Biển Thước Đại Y

Biển Thước Đại Y Phục hồi sức khỏe - Phương pháp chữa bệnh không dùng thuốc.

16/12/2025

NHỮNG TRIỆU CHỨNG TRƯỚC KHI BỊ ĐỘT QUỴ...!

Có người hỏi:
- Sau khi nguyên khí đã bị suy, nhưng chưa đến nỗi bị bệnh bán thân bất toại, thì người bệnh có biểu hiện gì về hư chứng ra bên ngoài không?

Tôi trả lời rằng:
- Tôi hàng ngày chữa bệnh này rất nhiều, cho nên hiểu bệnh này rất rõ ràng. Mỗi khi chữa bệnh này, sau khi bệnh nhân đã khỏi bệnh nhân xem những triệu chứng trước khi họ bị bệnh như thế nào, thì thấy rằng có nhiều hiện tượng báo trước, tôi sẽ kê ra một số hiện tượng sau đây:

• Có người trả lời rằng đôi khi họ cảm thấy trên đầu choáng váng, xây xẩm mặt mày.
• Có người trả lời họ vô cớ thấy trên đầu mình như có 1 vật gì đó làm cho đầu nặng trĩu xuống.

• Có người thì vô cớ thấy trong tai như có tiếng gió thổi.
• Có người tự nhiên nghe thấy trong tai như có tiếng ve sầu kêu.

• Có người lại thấy ngấn thịt dưới mi mắt của mình tự nhiên vô cớ mà cứ máy động và co giật.
• Có người thì lại thấy 1 con mắt của mình tự nhiên cứ dần nhỏ lại.

• Có người lại thấy hiện tượng thỉnh thoảng một con mắt nào đó tự nhiên đờ đẫn ra.
• Có người thì thấy bỗng nhiên như nhìn thấy trước mắt mình có 1 cơn gió xoáy.

• Có người thì mỗi khi thở hít, lại thấy trong mũi của mình giống như là hít vào 1 luồng khí lạnh.
• Có người thì thấy có hiện tượng môi trên máy động và co giật 1 cách khác thường.
• Có người thì thấy tự nhiên môi trên và môi dưới của mình cứ thay nhau co rút lại.

• Có người tự nhiên thấy rằng mỗi khi đi ngủ là miệng cứ tự nhiên chảy dãi ra mà không làm sao cầm lại được.
• Có người khi bình thường rất thông minh, chợt bỗng thấy giảm trí nhớ, nói năng không đầu không đuôi, hàm hồ lẫn lộn.

• Có người vô cớ cảm thấy khó thở.
• Có người tự nhiên cảm thấy 1 bên tay của mình bị run.
• Có người lại cảm thấy cả 2 tay đều bị run.

• Có người tự nhiên thấy ngón tay đeo nhẫn của mình ngày nào cũng có 1 lúc nào đó bất chợt tự nhiên co lại mà không làm sao duỗi ra được.
• Có người cảm thấy ngón tay cái của mình vô cớ cứ động đậy.
• Có người thấy cánh tay của mình tự nhiên tê dại đi.
• Có người lại thấy 1 chân của mình bỗng nhiên đờ ra.

• Có người tự nhiên thấy da thịt của mình tự nhiên co giật.
• Có người lại thấy trong các kẽ móng tay của mình cứ như có 1 luồng khí lạnh.

• Có người thấy chân mình vô cớ mà cứ như là bị chuột rút, đi lại khập khiễng hết sức khó khăn.
• Có người thì thấy vùng quanh cổ chân như không có sức lực, bàn chân cứ như muốn lật ra ngoài.

• Có người lại thấy trong vùng ngực lắm khi như bị cái gì đè nén xuống, cảm thấy gần như nghẹt thở.
• Có người thì thấy tim đập nhanh khác thường.
Có người trong khi ngủ bỗng cảm thấy thân thể của mình trở nên nặng nề...

Tất cả những triệu chứng đó đều là những triệu chứng báo trước rằng nguyên khí trong thân thể đang dần dần suy yếu.
Nhưng tất cả những triệu chứng đó đều không đau, không ngứa, không nóng, không lạnh, không cản trở gì tới ăn uống đi lại sinh hoạt, cho nên người ta rất dễ sơ xuất mà bỏ qua...!

Trích nguồn: Y LÂM CẢI THÁC - VƯƠNG THANH NHẬM.

Trong YHCT, kinh lạc không chạy lung tung trong cơ thể.Nó vận hành theo những quy luật rất rõ ràng, ai nắm được thì làm ...
13/12/2025

Trong YHCT, kinh lạc không chạy lung tung trong cơ thể.
Nó vận hành theo những quy luật rất rõ ràng, ai nắm được thì làm trị liệu sẽ “nhìn ra vấn đề” ngay khi chạm tay.
Dưới đây là 3 quy luật quan trọng nhất.
1. Quy luật tuần hoàn 24 giờ – mỗi tạng phủ “lên ca” một giờ
Kinh lạc vận hành giống như một vòng tuần hoàn năng lượng, mỗi tạng sẽ mạnh nhất vào một khung giờ:
- 3–5h: Phế
- 5–7h: Đại trường
- 7–9h: Vị
- 9–11h: Tỳ
- 11–13h: Tâm
- 13–15h: Tiểu trường
- 15–17h: Bàng quang
- 17–19h: Thận
- 19–21h: Tâm bào
- 21–23h: Tam tiêu
- 23–1h: Đởm
- 1–3h: Can
Vì vậy mới có hiện tượng:
- 3–5h dễ ho – khó thở (Phế yếu).
- 1–3h dễ trằn trọc, mơ ác mộng (Can uất).
- 15–17h đau lưng – mỏi người (Bàng quang căng).
2. Quy luật “cửa đóng – cửa mở” của khí huyết
Trong kinh lạc có hai trạng thái quan trọng:
- Hư → thiếu khí huyết → lạnh, tê, mỏi, yếu.
- Thực → ứ khí huyết → căng cứng, đau, nóng, tức.
Một số biểu hiện rất quen thuộc:
- Ấn huyệt đau nhói → khí thực.
- Ấn không cảm giác, tay lạnh → khí hư.
- Đau lan theo đường kinh → ứ trệ đang mở “lối thoát”.
Khi hiểu quy luật này, người trị liệu sẽ biết lúc nào nên ấn sâu – lúc nào chỉ nên làm mềm – lúc nào cần tránh tác động mạnh.
3. Quy luật “giao tiếp” – kinh lạc liên thông toàn thân
Kinh lạc hoạt động theo cơ chế “liên thông”:
- Đau cổ có thể do tắc ở Bàng quang chạy xuống lưng.
- Tê tay có thể bắt nguồn từ kinh Tâm – Tâm bào.
- Đau đầu vùng trán liên quan đến kinh Vị.
- Mỏi đầu gối nhưng gốc lại nằm ở Thận.
Nghĩa là đau ở đâu không phải lúc nào cũng là gốc ở đó.
Đây là lý do người trị liệu Đông y không bao giờ chỉ xoa đúng chỗ đau, mà phải lần theo đường kinh để xử lý gốc rễ.
📍 KẾT LUẬN
Kinh lạc vận hành theo quy luật – không hề mơ hồ hay "tâm linh".
Ai hiểu được 3 quy luật trên sẽ thấy trị liệu trở nên rõ ràng, logic và hiệu quả gấp nhiều lần.
Nếu không hiểu – làm nghề rất mệt.
Hiểu rồi – chạm đến đâu cơ thể khách “trả lời” đến đó.

