12/05/2022
🦠 CẬP NHẬT: "KÝ SINH TRÙNG" GIUN SÁN: "TRẺ TRÊN MỘT TUỔI" LÀ ĐỦ TUỔI XỔ, ĐỪNG ĐỂ TRẺ CÒI CỌC BIẾNG ĂN, THIẾU MÁU CHỈ VÌ QUÊN "TẨY GIUN"
Nhiễm ký sinh trùng (KST) là vấn đề có thể gặp ở mọi đối tượng và mọi nơi trên thế giới. Việt Nam là một quốc gia có khí hậu nóng ẩm, dân số đông đúc và điều kiện môi trường vệ sinh có phần hạn chế, đây là điều kiện lý tưởng cho sự phát triển của nhiều loại KST khác nhau. Cùng Bệnh Viện Nhi Đồng Thành Phố tìm hiểu về đặc điểm và cách phòng tránh những loại giun phổ biến cho trẻ, hiểu rõ về những “kẻ xâm lược” tí hon này và cách nhận biết, "xử trí" từng loại bọn chúng nhé.
✅ Ký sinh trùng là gì?
KST là một khái niệm rất rộng. Được dùng để chỉ các loài phải sống dựa trên cơ thể vật chủ. Có thể hiểu đơn giản là chúng vừa “sống bám”, vừa “giành ăn” hoặc trực tiếp “ăn” cơ thể chúng sống. Gồm có nhiều loài khác nhau như: Giun, sán, nấm, côn trùng, amip, chấy rận, ghẻ,…
Ở nước ta có tới 40-80% trẻ em bị nhiễm giun, sán đường ruột tùy vùng. Bài viết sẽ tập trung vào phân biệt và tập trung điều trị các loại giun thường gặp nhất
🦠 1. Giun đũa: "Giun đại ca, thích la cà, dễ tắc ruột"
Cư trú ở ruột non, giun cái đẻ trứng, trứng theo phân ra ngoài gây ô nhiễm nước, đất cát... khi ăn phải trứng giun, trứng vào ruột nở thành ấu trùng rồi di chuyển vào phổi lên khí quản, qua thực quản xuống ruột non trở thành giun trưởng thành.
Trẻ bị nhiễm giun đũa thường đau bụng vòng quanh rốn, nôn ra giun, đi cầu ra giun và hay bị rối loạn tiêu hóa. Khi quá nhiều giun ở ruột có thể gây tắc ruột do búi giun, viêm ruột thừa, viêm phúc mạc do thủng ruột hoặc giun di chuyển vào đường gan mật viêm đường mật, giun chui ống mật, áp-xe gan.
🦠 2. Giun kim: "khóc đêm, ngứa dai dẳng"
Cư trú ở ruột già, giun cái đẻ trứng vào ban đêm ở hậu môn. Trứng có ấu trùng vào ruột phát triển thành giun trưởng thành. Đường lây nhiễm từ hậu môn vào miệng qua bàn tay, quần áo, giường chiếu. Nhiễm giun kim hay gặp ở trẻ nhỏ, ban đêm trẻ thường khó ngủ, hay quấy khóc do ngứa hậu môn và thường xuyên bị rối loạn tiêu hóa, phân lỏng đôi khi có lẫn máu và chất nhầy. Do ngứa nên trẻ gãi nhiều sẽ làm hậu môn xây xát dễ nhiễm khuẩn. Có thể phát hiện thấy giun kim ở hậu môn vào buổi tối khi trẻ ngứa hoặc tìm trứng giun kim trong phân.
🦠 3. Giun tóc: "nhỏ nhưng có vỏ, đau bụng, mót rặn, tiêu nhầy máu.."
Cư trú ở ruột già. Đường lây nhiễm là sau khi ăn phải trứng có ấu trùng, trứng này theo thức ăn nước uống vào ruột, ấu trùng thoát vỏ rồi trở thành giun trưởng thành sống ở ruột già. Khi nhiễm nhiều giun tóc thì mới có biểu hiện rõ các dấu hiệu như đau bụng, buồn nôn, rối loạn tiêu hóa. Nếu nhiễm nặng sẽ làm tổn thương niêm mạc ruột già gây hội chứng lỵ. Trẻ đau bụng, mót rặn, đi ngoài nhiều lần phân ít có chất nhầy lẫn máu, nặng hơn có thể gây trĩ sa trực tràng.
🦠 4. Giun móc "ác thủ hút máu"
Cư trú ở đoạn trên ruột non, miệng bám vào niêm mạc ruột để hút máu, trung bình một con giun móc có thể hút 0,2ml máu/ngày. Giun cái đẻ trứng, trứng theo phân ra ngoài nở thành ấu trùng. Ấu trùng vào máu lên phổi rồi xuống ruột non trở thành giun trưởng thành. Đường lây nhiễm giun móc do ấu trùng chui qua da hoặc đường miệng do ăn phải ấu trùng từ rau sống, tay bẩn, đất cát...
Nhiễm giun móc hay gặp ở trẻ em lớn sống ở vùng nông thôn do tiếp xúc nhiều với đất cát, phân bón… Khi ấu trùng chui qua da thì tại chỗ cơ thể hay thấy nốt hồng ban dị ứng hoặc các mụn nhỏ và ở giai đoạn ấu trùng qua phổi thì xuất hiện ho, ngứa họng, viêm họng. Trẻ nhiễm giun móc thường mệt mỏi, chán ăn, đau bụng, đau vùng thượng vị hoặc quanh rốn đau âm ỉ, đau cả lúc no, lúc đói, táo bón, đi ngoài phân đen, chóng mặt, ù tai, da xanh, thiếu máu. Nếu không điều trị dần dần trẻ bị thiếu máu nặng và có thể tử vong do suy tim.
🦠 XỬ TRÍ KHI BỊ NHIỄM GIUN
Khi trẻ có biểu hiện đau bụng, chậm tăng cân, biếng ăn, nôn ra giun, đi ngoài ra giun, ngứa hậu môn… hoặc xét nghiệm phân có nhiều trứng giun thì tẩy giun cho trẻ. Sử dụng loại thuốc tẩy giun có tác dụng trên nhiều loại giun, ít độc, ít tác dụng phụ. Thuốc tẩy giun dùng cho trẻ em từ 12 tháng tuổi đến dưới 24 tháng tuổi là Albendazole 200 mg hoặc Mebendazole (Fugacar, vermox) 500 mg liều duy nhất. Người từ 24 tháng tuổi trở lên là Albendazole (Zentel) 400 mg hoặc Mebendazole 500 mg liều duy nhất. Uống buổi tối và sau ăn no thường dung nạp tốt và dễ chịu với bé.
Với một số trường hợp cụ thể, tùy vùng dịch tễ và loại giun mắc phải, bác sĩ có thể cho dùng nhắc lại sau một tháng hoặc một số thuốc đặc trị khác theo chỉ định
🦠 PHÒNG TRÁNH NHIỄM GIUN
Tăng cường vệ sinh cá nhân và môi trường: cho cả trẻ và người chăm sóc trẻ. Tẩy giun định kỳ cho trẻ trên 1 tuổi 6 tháng/lần, nhất là trẻ em tuổi học đường.
- Bệnh viện Nhi đồng Thành phố
-------
Dược sĩ Hằng Zkid - Đồng hành chăm sóc bé