc nấu chín chúng có thể giúp giảm hàm lượng oxalat.
(7) Lòng đỏ trứng có thể cản trở hấp thụ sắt do lòng đỏ trứng có chứa protein phosvitin (hợp chất protein liên kết các phân tử sắt lại với nhau và ngăn cơ thể hấp thụ sắt từ thực phẩm) có thể ức chế sự hấp thụ sắt lên đến 30% (theo Iron Disorders Institute – Hoa Kỳ).
- Lòng trắng trứng không có phosvitin nên ít cản trở hấp thụ sắt.
- Nếu bổ sung sắt trong ngày ăn trứng, uống sắt ít nhất hai giờ trước hoặc sau khi ăn lòng đỏ trứng.
💐💐💐💐💐💐
Nguồn: Medic Hoà Hảo - Bs Nguyễn Thị Hồng Anh tổng hợp