𝐁𝐚̀𝐢 𝐓𝐡𝐮𝐨̂́𝐜 𝐓𝐡𝐨̂𝐧𝐠 𝐓𝐢𝐦 𝐌𝐚̣𝐜𝐡 𝐜𝐮̉𝐚 𝐭𝐡𝐚̂̀𝐲 𝐃̵𝐨̂̃ 𝐃̵𝐮̛́𝐜 𝐍𝐠𝐨̣𝐜Một bài thuốc đặc biệt của thầy Đỗ Đức Ngọc giúp đánh tan mỡ...
05/12/2025

𝐁𝐚̀𝐢 𝐓𝐡𝐮𝐨̂́𝐜 𝐓𝐡𝐨̂𝐧𝐠 𝐓𝐢𝐦 𝐌𝐚̣𝐜𝐡 𝐜𝐮̉𝐚 𝐭𝐡𝐚̂̀𝐲 𝐃̵𝐨̂̃ 𝐃̵𝐮̛́𝐜 𝐍𝐠𝐨̣𝐜

Một bài thuốc đặc biệt của thầy Đỗ Đức Ngọc giúp đánh tan mỡ máu, giảm nguy cơ tắc nghẽn động mạch gây nhồi máu cơ tim hoặc tai biến mạch máu não.
Là một căn bệnh nguy hiểm, bệnh mỡ máu là một trong những nguy cơ gây nên tai biến mạch máu não bởi vì mỡ máu tạo nên các mảng xơ vữa ở động mạch, lâu ngày gây tắc động mạch hoặc vỡ động mạch.

Bài thuốc đặc biệt này do thầy Đỗ Đức Ngọc phổ biến đến rất nhiều người và có kết quả rất tốt.

1. Công dụng:
Các mạch máu ở tim sẽ được thông suốt (khỏi phải đi rọi tim).
Phòng bệnh tai biến, đột quỵ.
Cải thiện nhanh sự biếng ăn, tăng cường sức khỏe người già.
Giảm ngay mỡ máu đóng nhiều trên thành mạch gây nên nghẹt tim và trở thành bệnh thiếu máu cơ tim, đau tim nguy hiểm.
Giúp động mạch dễ trương giãn, chống sự vôi xơ hóa động mạch gây ra vỡ tràn động mạch, nguyên nhân tai biến mạch máu não.
Chống lại viêm đau đa khớp, nhức xương khớp.
Cải thiện tình trạng huyết áp cao, huyết áp không ổn định.
Cải thiện chứng bệnh rối loạn tiền đình.
Chống đau bao tử, rối loạn bài tiết.
Chống viêm đường tiết niệu.
Giảm mập, thải độc cơ thể, làm gọn cơ thể nhanh .
Phòng nguy cơ ung thư (do đào thải chất độc trong cơ thể), đồng thời phòng chống và hỗ trợ điều trị: cảm lạnh, cúm, đầy hơi, chậm tiêu, nhức đầu, trĩ, vô sinh và bất lực, đau răng, mập phì, loét và nhiều bệnh khác nữa…

2. Dược liệu và cách làm
Phương Thuốc Thông Tim Mạch gồm 5 vị:
Nước chanh vắt: 1 cốc
Nước gừng ép: 1 cốc
Nước tỏi ép: 1 cốc
Dấm táo: 1 cốc
Mật ong: 3 cốc

Cách Chế Thuốc : Trộn chung 4 cốc bên trên (nước cốt chanh, nước gừng ép, nước tỏi ép, dấm táo) đem đun sôi nhỏ lửa. Khi dung dịch trên đặc lại còn 1 cốc, lấy xuống, khi còn nóng cho thêm 3 cốc mật ong vào dung dịch này, trộn đều và cho vào chai bảo quản tủ lạnh.
- Nên cho mật ong vào lúc nóng, nếu cho nguội sẽ bị đóng cặn, không tan đều thuốc và mật ong.
- Muốn thuốc tốt thì cần chọn nguyên liệu tốt: Dấm táo mỹ, tỏi ta, gừng ta
- Có thể dùng máy xay sinh tố xay nhỏ gừng, tỏi rồi vắt lấy nước cốt. Hoặc dùng máy ép hoa quả để ép lấy nước, tốt nhất là dùng máy ép hoa quả loại máy ép chậm là tối ưu nhất.

3. Cách dùng:
Mỗi sáng sớm, uống 1 hoặc 2 thìa ăn cơm vào 1 cốc nước ấm khoảng 200-250ml trước khi ăn sáng. Cứ uống đều đặn như vậy, các mạch máu ở tim sẽ được thông suốt, hết bị nghẽn (khỏi phải đi rọi tim hay thông tim).

04/12/2025

CHỮA ĐÀM KHÀN ĐẶC CỔ HỌNG

✅A-Nguyên nhân :

Nguyên nhân gốc của bệnh tạo đờm do chức năng của thổ tỳ vị và kim phế, nếu đờm có vị mặn lại liên quan đến thận, đờm đặc dính khó khạc liên quan đến tâm hỏa thực nhiệt. Tây y có thuốc Terpin codein, uống 1 viên thì đờm tan lỏng dễ khạc, uống 2 viên thì đờm đặc lại, thuốc ngậm Clorate de Potassium chữa cổ họng vướng đàm làm mất giọng. Tuy nhiên những thuốc này chỉ chữa ngọn mà không chữa gốc.

Đo áp huyết hai tay sau khi ăn 30 phút để biết chức năng chuyển hóa thức ăn của gan tỳ vị. Nếu sau khi ăn, áp huyết bên tay trái thấp hơn tay phải thì chức năng hấp thụ và chuyển hóa thức ăn kém, nên những thức ăn hàn lạnh, nhiều dầu mỡ không đủ nhiệt lượng tan thành chất lỏng sẽ hóa thành đàm đưa lên họng, còn áp huyết tay phải cao hơn tay trái thì gan mộc thực sẽ làm cho con là tâm hỏa thực khiến đàm khô đặc lại.

