27/08/2021
Mướp đắng (hay còn gọi là khổ qua) là một loại quả thuộc dòng họ nhà dưa, bầu. Quả này có hình dáng sần sùi, ăn có vị đắng nên cũng là một trở ngại cho một số bạn khi ăn, nhưng lại có tác dụng rất tốt cho sức khỏe và được nhiều người ưu thích vì tác dụng của nó với sức khỏe. Vậy bạn đã biết Ăn quả mướp đắng có tác dụng gì ? chữa bệnh gì ?, hãy cùng caynhalavuon.net tìm hiểu nhé!
Từ lâu, mướp đắng đã được trưng dụng trong văn hóa ẩm thực của nước ta. Theo một số kết quả nghiên cứu, mướp đắng là một loại quả vô cùng giàu vitamin và khoáng chất như: 0,9 % Protein,0,1% Lipit, 0,2 % cacbon hidrat, và nhiều vitamin khác nữa ; chưa kể tới rất nhiều loại khoáng chất trong thành phần của nó như canxi, kali, magie, sắt…
Theo Đông y mướp đắng vị đắng, lạnh; vào tỳ vị tâm can. Tác dụng thanh giải thử nhiệt, minh mục giải độc. Dùng cho các trường hợp nhiệt bệnh sốt nóng mất nước, hội chứng lỵ, viêm cấp tính đường tiết niệu, sỏi đường tiết niệu, mụn nhọt, viêm kết mạc mắt cấp tính (đau mắt đỏ), bệnh tiểu đường.
Theo y học hiện đại mướp đắng có tác dụng diệt vi khuẩn và virus, chống lại các tế bào ung thư; hỗ trợ đắc lực cho bệnh nhân ung thư đang chữa bằng tia xạ. Trong thành phần dinh dưỡng của mướp đắng có nhiều vitamin C với hàm lượng khoảng 120 mg, cao hơn nhiều so với dâu tây (80 mg) và chanh (90 mg). Lượng vitamin C trong mướp đắng giúp tăng sức đề kháng cho cơ thể, kháng viêm tốt, ngăn ngừa và có tác dụng tiêu diệt tế bào ung thư… Về chất khoáng, khổ qua chứa kali có tác dụng làm giảm huyết áp, beta-carotene giúp sáng mắt, phòng ngừa ung thư.
Mướp đắng (khổ qua) vì chứa thành phần vị đắng đặc thù có tác dụng ức chế quá trình hưng phấn của trung tâm điều nhiệt trong cơ thể nên đạt tác dụng giải nhiệt. Mướp đắng sau khi chín có màu vàng đỏ như đào, vị đắng nhẹ, là chất tốt bình can lợi đởm (tốt cho gan mật), thanh giải huyết nhiệt (làm mát máu). Người bệnh viêm gan vàng da nên ăn thường xuyên, cũng có thể dùng chữa bệnh trĩ do nóng ruột gây ra. Mướp đắng còn giúp chữa nhiều bệnh như đau dạ dày do nhiệt, kiết lỵ, thấp nhiệt, nôn ói, tiêu chảy…Mướp đắng (hay còn gọi là khổ qua) là một loại quả thuộc dòng họ nhà dưa, bầu. Quả này có hình dáng sần sùi, ăn có vị đắng nên cũng là một trở ngại cho một số bạn khi ăn, nhưng lại có tác dụng rất tốt cho sức khỏe và được nhiều người ưu thích vì tác dụng của nó với sức khỏe. Vậy bạn đã biết Ăn quả mướp đắng có tác dụng gì ? chữa bệnh gì ?, hãy cùng caynhalavuon.net tìm hiểu nhé!
Từ lâu, mướp đắng đã được trưng dụng trong văn hóa ẩm thực của nước ta. Theo một số kết quả nghiên cứu, mướp đắng là một loại quả vô cùng giàu vitamin và khoáng chất như: 0,9 % Protein,0,1% Lipit, 0,2 % cacbon hidrat, và nhiều vitamin khác nữa ; chưa kể tới rất nhiều loại khoáng chất trong thành phần của nó như canxi, kali, magie, sắt…
Theo Đông y mướp đắng vị đắng, lạnh; vào tỳ vị tâm can. Tác dụng thanh giải thử nhiệt, minh mục giải độc. Dùng cho các trường hợp nhiệt bệnh sốt nóng mất nước, hội chứng lỵ, viêm cấp tính đường tiết niệu, sỏi đường tiết niệu, mụn nhọt, viêm kết mạc mắt cấp tính (đau mắt đỏ), bệnh tiểu đường.
Theo y học hiện đại mướp đắng có tác dụng diệt vi khuẩn và virus, chống lại các tế bào ung thư; hỗ trợ đắc lực cho bệnh nhân ung thư đang chữa bằng tia xạ. Trong thành phần dinh dưỡng của mướp đắng có nhiều vitamin C với hàm lượng khoảng 120 mg, cao hơn nhiều so với dâu tây (80 mg) và chanh (90 mg). Lượng vitamin C trong mướp đắng giúp tăng sức đề kháng cho cơ thể, kháng viêm tốt, ngăn ngừa và có tác dụng tiêu diệt tế bào ung thư… Về chất khoáng, khổ qua chứa kali có tác dụng làm giảm huyết áp, beta-carotene giúp sáng mắt, phòng ngừa ung thư.
Mướp đắng (khổ qua) vì chứa thành phần vị đắng đặc thù có tác dụng ức chế quá trình hưng phấn của trung tâm điều nhiệt trong cơ thể nên đạt tác dụng giải nhiệt. Mướp đắng sau khi chín có màu vàng đỏ như đào, vị đắng nhẹ, là chất tốt bình can lợi đởm (tốt cho gan mật), thanh giải huyết nhiệt (làm mát máu). Người bệnh viêm gan vàng da nên ăn thường xuyên, cũng có thể dùng chữa bệnh trĩ do nóng ruột gây ra. Mướp đắng còn giúp chữa nhiều bệnh như đau dạ dày do nhiệt, kiết lỵ, thấp nhiệt, nôn ói, tiêu chảy…