B-Cách chữa theo Tinh-Khí-Thần :

Tinh :

a-Chữa ngọn : Làm tan hạ đàm, hạ khí và làm ấm bao tử, chữa bệnh ợ hơi sau khi ăn, bằng trà Vỏ Quýt+Gừng+Mật ong. Mua ở tiệm thuốc bắc 1 gói Trần bì (vỏ quýt khô). Dùng vỏ quýt chừng 3 vỏ qủa quýt, 3 lát gừng, nấu với 1 lít nước cho sôi cạn còn ½ lít, lấy ra bỏ vào bình thủy, sau mỗi bữa ăn uống 1 ly pha thêm mật ong vừa ngọt, uống thay nước trà. Có thể nấu nhiều đem theo đi làm, mỗi lần ngậm trong miệng 1 hớp cho thấm cổ họng, thì đờm không còn dính ở cổ họng nữa, ngậm xong có thể nhổ ra, hay nuốt từ từ cũng được.

b-Chữa gốc : Mua ở tiệm thuốc bắc 1 lọ thuốc Bổ Trung Ích Khí Hoàn, mỗi lần ngậm trong miệng 20 viên, ngày 2 lần vào buổi trưa và tối, công dụng giúp hấp thụ và chuyển hóa thức ăn không biến thành đàm.

c-Ngừa biến chứng : bệnh ho khạc lâu ngày sẽ hại đến phế kim, bổ phế kim bằng thuốc Bách Hợp Cố Kim Hoàn, ngậm 25 viên vào mỗi buổi sáng.

d-Không được ăn cam, uống sữa, ensure, kem đá lạnh, đậu xanh, dưa giá, khổ qua, nước cốt dừa…là những thứ tạo ra đàm.

Khí :

a-Sáng tập bài Vỗ Tay 4 Nhịp 200 lần trước khi đi làm, thông phế khí, mạnh tâm, phế.

b-Tập bài Nạp Khí Trung Tiêu 5 lần, rồi tập tiếp bài Kéo Ép Gối Thở Ra Làm Mềm Bụng 200 lần sau mỗi bữa ăn 30 phút, giúp cơ thể hấp thụ và chuyển hóa thức ăn, ấm tỳ vị, thức ăn sẽ không biến thành đàm.

Thần :

Trước khi đi ngủ 30 phút, tập lại bài Kéo Ép Gối Thở Ra Làm Mềm Bụng 200 lần, rồi tập thở hiền ở huyệt Mệnh Môn, hai bàn tay chồng lên nhau ở Đan Điền Tinh, ý trụ ở Mệnh Môn, có công dụng chuyển tinh hóa khí, để tinh chất của thức ăn đã hấp thục được chuyển hóa thành khí mà không hóa thành đàm.

Thân

doducngoc

Ngón tay co quắp loại bệnh chữa rất dễ bằng cách luộc ốc sên mà ăn. Liệu trình 15 ngày là sẽ khỏi.Ăn với rau thơm cho đỡ...
02/12/2025

Ngón tay co quắp loại bệnh chữa rất dễ bằng cách luộc ốc sên mà ăn. Liệu trình 15 ngày là sẽ khỏi.
Ăn với rau thơm cho đỡ ngán đều được.

01/12/2025

🔥 BỔ THẬN ÂM – DƯỠNG THẬN DƯƠNG LÀ GÌ?

Trong Đông y, Thận được xem là “gốc của cơ thể”, quản:

Tinh – huyết – nội tiết

Sinh lý – miễn dịch – xương – não – tủy

Cân bằng âm dương toàn thân

Thận có hai mặt:

⭐ 1. Thận Âm = nước – mát – nuôi dưỡng

Thận âm giống như nước dưới đáy hồ, có nhiệm vụ làm dịu, làm mát, nuôi dưỡng cơ thể và giữ cho Thận Dương không “bốc hỏa”.

✔ Vai trò: nuôi tủy, nuôi não, cân bằng nội tiết, giữ cơ thể không bị nóng khô.
✔ Khi thiếu → gọi là Thận Âm hư.

Dấu hiệu Thận Âm hư

Nóng trong, bốc hỏa, dễ cáu

Mắt mờ – ù tai

Mất ngủ – hồi hộp

Khô miệng – khô họng – táo bón

Da khô, tóc rụng

Lưng nóng, gan bàn chân nóng

Nội tiết rối loạn

---

⭐ 2. Thận Dương = lửa – ấm – vận động

Thận dương giống như ngọn lửa trong bếp, giúp chuyển hóa, làm ấm cơ thể, tạo năng lượng.

✔ Vai trò: sưởi ấm toàn thân, tăng sức đề kháng, mạnh gân cốt, khỏe sinh lý, tiêu hóa tốt.
✔ Khi suy → gọi là Thận Dương hư.

Dấu hiệu Thận Dương hư

Lạnh tay chân

Mệt mỏi, người uể oải

Tiểu đêm, lạnh bụng

Suy giảm sinh lý

Đau lưng – đầu gối

Dễ cảm lạnh, miễn dịch yếu

---

🔥 VẬY BỔ THẬN ÂM – DƯỠNG THẬN DƯƠNG LÀ GÌ?

Đó là:

> Khôi phục nguồn “NƯỚC – ÂM” nuôi dưỡng cơ thể + tăng cường “LỬA – DƯƠNG” để cơ thể hoạt động mạnh mẽ, ấm áp.
→ Giúp cân bằng lại âm – dương, cơ thể trở về trạng thái khỏe – ấm – ngủ sâu – nội tiết ổn – sinh lực mạnh.

Trong Đông y:
Âm đủ thì Dương mới mạnh. Dương vững thì Âm mới được giữ.

---

❤️‍🔥 CÁCH THỰC HIỆN AN TOÀN – HIỆU QUẢ NHẤT

🔵 1. Bổ Thận Âm (tăng nước – nuôi dưỡng)

Phù hợp người nóng trong – mất ngủ – stress – khô nóng – rối loạn nội tiết.

3 nhóm hành động quan trọng:

✔ A. Dưỡng âm bằng dinh dưỡng

Mè đen, đậu đen, hạt sen

Hà thủ ô, câu kỷ tử

Sữa hạt ấm

Rau củ nhiều nước: khoai lang, bầu bí

✔ B. Giảm hao âm

Ngủ muộn

Stress kéo dài

Làm việc quá sức

Uống rượu, cà phê quá mức
→ Đây là các nguyên nhân đốt âm – làm cơ thể nóng khô.

✔ C. Tăng nước và làm dịu cơ thể

Uống nước ấm

Xoa bóp vùng thận nhẹ nhàng

Ngâm chân nước ấm buổi tối

---

🔴 2. Dưỡng Thận Dương (tăng lửa – làm ấm – tăng sinh lực)

Phù hợp người lạnh – mệt – thiếu năng lượng – tiêu hóa kém – tay chân lạnh – đau lưng.

✔ A. Làm ấm thận

Ngâm chân 40–45°C

Chườm ấm bụng dưới & thắt lưng

Tắm nước ấm buổi tối

✔ B. Ăn ấm – tăng dương

Gừng, quế, tỏi, kỷ tử

Thịt nạc, trứng, khoai lang

Cháo gạo lứt + gừng + chà là đỏ

✔ C. Vận động nhẹ

Đi bộ 20–30 phút

Xoay eo – xoa lưng – bài tập khai thông mạch thận

---

🌿 GIẢI PHÁP TẠI TÂM AN WELLNESS (bạn có thể dùng ngay để quảng cáo)

⭐ Liệu trình khôi phục Thận Âm – Thận Dương 360°

1. DDS khai thông kinh lạc Thận – Bàng Quang

✔ Khơi thông khí huyết
✔ Giảm tê mỏi lưng – gối
✔ Điều hòa âm dương từ gốc

2. Xông chân THZ Bio DLCCare

✔ Làm ấm thận dương
✔ Tăng tuần hoàn
✔ Giảm tiểu đêm – ngủ sâu

3. Vòm xông hồng ngoại DLCCare

✔ Sưởi ấm toàn thân, tăng chuyển hóa
✔ Hỗ trợ người lạnh sâu – mệt lâu ngày

4. Thải độc não bộ 45–60–90 phút

✔ Phục hồi Thận Âm (não thuộc Thận)
✔ Hỗ trợ mất ngủ – stress – nóng trong

5. Liệu trình bổ sung vi chất

✔ Bù khoáng chất cho hệ thần kinh – xương – nội tiết
✔ Giúp tái tạo Thận Âm – phục hồi Thận Dương bền vững

-- st

01/12/2025

CHỮA SƯNG ĐAU CỔ HỌNG!

Pha 1 ly nước nóng với 2 muỗng dấm táo, 2 muỗng mật ong. Nằm ngửa, ngậm một ngụm, há miệng khò khò cho nước dấm sủi bọt ở sâu trong cổ họng, chừng 2 phút, nước dấm đó sẽ nóng lên, nhổ đi. Tiếp tục làm 3 lần.

Sau đó, ngậm một ngụm khác, ngậm miệng, cuốn lưỡi lên trên đẩy sâu lưỡi vào trong hàm trên, lấy ngón tay rờ ngoài cổ họng, ấn tìm xem có chỗ nào đau, chính là nó bị sưng bên trong họng, lấy ngón tay day vuốt chỗ đau đó cho nước dấm táo bên trong họng thấm vào ổ virus, cho đến khi hết đau thì nhổ đi. Có thể trong cổ họng, khi nhìn vào sâu bên trong có 4-5 vùng thịt bị sưng đỏ bầm. Cứ mỗi ngụm dấm ngậm ở miệng day vào một chỗ sưng, cho đến khi sờ vuốt bên ngoài cổ không đau, nhìn vào trong họng không còn vết đỏ là khỏi bệnh. Ngụm dấm cuối cùng thì uống vào bụng.

Ăn thêm dưa hấu, cho nước dưa hấu thấm vào cổ họng rồi mới nuốt từ từ.

Chữa cách này chỉ cần một ngày 2-3 lần là khỏi.

Thân

doducngoc

29/11/2025

Thiếu máu không phải chỉ là thiếu sắt.
Mà là thiếu khí, thiếu dưỡng, thiếu sự quan tâm đúng cách đến chính cơ thể mình.

Một cơ thể đầy đủ khí huyết – là một cơ thể không cần đến thuốc bổ, không cần sống lệ thuộc vào con số xét nghiệm.
Bởi khí huyết đầy thì da tự sáng, mắt tự có thần, tinh thần tự hân hoan.
Đó là vẻ đẹp đến từ bên trong – không đến từ lớp phấn ngoài da, mà từ dòng máu đang chảy mạnh mẽ trong từng tạng phủ.

Dưỡng khí huyết không phức tạp.
Chỉ cần sống thuận tự nhiên, thở sâu, ăn ấm, ngủ đúng, và biết lắng nghe tiếng thì thầm của cơ thể.

Trong y học hiện đại, nhiều người khi thấy thiếu máu là lập tức bổ sung sắt. Nhưng uống mãi mà da vẫn xanh, người vẫn mệt, trí vẫn mờ, tóc vẫn rụng… thì câu hỏi đặt ra là: Có đúng là chỉ thiếu sắt không?

I. Hiểu đúng: Khí huyết là gốc của sự sống

Để sinh huyết khỏe, cơ thể cần đủ 4 yếu tố căn bản:
1. Khí – Là năng lượng dẫn huyết đi khắp thân thể
Khí mạnh thì huyết hành thông. Khí yếu thì huyết trệ. Người thiếu khí sẽ dễ mệt, lạnh tay chân, ngủ không sâu, tóc khô, mặt nhợt.

2. Đường – Là nguyên liệu cho tỳ vị sinh huyết
Đường tự nhiên trong thực phẩm như nước mía, bí đỏ, khoai lang, yến mạch, gạo lứt – giúp tỳ chuyển hóa tốt, sinh tân dịch và tạo huyết.

3. Đạm – Là vật liệu để xây tế bào máu
Thiếu đạm, máu không có nền tảng để hình thành. Đạm nên lấy từ thực phẩm dễ hấp thu: trứng gà ta, cá hấp, đậu hũ, yến mạch, hạt mè, đậu đỏ.

4. Chất béo tốt – Làm màng tế bào máu bền vững
Dầu gấc, dầu mè, bơ, hạt óc chó, dầu dừa – bổ âm, giúp máu không bị khô, giữ huyết mạch mềm mại.

II. GIẢI PHÁP DƯỠNG SINH TẠI NHÀ – NUÔI KHÍ, DƯỠNG HUYẾT TỰ NHIÊN

1. Dinh dưỡng nuôi khí huyết
- Cháo đậu đỏ hoài sơn:
Dùng 2 – 3 lần/tuần, giúp kiện tỳ, sinh khí, dưỡng huyết.
→ Đậu đỏ (sinh huyết, lợi tiểu), hoài sơn (kiện tỳ vị, cố tinh).
- Trứng gà ta chưng mật ong:
Dùng buổi sáng sớm, tốt cho phụ nữ khí huyết hư, sau ốm.
→ Bổ khí, dưỡng huyết, thanh phế, tăng lực.
- Nước mía ấm hoặc bí đỏ hấp chín:
Cung cấp đường tự nhiên – nhiên liệu chính để sinh huyết.
- Trà dưỡng huyết
(hoàng kỳ, đương quy, thục địa, kỷ tử, táo đỏ): dùng 1–2 lần/tuần, mỗi lần ấm 600ml, chia uống trong ngày.

2. Luyện khí mỗi ngày
- Tập thở sâu theo phương pháp 4–7–8 hoặc 6–6
Hít sâu 4–6 giây, giữ 6–7 giây, thở ra nhẹ nhàng 6–8 giây.
→ Giúp tăng hấp thu oxy, sinh khí, an thần, hỗ trợ giấc ngủ.
- Xoa bụng sáng sớm 50 vòng theo chiều kim đồng hồ
Khi mới ngủ dậy, chưa ăn. Giúp kích hoạt tỳ vị, hỗ trợ vận hóa, sinh huyết.
- Đi bộ nhẹ nhàng 15–30 phút mỗi sáng
Đón dương khí ngoài trời, kích hoạt tỳ vị, thúc đẩy tuần hoàn khí huyết.

3. Thói quen ngủ – nghỉ
- Ngủ trước 23h, dậy trước 6h30 sáng
Khung giờ từ 23h – 3h là thời gian Gan tàng huyết. Thức khuya làm gan cạn huyết, tổn khí.
- Ngủ trưa 20–30 phút/ngày
Giúp tạng phủ hồi phục, nâng khí lực, cải thiện huyết nuôi thần.

4. Ngâm chân dưỡng khí huyết
- Ngâm chân mỗi tối trước khi ngủ
Nguyên liệu: gừng tươi 3 lát + muối hột 1 thìa + 2 lít nước nóng 45–50 độ.
Ngâm 15–20 phút, lau khô, xoa bóp lòng bàn chân.
→ Thông huyết, ôn thận, an thần, kích thích sinh khí.

5. Thái độ sống và tinh thần
- Không lo lắng quá mức
Tỳ chủ tư, lo nghĩ quá làm hại tỳ, làm tỳ mất khả năng sinh huyết.
- Luôn giữ tâm an, sống điều độ, ăn đúng giờ
Không bỏ bữa, không vừa ăn vừa nói chuyện hay làm việc.
→ Tập trung ăn trong tỉnh thức để tỳ vị hấp thu tốt.
- Cười nhiều hơn
Cười là dương khí lan tỏa. Tâm sáng thì huyết hanh thông.

Nguồn:
Y học cổ truyền – Dưỡng sinh

29/11/2025

✅Cách chữa bệnh méo miệng liệt mặt

( Từ mới liệt cho đến 40 năm vẫn chữa đuợc)

Điều chỉnh co miệng có 2 đuờng kinh Vị và Đại Truờng.

Hãy thử nghiệm trên nguời không bệnh để biêt công hiệu của huyệt và đuờng kinh như sau :

1-Day bấm mạnh cho đau đầu ngón tay trỏ trái, điểm cần bấm đau ở huyệt Thuong Duong, sẽ thấy co miệng kéo về bên trái. Nếu day bấm đau huyệt Thuong Duong đầu ngón tay trỏ bên phải, sẽ thấy co miệng kéo về bên phải.

2-Day bấm mạnh đầu ngón chân thứ hai, điểm bấm đau ở huyệt Lệ Đoài. Nếu bấm Lệ Đoài chân phải sẽ thấy co miệng kéo về bên phải. Bấm đau bên trái, sẽ thấy co miệng kéo về bên trái.

Sau khi kiểm chứng đúng, thì áp dụng trên bệnh nhân theo thứ tự sau :

1- Đo áp huyết xem liệt mặt là thực chứng hay hu chứng :

a-Nếu thực chứng phải làm hạ áp huyết bên tay cao bằng cách châm nặn máu 5 đầu ngón tay, nặn máu nhiều ở huyệt Thuong Duong và huyệt Lệ Đoài thuộc kinh Vị ở chân phía bên cao áp huyết.

b-Nếu cao áp huyết cả hai tay, thì châm nặn máu cả hai bên, và ấn đe huyệt Khí Hải cho đến khi áp huyết xuống.

c-Nếu hu chứng phải uống thuốc bổ máu, nhung tạm thời tập bài Cúi Ngửa 4 Nhịp 20 lần, và bài Đứng Hát Kéo Gối Lên Ngực 30-50 lần để đua máu lên dầu mặt.

2-Thông đuờng kinh bằng huyệt :

a-Châm nặn máu bằng bút châm tiểu đuờng để châm nông, chứ không châm sâu sẽ phạm gân, các huyệt Nhân Trung, Hạ Quan, Quyền Liêu, Giáp Xa, Địa Thuong, Thừa Tuong.

Day bấm Thuong Duong và Lệ Đoài cùng bên co miệng bị liệt, cùng lúc bảo bệnh nhân cuời và ngáp nhiều lần từ 10-50 lần trong lúc vẫn bấm giữ huyệt.

b-Dùng ngón tay cái vuốt 3 đuờng :

Đuờng thứ nhất :Từ Nhân Trung đến Giáp Xa, ấn vuốt từ từ tìm cảm giác duới tay xem điểm nào vấp, suợng, cứng, hỏi bệnh nhân xác nhận có cảm giác noi nào đau, tê, bì bì không cảm giác, noi đó là A-thị-huyệt phải châm nặn cho ra máu.

Đuờng thứ hai từ Địa Thuong đến Giáp Xa, tìm A-thị-huyệt châm nặn máu nhu trên.

Đuờng thứ ba từ Thừa Tuong đến Giáp Xa, tìm A-thị-huyệt châm nặn máu nhu trên.

3-Dùng súng đo nhiệt độ bên má liệt, tìm điểm nào nhiệt độ cao nhất, thực chứng, châm nặn máu, điểm nào độ thấp nhất hay máy chỉ Low là noi đó không có máu đi qua làm tê mất cảm giác, hu chứng, châm nặn cho ra máu mới thông đuợc thần kinh mặt.

4-Cho bệnh nhân thông khí toàn thân bằng bài Kéo Ép Gối Thở Ra Làm Mềm Bụng 100 lần, tùy theo áp huyết cao hay thấp :

a-Nếu áp huyết cao thì kéo tốc độ bình thuờng để ý cho bụng mểm xẹp, làm hạ áp huyết.

b-Còn áp huyết thấp không can để ý bụng xẹp mà can tốc độ nhanh, bom máu lên mặt làm áp huyết tăng.

5-Day Hà Đồ Lạc Thu trên mặt :

Vẫn để bệnh nhân nằm ngửa sẽ không nguy hiểm, để xem còn huyệt nào mất cảm giác, huyệt nào còn đau. Nếu day Hà Dồ Lạc Thu ở thế ngồi sẽ nguy hiểm, có khi thực làm thêm thực, hu làm thêm hu, có thể làm tăng áp huyết khi áp huyết đang cao, có thể làm tụt áp huyết khi áp huyết đang thấp.

5 giai đoạn chữa huớng dẫn trên áp dụng 1 tuần liên tục, sau đó bệnh nhân tự chữa bằng cách đứng truớc guong, dùng 2 ngón tay cái ấn vào hai bên má, noi huyệt Hạ Quan, hay chỗ lõm giao điểm khớp của hai xuong hàm trên và xuong hàm duới, tập ngáp nhiều lần truớc guong mỗi ngày, cho đến khi khớp hàm càng ngày càng mở to thì miệng cung mở to tròn hết méo thì khỏi bệnh.

6-Dùng thuốc thông khí huyết lên đầu mặt, thuờng dùng chữa bệnh liệt mặt méo miệng, tên là Đại Hoạt Lạc Đan có bán ở tiệm thuốc bắc. Cách dùng :

a-Áp huyết thấp, nguời lạnh, dùng 4 viên sáng, 4 viên tối, lúc mới uống khi thuốc chuyển thì thần kinh mặt, má, hoi bị giựt để thông những noi còn tắc nghẹt, khi thần kinh mặt thông sẽ hết giựt.

b-Áp huyết còn cao, uống mỗi ngày 1-2 viên hoi làm tăng áp huyết, phải tập 2 bài Lễ Phật Trì Danh 15 phút và bài Kéo Ép Gối Thở Ra Làm Mềm Bụng 100 lần.

7-Ngừa bệnh tái phát :

a-Uống hết 1 lọ thì ngung. Thỉnh thoảng mỗi tuần uống 1 lần 1-2 viên để duy trì khí huyết tuần hoàn lên má mặt.

b-Mỗi ngày tập 7 bài dầu khí công thông thần kinh đầu mặt.

8-Nhớ lúc nào cung cần phải đo áp huyết 2 tay để theo dõi khí huyết hai bên tay có bị chênh lệch nhiều hay không nhu bên thực chứng bên hu chứng, để điều chỉnh áp huyết tránh có nguy co bị tái phát.

Bên thấp hu chứng phải bấm huyệt Ế Phong bên thấp cho áp huyết tăng cao bằng bên kia. Nếu hai bên đều thấp, bấm cả 2 bên Ế Phong và tập bài Đứng Hát Kéo Gối Lên Ngực, ăn uống thuốc bổ máu, hoặc tiếp tục uống Đại Hoạt Lạc Đan thông khí huyết lên mặt và làm tăng áp huyết.

Thân

Doducngoc

21/11/2025

NHƯỢC CƠ (PHẦN 2)
THIÊN Y QUÁN DỊCH & BIÊN SOẠN

II . Phương hướng điều trị
Nhược cơ nặng là bệnh tự miễn, trong đó căn bản bệnh cơ học theo y học cổ truyền là tổn thương Tỳ Thận; vì vậy Thầy Trương chủ trương bổ Tỳ ích Thận, thăng dương cố phát làm pháp trị chính. Ông đã biện lập phương Hoàng kỳ hợp phương gia giảm ứng dụng lâm sàng, tùy chứng bổ biến và đạt được hiệu quả tốt.
Phương gồm các vị như Hoàng kỳ, Phòng phong, Bạch truật, Thăng ma, Câu kỷ tử… đều là những vị tính vị ôn hòa, vừa bổ âm vừa bổ dương, không dùng các phương đại ôn đại táo. Giá thành thấp, tránh cho bệnh nhân phải dùng lâu dài các vị cay nhiệt có thể tổn thương âm và làm hại dương; đồng thời giảm gánh nặng tài chính cho người bệnh.
Thường phải cho bệnh nhân dùng thuốc liên tục trong khoảng 2 năm thì bệnh tình mới vào giai đoạn ổn định. Căn cứ vào từng biểu hiện lâm sàng cụ thể sẽ quyết định thời điểm ngừng thuốc hoặc chỉ duy trì uống 1 thang thuốc ngày. Hoàng kỳ hợp phương đã được ứng dụng lâm sàng hơn 20 năm; phần lớn bệnh nhân có cải thiện rõ rệt sau 6–12 tháng dùng thuốc, dần dần có thể giảm hoặc ngưng các thuốc Tây đã dùng như pyridostigmine và prednisone, và tỉ lệ tái phát tương đối thấp.

III . Y án điều trị
1. Trường hợp bệnh nhược cơ nặng – dạng cơ vận nhãn
1.1. Tuyến ức bình thường
Y án 1: Bệnh nhân: Nữ, 46 tuổi.
Ngày khám đầu tiên: 21/7/2009.
Triệu chứng chính: Sụp mí mắt hai bên kèm nhìn đôi trong 1 năm.
Tiền sử bệnh: Một năm trước, sau khi bị cảm, bệnh nhân bắt đầu xuất hiện sụp mí hai bên và nhìn đôi. Xét nghiệm chẩn đoán nhược cơ dương tính, điện cơ cho thấy biên độ điện thế giảm hơn 15% khi kích thích lặp lại. Tuyến ức hoàn toàn bình thường, được chẩn đoán là nhược cơ dạng cơ vận nhãn.
Bệnh nhân cho biết các triệu chứng nặng lên sau khi hoạt động, nhưng giảm khi nghỉ ngơi hoặc dùng thuốc pyridostigmine. Đã điều trị ở nhiều nơi, bệnh tiến triển lúc nhẹ lúc nặng. Hiện đang dùng pyridostigmine 2 viên/lần, 3 lần/ngày.
Khám hiện tại:
Hai mí mắt sụp, mức sụp tương đương từ vị trí 9 giờ đến 3 giờ, nâng mí yếu. Có nhìn đôi, không có rối loạn nhai hoặc nói.
Cảm giác khó chịu vùng dạ dày nhẹ, ăn uống và đại tiểu tiện bình thường, ngủ bình thường.
Lưỡi đỏ, rêu vàng mỏng, mạch vi trầm .

Chẩn đoán:
Tây y: Nhược cơ (dạng cơ vận nhãn).
Đông y: Chứng nuy do Tỳ Thận hư tổn.
Nguyên tắc điều trị: Bổ ích Tỳ Thận, thăng dương, nâng chính khí.
Đơn thuốc ban đầu (6 thang, sắc uống 1 thang/ngày): Hoàng kỳ 50g, Đương quy 15g, Phòng phong 10g, Sơn thù du 15g, Câu kỷ tử 15g, Hà thủ ô 15g, Sa sâm 25g, Ích mẫu 25g, Chỉ xác 15g.
Tái khám lần 2 (18/12/2009): Sau thời gian uống thuốc sắc, bệnh nhân cho biết sụp mí đã giảm rõ, nhìn đôi biến mất, nhưng có khó ngủ. Lưỡi đỏ, rêu mỏng trắng, mạch trầm huyền.
Đơn thuốc gia giảm (30 thang, sắc uống 1 thang/ngày): Giữ nguyên bài trên, thêm Toan táo nhân 25g, Dạ giao đằng 25g, Sơn dược sống 25g

Giải thích: Bệnh nhân mất ngủ do tâm thần không được nuôi dưỡng nên thêm Toan táo nhân và Dạ giao đằng để dưỡng tâm an thần, thêm Sơn dược để tăng cường bổ khí kiện Tỳ.
Tái khám lần 3 (22/1/2010): Bệnh nhân ổn định, sụp mí giảm rõ, nâng mí được gần bình thường (khoảng 11–2 giờ). Xuất hiện khô mắt, mệt mỏi, cơ giật nhẹ, phân lỏng, miệng khô. Lưỡi đỏ có rãnh, rêu mỏng trắng, mạch trầm. Vẫn dùng pyridostigmine 1 viên/lần, 3 lần/ngày.
Đơn thuốc mới (30 thang, sắc uống 1 thang/ngày): Bách hợp 30g, Sinh địa 15g, Long cốt sống 25g, Bạch thược 25g, Cam thảo 10g, Sa sâm 25g, Mạch môn 15g, Câu kỷ tử 15g, Sơn thù du 15g, Cúc hoa 15g, Xuyên khung 5g.
Giải thích: Bệnh nhân tuổi trung niên, bệnh lâu ngày khiến âm dương đều tổn hại, xuất hiện các biểu hiện khô mắt, khát nước. Dùng phương bổ âm như Bách hợp – Sinh địa để tư dưỡng âm dịch, ý nghĩa là trong âm cầu dương.

Kết quả điều trị:
Bệnh nhân kiên trì dùng thuốc liên tục 2 năm. Hiện tại không còn triệu chứng rõ rệt, đã ngưng pyridostigmine, sức khỏe ổn định và trở lại sinh hoạt, làm việc bình thường.
Ghi chú: Nhược cơ nặng đặc trưng bởi sụp mi một bên hoặc hai bên, yếu mềm tứ chi, buổi sáng nhẹ chiều tối nặng, tiến triển tăng dần, có khi kèm khó nuốt, nói khó rõ. Trong y lý cổ truyền, nó thuộc phạm vi rộng của chứng nuy. Bệnh sinh do thể chất bẩm yếu, hoặc lao lực quá độ, hoặc ăn uống và sinh hoạt thất điều làm tổn thương Tỳ Thận, lại gặp ngoại tà mà khiến cân mạch mất nuôi dưỡng; căn bản bệnh cơ yếu chủ yếu là do Tỳ và Thận hư.

Tỳ là gốc của hậu thiên, là nguồn sinh hóa khí huyết, cư ở trung tiêu, là trục của việc thăng giáng khí cơ. Nếu Tỳ khỏe thì Phế có nguồn tân dịch, Can Thận được dưỡng, các gân cơ và dây chằng được nhu dưỡng, các cơ quan hoạt động bình thường. Vì Tỳ chủ thăng và vận, nếu Tỳ hư khiến khí hạ thì mất sức nâng, vùng mặt trên thuộc Tỳ nên có thể gây mất lực nâng mặt dẫn tới sụp mí; nếu Tỳ Thận hư tổn kéo dài sẽ làm Can huyết thiếu, Thận tinh hao tổn, tinh thần thị giác kém, từ đó xuất hiện nhìn đôi. Do đó, điều trị cần tập trung bình bổ Tỳ Thận, thăng dương ôn bổ.

Bài thuốc này lấy Hoàng kỳ vị bổ khí kiện Tỳ làm chủ; phối hợp Câu kỷ tử và Hà thủ ô để bổ cả âm lẫn dương của thận làm thứ; kết hợp Bạch truật, Sa sâm, Sơn dược để kiện Tỳ và hành khí, dùng Đương quy làm tá; Ích mẫu để hoạt huyết; Toan táo nhân và Dạ giao đằng để dưỡng Tâm an thần; Chỉ xác có tính bổ mà không gây ứ trệ, làm cho toàn phương vừa có tác dụng bổ hòa Tỳ Thận, tăng cơ kiện lực, đồng thời có tác dụng thanh hư nhiệt và an thần, điều trị được cả gốc lẫn ngọn. Khi bệnh đã ổn định, nếu thấy tình trạng thiếu âm rõ rệt thì châm thêm pháp tư âm bổ dịch, tức là trong âm cầu dương nhằm khôi phục cân bằng âm dương cho cơ thể.
(ẢNH MINH HỌA)

20/11/2025

- BỆNH NHƯỢC CƠ -
THIÊN Y QUÁN DỊCH VÀ BIÊN SOẠN

I . Đại cương
Bệnh nhược cơ (Myasthenia Gravis, MG) là một bệnh tự miễn do kháng thể của cơ thể tấn công thụ thể acetylcholine tại màng sau synap ở chỗ nối thần kinh cơ, khiến sự dẫn truyền tín hiệu giữa thần kinh và cơ bị cản trở. Biểu hiện đặc trưng là cơ nhanh chóng mệt mỏi, yếu lực, đặc biệt ở các nhóm cơ như cơ vận nhãn, cơ nhai, cơ liên sườn, cơ tứ chi, sau vận động thì mệt rõ, xuất hiện sụp mi, khó nuốt, nặng có thể dẫn tới liệt hô hấp gây nguy hiểm tính mạng (gọi là cơn nhược cơ cấp).

Đặc điểm điển hình: buổi sáng nhẹ, chiều tối nặng, nghỉ ngơi hoặc dùng thuốc ức chế men cholinesterase thì triệu chứng tạm thời giảm hoặc hết. Tỉ lệ mắc bệnh khoảng 10–20/100.000 người.
Theo y học cổ truyền, bệnh này tương ứng với nhiều chứng khác nhau:
Nếu biểu hiện tay chân mềm yếu, vô lực, thuộc về chứng đàm trệ; Nếu sụp mi mắt là chính, thuộc chứng liệt mí (luyện phế); Nếu giọng nhỏ, nói không rõ, thuộc chứng ám á; Còn cơn nhược cơ cấp thì tương tự với chứng đại khí hạ hãm.
Tất cả đều nằm trong phạm vi Chứng nuy của Đông y.

Cơ chế bệnh theo y học cổ truyền:
Căn nguyên chủ yếu của bệnh là Tỳ Vị khí hư, Can Thận khuy tổn, khí huyết bất túc, Thận dương suy yếu, khiến gân cơ mất nuôi dưỡng mà thành.
Tỳ là hậu thiên chi bản, chủ vận hóa thủy cốc, sinh hóa khí huyết, lại chủ cơ nhục và tứ chi.
Nếu Tỳ Vị vốn yếu, hoặc bệnh lâu ngày tổn thương trung tiêu, hoặc lao lực quá độ khiến Tỳ khí hư suy, thì vận hóa kém, sinh khí huyết không đủ, cơ nhục không được nhu dưỡng sinh ra mỏi yếu, sụp mi, tứ chi vô lực, thậm chí khó thở.
Thận là tiên thiên chi bản, tàng tinh sinh tủy; Tỳ là hậu thiên chi nguyên, hóa sinh khí huyết.
Nếu Thận dương hư, không ôn ấm được Tỳ dương → tỳ dương bất chấn, vận hóa kém → tinh vi thủy cốc không sinh khí huyết → gân cơ thiếu dưỡng, tứ chi mềm yếu, nuy nhược vô lực.
Can tàng huyết, chủ cân; thận tàng tinh, chủ cốt.
Tinh huyết sung túc giúp cân cốt cường kiện; Nếu bệnh lâu, thể hư, thương Can Thận, hoặc âm hư sinh nội nhiệt, âm tinh bị thiêu đốt dẫn đến tinh huyết khuy tổn, cân nhục thất dưỡng → cơ mềm yếu, run rẩy.

Khí là soái của huyết, huyết là mẫu của khí.
Con người sống nhờ khí huyết; khí huyết sung mãn thì cơ nhục được nuôi dưỡng, thân thể mạnh khỏe. Nếu bẩm tố bất túc hoặc Tỳ Vị suy yếu hậu thiên, khiến khí huyết hư tổn, vận hành không thông, thì cơ nhục không được nhu dưỡng → mềm yếu, teo nhỏ.

Tổng luận:
Tổng hợp lại, bệnh nhược cơ do Tỳ, Thận, Can hư tổn, khí huyết hao suy, cơ nhục mất dưỡng mà thành; trong đó, khí hư là căn bản, Tỳ Thận là chủ bệnh, còn Can huyết bất túc là hệ quả.
Bệnh vị chủ yếu ở cơ nhục, liên quan chặt chẽ đến Tỳ, Thận, Can;
Bệnh tính lấy hư làm chủ, hư trung kiêm có đàm, ứ, hoặc nhiệt, tùy chứng mà biện trị.
Bệnh khởi phát thầm lặng, thường bắt đầu từ một nhóm cơ rồi dần lan đến nhiều nhóm cơ, cũng có khi khởi phát đồng thời ở nhiều nơi. Giai đoạn đầu thường biểu hiện Tỳ Vị suy nhược, trung khí bất túc. Lâm sàng hay gặp sụp mi, nhìn đôi, mệt mỏi yếu sức, chán ăn, đầy bụng, tiêu lỏng…; trong điều trị cần lấy pháp thăng dương hoặc ôn thăng để khắc phục hiện tượng sa hạ. Nếu Tỳ Vị suy yếu kéo dài khiến khí huyết sinh hoá thiếu nguồn, Can Thận tinh huyết không được bổ dưỡng thì dẫn đến Can Thận tinh huyết tổn thương, cân mạch cơ nhục mất dưỡng; lâm sàng thường kèm theo triệu chứng yếu cơ kèm lưng gối mỏi nhức, chóng mặt, ù tai… lúc này nên dùng pháp bổ ích Can Thận.

Tỳ hư kéo dài có thể ảnh hưởng đến thủy dương của thận, hoặc căn bản đã thiếu dương Thận khiến Tỳ dương mất khả năng ôn chuyển, gây Tỳ Thận dương hư; biểu hiện lâm sàng là Tỳ Thận dương hư, trị nên ôn bổ Thận dương. Nếu bệnh lâu không khỏi đến mức Tỳ khí hư cực và trung khí thoát hạ, sẽ xuất hiện khó thở, đàm dãi ứ trệ, toát mồ hôi như mưa những chứng thuộc về biểu hiện nguyên dương sắp thoát. Trong những trường hợp đó ngoài bổ khí hồi dương, củng cố thoát, cần phối hợp y học hiện đại để cấp cứu tích cực. Về phân loại lâm sàng hiện có những quan điểm chính như: Tỳ Vị khí hư, khí âm lưỡng hư, Tỳ Thận dương hư, Can Thận âm hư, và nguyên dương sắp thoát.
Trên cơ sở kế thừa và tổng kết kinh nghiệm xưa, bác Trương cho rằng bệnh phát sinh do thể chất bẩm yếu, hoặc do lao lực quá độ, hoặc do ăn uống rượu chè thất điều làm tổn thương Tỳ Thận, rồi lại cảm phải ngoại tà khiến cân mạch mất nuôi dưỡng, gốc bệnh chủ yếu là Tỳ Thận hư tổn. Ông lý giải: Tỳ là gốc của hậu thiên, nguồn sinh hoá khí huyết, đóng tại trung tiêu, là trục chủ yếu của thăng giáng khí cơ. Nếu Tỳ vững thì Phế có nguồn tân dịch, Can Thận được tư dưỡng, tông cân được nhờ, các cơ quan hoạt động thuận lợi. Vì Tỳ chủ thăng và vận, nếu Tỳ hư khí hạ thì không còn sức thăng; mí mắt thuộc về hành động thăng, Tỳ suy có thể gây mất lực nâng mí dẫn tới sụp mi; Tỳ chủ cơ nhục tứ chi, Tỳ hư khiến công năng sinh hoá nuôi dưỡng thiếu, do đó bốn chi teo yếu, không thể động dụng.

Bệnh Tỳ cũng có thể liên lụy tới Thận, như sách luận Tỳ Vị đã nêu: Tỳ bệnh thì khí hạ xuống Thận, thổ khắc thủy khiến xương yếu không lực. Thận là gốc của tiên thiên, chủ tàng tinh, chủ sinh cốt tuỷ; Thận trung có nguyên âm nguyên dương để nuôi dưỡng tứ chi và xương khớp, ôn dưỡng Tỳ thổ. Nếu Thận hư thì ngũ tạng mất sự nuôi dưỡng, cân cốt không dùng được. Vì vậy chức năng bình thường của cân mạch dựa vào sự ôn dưỡng và tư dưỡng của khí huyết, âm dương của Tỳ Thận. Về sinh lý hai tạng hỗ trợ lẫn nhau, về bệnh lý là nhân quả tương liên: “Tỳ khí hư thì vô lực để vận động, Thận khí hư thì tinh hư không thể tư dưỡng”; nói cách khác “Tỳ dương khởi nguyên từ Thận dương”, tinh khí trong thận cũng cần dựa vào tinh vi của ngũ cốc để được nuôi dưỡng. Nếu một bên hư tổn, tất sẽ ảnh hưởng sang bên kia, dẫn đến Tỳ Thận lưỡng hư và cơ nhục mất dưỡng. Tỳ thận hư tổn có thể kéo theo nhiều biến đổi trên ngũ tạng.
Do đó Thầy Trương kết luận Tỳ Thận hư tổn là căn bản bệnh lý xuyên suốt trong toàn bộ tiến trình của bệnh nhược cơ nặng.

Address

Ấp 1, Bưng Riềng, Xuyên Mộc, BRVT
Xuyen Moc
78500

Telephone

0902660022

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Biển Thước Đại Y posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Contact The Practice

Send a message to Biển Thước Đại Y:

Share

Share on Facebook Share on Twitter Share on LinkedIn
Share on Pinterest Share on Reddit Share via Email
Share on WhatsApp Share on Instagram Share on Telegram

Category